I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị luận xã hội là một trong hai kiểu bài nghị luận trong bộ môn Ngữ Văn
ở nhà trường phổ thông. Nếu nghị luận văn học giúp học sinh nâng cao năng lực
cảm thụ tác phẩm văn học, đưa ra những ý kiến đánh giá về các vấn đề văn học
để từ đó bồi đắp thế giới tâm hồn, tình cảm của mình thì nghị luận xã hội lại
giúp học sinh khả năng đưa ra ý kiến, suy nghĩ của bản thân mình trước những
hiện tượng đời sống, trước các vấn đề xã hội, những tư tưởng đạo lý để từ đó
hình thành ý thức công dân và nhân cách con người. Chất lượng của việc dạy và
học làm văn nghị luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng giáo
dục đạo đức học sinh trong nhà trường. Học sinh ngày nay phải đối mặt với rất
nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Sự phát triển của kinh tế, khoa học, công nghệ
dẫn đến những thay đổi về giá trị, quan điểm, lối sống, đạo đức. Chính vì thế, đề
văn nghị luận xã hội cũng phải đề cập được những vấn đề mới mẻ, phức tạp
thường xuyên xuất hiện trong đời sống nói chung và đời sống, tình cảm của học
sinh nói riêng để các em được bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình. Mỗi thời
đại, mỗi thế hệ thậm chí là mỗi ngày lại có những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới
trong công tác giáo dục học sinh.(1)
Đầu năm học 2016- 2017 với những yêu cầu trong đổi mới và nâng cao
chất lượng giáo dục quốc gia toàn diện trong lộ trình đổi mới giáo dục Bộ giáo
dục và đào tạo đã thay đổi một số nội dung trong đề thi THPT Quốc gia môn
Ngữ Văn chuyển thời lượng từ 180 phút xuống còn 120 phút với cấu trúc 2 phần
Đọc – hiểu và Làm văn (nghị luận xã hội và nghị luận văn học). Câu nghị luận
xã hội chuyển từ yêu cầu viết bài văn thành đoạn văn 200 chữ. Sự thay đổi này
là một thực tế yêu cầu phải có những nắm bắt kịp thời cả về phía người thầy cô
và học sinh dặc biệt là các em học sinh lớp 12 trong một khoảng thời gian ngắn
để đạt được kết quả tốt nhất khi làm bài thi Ngữ Văn trong kì thi THPT Quốc
gia. Việc thay đổi này đối với các em học sinh trong nhà trường đặc biệt là với
các em học sinh khối 12 chuẩn bị bước vào kì thi cuối cấp, khiến các em gặp
nhiều khó khăn trong quá trình học và làm bài. Có không ít giáo viên dạy Ngữ
văn và học sinh ngộ nhận đoạn văn là một bài văn ngắn, điều này dẫn tới kết quả
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
2
II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,
ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”(1). Để thực hiện tốt mục
tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần
có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng này.
Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết
29/NQ-TW, Bộ GD&ĐT đã “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập
môn Ngữ văn trong trường phổ thông” nhằm kế hoạch triển khai việc đổi mới
phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông
theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề
thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết
vấn đề thực tiễn.
có sự quan tâm và đầu tư cho dạng bài nghị luận xã hội để giúp các em học sinh
có thể nắm vững vấn đề và làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội trong các bài thi, kì
thi.
2.2 Khó khăn
2.2.1. Về phía học sinh
Nhiều học sinh có thể làm tốt bài văn nghị luận văn học nhưng lại rất lúng
túng trước vấn đề nghị luận xã hội hoặc không hứng thú khi viết đoạn văn nghị
luận xã hội, trong bài thi điểm số cho câu nghị luận xã hôi thường thấp. Có
nhiều lí do, tuy nhiên có thể khái quát mấy nguyên nhân sau:
Học sinh chưa nắm vững kĩ năng làm văn nghị luận xã hội, chưa biết vận
dụng tổng hợp các thao tác lập luận trong quá trình viết bài. Nhiều học sinh
thậm chí còn chưa nhận diện, phân biệt được các dạng bài nghị luận xã hội.
