Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả cảnh1 - Pdf 44

1 . MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Người ta thường nói “Học văn là học cách làm người”, bởi văn học là nhân
học, Tiếng việt giúp con người biết nói và viết đúng với chuẩn mực giao tiếp của
xã hội. Chính vì