Thêm nữa bản thân học sinh chưa có thói quen thường xuyên tích lũy kiến thức
về những vấn đề cấp thiết mang tích thời sự và có ý nghĩa trong cuộc sống cho
nên không có kiến thức để lí giải tốt các vấn đề nghị luận xã hội.
Dạng đề thi mới trong năm học 2016- 2017 đã thay đổi về cách ra đề. Đề
bài yêu cầu bàn luận / đánh giá về một vấn đề được đặt ra trong phần Đọc - hiểu.
Có những đề yêu cầu dựa vào nội dung ở phần Đọc - hiểu, anh (chị) hãy viết
đoạn văn 200 chữ bàn về… Hoặc có những đề trích dẫn một câu văn và yêu cầu
học sinh bàn luận,… Học sinh chỉ có thể làm tốt phần nghị luận xã hội khi đã
hiểu thông điệp của văn bản ở đề đọc hiểu và câu văn được trích dẫn. Trong khi
đó với nhiều học sinh việc thông hiểu hết nội dung đọc hiểu là điều không thể
bởi có những hạn chế trong kĩ năng đọc hiểu một văn bản, điều này dẫn tới khó
khăn khi các em viết phần nghị lận xã hội.
4
Hơn nữa câu nghị luận xã hội trong đề thi THPT Quốc gia bị giới hạn về
dung lượng. Trước đây học sinh viết bài văn nghị luận, nhưng hiện nay chỉ cần
1,25 – 2,75
3,0 – 4,75
5,0 – 6,75
7,0 – 8,75
9,0 - 10
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
11,4
12A4
35
0
0
3
8,6
7
20
20
57,1
5
14,3
0
0
33
1
3,0
3
3,0
9
27,2
12
36,3
7
21,1
1
3,0
3. Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12 làm tốt bài văn nghị luận 200
chữ trong đề thi THPT Quốc gia
3.1. Ôn tập kiến thức về đoạn văn giúp học sinh phân biệt giữa hình
thức của một bài văn và đoạn văn
- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.
- Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó
giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.
- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội
dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.
- Lưu ý : Tránh sa vào cắt nghĩa từ ngữ (theo nghĩa từ vựng).
* Bước 2: Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng, đạo lí
cần bàn luận
- Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để
làm sáng tỏ tới cùng bản chất của vấn đề. Phần này thực chất là trả lời câu hỏi:
Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được biểu hiện như thế nào? Có thể lấy những dẫn
chứng nào làm sáng tỏ?
* Bước 3: Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…)
- Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp –
hạn chế của vấn đề.
- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn
luận
- Mở rộng vấn đề
* Bước 4: Rút bài học nhận thức và hành động
- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như
trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm, …(Thực chất
trả lời câu hỏi: từ vấn đề bàn luận, hiểu ra điều gì? Nhận ra vấn đề gì có ý nghĩa
đối với tâm hồn, lối sống bản thân?...)
- Bài học hành động
6
+ Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ thể (Thực
chất trả lời câu hỏi: Phải làm gì? …)
C. Kết bài
* Bước 4: Đề xuất những giải pháp (Cần dựa vào nguyên nhân để tìm ra
những giải pháp khắc phục).
7
- Những biện pháp tác động vào hiện tượng đời sống để ngăn chặn (nếu
gây ra hậu quả xấu) hoặc phát triển (nếu tác động tốt)
+ Đối với bản thân; Đối với địa phương, cơ quan chức năng; Đối với xã
hội, đất nước; Đối với toàn cầu.
C. Kết bài:
- Tóm tắt, chốt lại vấn đề.
- Rút ra bài học.
3. 3. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn có độ dài 200 chữ theo yêu cầu của đề
3.3.1. Bước 1: Xác định và đáp ứng các yêu cầu đề
3.3.1.1. Xác định yêu cầu nội dung
Hiện nay theo xu hướng ra đề mới của Bộ GD&ĐT thì đề văn NLXH có sự
tích hợp với phần Đọc – hiểu . Vì vậy các em cần phải:
Thứ nhất: Phải xác định được Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung
của đoạn văn). Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏ
quan điểm cá nhân rõ ràng. Cụ thể: Người viết hiểu vấn đề đó là gì (giải thích),
tại sao lại nói như thế (phân tích).
Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trong
đời sống.
Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bàn
luận. Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận. Từ đó, đề xuất
những giải pháp thiết thực và khả thi cho bản thân mình và tất cả mọi người.
Đối với dạng “đề nổi”, học sinh có thể dễ dàng nhận ra phạm vi nội dung
và phương pháp lập luận. Đối với dạng đề chìm, học sinh phải tự mày mò hướng
đi. Ví dụ:
sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, ví dụ như đề thi minh họa của Bộ
GD (sẽ nói kĩ ở phần sau).
3.3.1.2. Xác định các yêu cầu hình thức trình bày đoạn văn
Thứ nhất: Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bày
trong 1 đoạn văn (không được ngắt xuống dòng), dung lượng an toàn khoảng
2/3 tờ giấy thi (khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòng
cũng không bị trừ điểm. Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ, đặt câu.
Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần: Đặt vấn đề – Giải quyết
vấn đề – Kết thúc vấn đề.
Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích –
Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ – Bình luận mở rộng. Diễn đạt phải trong
sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
(Giáo viên có thể gợi ý để học sinh khá giỏi chọn kiểu đoạn văn nên chọn
kiểu đoạn văn tổng phân hợp còn với những học sinh trung bình thì nên viết
đoạn diễn dịch sẽ đễ dàng hơn)
3.3.2. Bước 2: Tìm ý cho đoạn văn
– Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)?
– Ghi ra giấy nháp những ý chính của đoạn văn (theo hệ thống các thao tác
lập luận).
– Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp ta hình dung được những ý chính cần
viết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng, không trọng tâm.
3.3. Xây dựng các phần cho đoạn văn
9
a. Mở đoạn
- Nhiệm vụ: Câu mở đoạn là câu nêu chủ đề, giới thiệu khái quát chủ đề
của đoạn văn
- Yêu cầu:
câu để diễn đạt ý hiểu thành câu chặt chẽ như: Vấn đề này là gì? Hiểu như thế
nào? Biểu hiện của vấn đề? Tại sao lại hiểu như vậy?)
c. Kết đoạn
10
- Nhiệm vụ: Khẳng định vấn đề
- Yêu cầu: ngắn gọn, khoảng 2 dòng
- Định hướng
+ Liên hệ bản thân.
+ Có thể kết bằng một câu châm ngôn, một danh ngôn, một nhận định của
người nổi tiếng,...
* Giáo viên có thể làm một đối sánh để học sinh hình dung rõ hơn về cấu
trúc của bài văn sang cấu trúc đoạn văn sau:
Bài văn nghị luận 400 chữ hoặc 600 Cấu trúc đoạn 200 chữ theo yêu cầu
chữ
đề thi
- Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị – Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (khoảng
luận( Tùy theo khả năng của từng học 2 – 4 dòng).
sinh viết, có thể khoảng 1/3 trang – Các câu phát triển đoạn: (12 – 16
giấy).
dòng).
- Thân bài: Triến khai theo cấu trúc của
Vận dụng các thao tác:
dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo + Giải thích (Câu nói nêu lên vấn đề
lí hay nghị luận về một hiện tượng đời gì?)
sống hoặc vấn đề xã hội đặt ra trong + Lí giải (Vì sao lại nói như thế?)
tác phẩm văn học. Có thể viết thành + Dẫn chứng (Họ đã làm thế nào?)
nhiều đoạn khác nhau, vận dụng tổng + Bình luận (Vấn đề đúng hay sai hay
hợp các thao tác lập luận.
nghiêm túc, tránh cách nói sáo mòn, gượng ép, giả tạo, “công thức”
3.4. Thực nghiệm
Thực hành là bước quan trọng nhất trong việc làm bài văn nói chung và
làm văn nghị luận xã hội nói riêng. Thông qua thực hành giúp học sinh rèn luyện
các kĩ năng: tư duy biện chứng, cách tìm hiểu đề, lập dàn ý và rèn luyện kĩ năng
dùng từ, đặt câu trong quá trình hoàn thiện đoạn văn. Ở đây gắn với nội dung
nghị luận giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hành hai dạng đề nghị luận cơ
bản để học sinh hiểu rõ vấn đề hơn.
4.1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
4.1.1. Phân loại
Đề bài thường trích một câu trong đọc hiểu để yêu cầu thí sinh bày tỏ ý
kiến, bàn luận. Cũng có những đề bài không trích dẫn câu văn mà trực tiếp nên
luận đề (ví dụ bàn luận về hạnh phúc hay vai trò của ước mơ trong cuộc sống).
Ngoài việc nắm vững kĩ năng đọc hiểu để thông hiểu nội dung văn bản, các
em nên ôn tập theo chủ đề. Các vấn đề từ câu nói thường yêu cầu bàn luận như:
+ Nhận thức: lí tưởng, khát vọng, niềm đam mê, mục đích sống…
+ Phẩm chất: lòng yêu nước, tính trung thực, lòng dũng cảm, sự khiêm tốn,
sự tự học, lòng ham hiểu biết, sự cầu thị…
+ Quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình anh em…
+ Quan hệ xã hội: tình bạn, tình thầy trò, tình đồng bào…
+ Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: lòng nhân ái, thái độ hòa
nhã, sự vị tha…
+ Các tư tưởng lệch lạc, tiêu cực: ích kỉ, thực dụng, dối trá, hèn nhát…
4.1.2. Cấu trúc chung của đoạn văn
A. Mở đoạn (khoảng 2 dòng)
- Dẫn dắt vào vấn đề
- Trích dẫn câu nói.
B. Thân đoạn (12- 16 dòng) Giải – Nguyên – Minh – Luận – Dụng
- Bước 1: Giải thích ý nghĩa câu nói/ vấn đề.
12
tích cực.
- Bước 5: Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học nhận
thức và hành động (Cần phải làm gì?)
Yêu cầu:
+ Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu bàn luận.
+ Bài học cần chân thành, giản dị, hướng tới tuổi trẻ, không sáo rỗng, hình thức.
+ Nên rút ra hai bài học, một bài học về nhận thức, một bài học về hành động.
C. Kết đoạn (Khoảng 3 dòng)
Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người.
13
Lưu ý : Có những dạng “đề nổi”, xác định rõ phạm vi nội dung bài viết.
Các em cần xác định rõ đâu là luận điểm chính, đâu là luận điểm phụ, không
phải tất cả các bước đều triển khai dung lượng như nhau.
=> Sơ đồ hóa cấu trúc đoạn
Dẫn dắt - giới
thiệu vấn đề
MỞ
ĐOẠN
Nêu tư tưởng
đạo lí
Giải thích vấn
đề
- Bài học hành động: rút ra hành
động cụ thể cho bản thân
( khoảng 3 dòng )
4.1.3. Đề bài minh họa 1: Đề thi minh họa năm 2017 của Bộ giáo dục
Từ những kiến thức đã có, tôi đã hướng dẫn học sinh thực hành các đoạn
văn theo cấu trúc đề thi của Bộ
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về câu nói: “Leo lên đỉnh
cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các
em”.
14
( Trích đề minh họa lần 1 của Bộ giáo dục) (7)
Gợi ý: Nhìn từ đề bài có thể thấy đề bài yêu cầu nghị luận trích dẫn nguyên
một ý kiến lấy từ đoạn trích trong phần đọc hiểu. Đối với dạng đề này các em
cần đọc kĩ phần đọc hiểu, xác định vị trí của câu nói để dẫn dắt nội dung phù
hợp.
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề
(Thầy hiệu trưởng … đã có câu nói: “Leo lên … các em.”)
- Phát triển đoạn:
+ Giải thích câu nói: (Câu nói khẳng định điều gì?)
(“Leo lên đỉnh núi cao” có thể hiểu là sự chinh phục những thử thách, chiếm
lĩnh những tầm cao của con người chúng ta. Còn “nhìn ngắm thế giới” là sự quan
sát, phát hiện sự lớn lao cũng như tận hưởng những vẻ đẹp của thế giới, của cuộc
sống xung quanh. “Thế giới nhận ra các em” nghĩa là sự ghi nhận của mọi người.
Câu nói của thầy hiệu trưởng đã khẳng định thái độ đúng đắn của con người khi
vươn tới tầm cao, đạt được mục đích lớn lao: không phải để khẳng định thành tích
mà là phải xem đó là cơ hội để trải nghiệm, nhìn ngắm thế giới ở tầm cao hơn, rộng
hơn, khái quát hơn .)
Thật đáng chê trách những người không biết đặt ra những “đỉnh cao”,
những mục tiêu cho bản thân mình. Những con người ấy sống cuộc sống như vô
nghĩa, không chút cầu tiến, không chút tương lai. Cũng thật đáng phê phán
những ai xem việc chinh phục đỉnh cao chỉ nhằm để khẳng định mình trước
thiên hạ mà không vì mục tiêu chung cho mọi người.
– Kết đoạn: Bài học với bản thân.
(Câu nói của thầy hiệu trưởng đã cho tôi một bài học vô cùng sâu sắc. Bản
thân tôi phải đặt ra mục tiêu cho chính mình và tôi cũng nghĩ rằng, chỉ có bản thân
mình mới có thể hiểu được giá trị của những mục tiêu đó. Tôi không cần người
khác đánh giá mà chỉ cần tôi hiểu được giá trị của chính mình – những điều tôi
đang theo đuổi. Tất cả những điều đó cho tôi và cho tất cả chúng ta một cuộc sống
tuyệt vời.)
4. 2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
4.2.1. Phân loại
Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học thành tài…
Các hiện tượng tiêu cực trong đời sống: ô nhiễm môi trường, thực phẩm
bẩn, tai nạn giao thông, gian lân trong thi cử…
Các hiện tượng hai mặt: đam mê thần tượng, du học rồi ở lại nước ngoài,
mạng xã hội…
4.2.2. Cấu trúc chung của đoạn
A. Mở đoạn
- Dẫn dắt vào hiện tượng.
- Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng.
B. Thân đoạn Thực – Nguyên – Thái – Biện – Liên.
- Bước 1: Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đời
sống (Nó như thế nào?)
- Bước 2: Nêu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Nguyên nhân khách
quan và chủ quan; Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp).
- Bước 3: Nêu thái độ đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết
quả – hậu quả, biểu dương – phê phán.
KẾT
ĐOẠN
Bài học nhận
thức và hành
động
tượng đời sống
- Nêu biểu hiện cụ thể của hiện
tượng (Nêu dân chứng nhưng
không phân tích)
- Chỉ ra nguyên nhân, tác hại mà
hiện tượng gây ra cho đời sống
con người
- Mở rộng, phản đề
- Bài học nhận thức: khẳng định
đây là hiện tượng cần phê phán
hay biểu dương
- Bài học hành động: rút ra hành
động cụ thể cho bản thân
(khoảng 3 dòng )
4.2.3. Đề bài minh họa
Nhiều chuyên gia cho rằng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng
xã hội đang làm lo ngại về sự bùng phát của “đại dịch ái kỉ” (bệnh tự yêu mình)
mà việc tự chụp ảnh và đếm “like” cho những thông tin của mình trên những
trang mạng xã hội chỉ là một biểu hiện.
17
+ Hơn nữa, hiện tượng này dẫn đến tình trạng con người thiếu khả năng
kiểm soát những ham muốn của bản thân nên có những hành động bất thường
chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mình: ăn mặc như nhân vật mình tưởng tượng,
mua sắm vật dụng cá nhân đắt tiền để chạy theo phong trào, dễ sa ngã…
+ Thậm chí, đây cũng là một tâm lí dẫn đến tỉ lệ tử vong cao.
- Giải pháp và bài học:
+ Mỗi cá nhân cần ý thức được ranh giới giữa thế giới ảo và thực để biết
cân bằng cuộc sống.
18
+ Gia đình, nhà trường và xã hội cần có những biện pháp hỗ trợ giúp đỡ,
định hướng cho các thành viên trong cộng đồng, nhất là giới trẻ để mỗi cá nhân
có cuộc sống thật lành mạnh, hài hòa với xã hội.
C. Kết đoạn
Đây là hiện tượng tiêu cực do mạng xã hội gây ra nên cần ngay lập thức
chấn chỉnh, thay đổi để mỗi cá nhân có cuộc sống cân bằng, lành mạnh.
3. 5. Hướng dẫn hoàn thiện đoạn văn
Có thể khẳng định đây là bước quan trọng nhất của làm văn, vì nó là bước
hoàn thiện sản phẩm. Chính vì vậy, giáo viên và học sinh tập trung đầu tư thời
gian cho việc hướng dẫn và thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội.
- Sau khi lập xong dàn ý, học sinh sẽ dựa vào dàn ý đã xây dựng để viết
hoàn thiện đoạn văn. Điều quan trọng là học sinh phải tìm được cách diễn đạt
trong sáng, cách trình bày lí lẽ, dẫn chứng sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lôgic, mà
chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Dung lượng khoảng 2/3- 1 trang giấy.
- Phần lớn thời gian trên lớp cho phần thực hành không nhiều, cho nên giáo
viên cần hướng dẫn và lưu ý cặn kẽ với học sinh, cho các em về nhà làm bài và
kiểm tra chấm trả bài cho các em chi tiết để nâng cao khả năng hoàn thiện đoạn
văn cũng như thực hành văn nghị luận xã hội.
5,0 – 6,75
7,0 – 8,75
9,0 - 10
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
35
0
0
0
0
1
2,9
26
75,4
8
23,2
0
0
12A5
33
0
0
0
1
3,0
24
72
8
22
1
3,0
Từ số liệu khảo sát có thể thấy “Một số giải pháp giúp học sinh khối 12
làm tốt bài nghị luận xã hội viết đoạn văn 200 chữ trong đề thi THPT Quốc
gia” đã góp phần giúp các thầy cô giáo và các em học sinh khối 12 của nhà
trường có được hiệu quả tốt trong việc ôn tập văn nghị luận xã hội nói chung
và câu nghị luận xã hội 200 chữ trong bài thi THPT Quốc gia nói riêng. Đó
cũng là động lực cho quá trình giảng và học tập bộ môn Ngữ văn ở nhà
trường THPT.
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
1. Nghị Quyết số 29-NQ/TW, BCH TW Đảng khóa XI
2. Ngữ Văn 12 Tập 1 NXB Giáo dục
3. Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội ( Trần Đình Sử chủ biên) NXB Giáo
dục 2009
4. Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Ngữ Văn( Phần Nghị luận xã hội), NXB
Đại học sư phạm.
5. wed thutrang.edu.vn
6. Trang tuyensinh247.com
7. Nguồn: http://dantri.com.vn
8. Nguồn: http://vietnamnet.vn
22
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 12 LÀM TỐT BÀI NGHỊ
LUẬN 200 CHỮ TRONG BÀI THI THPT QUỐC GIA
Người thực hiện: Hoàng Thị Khánh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn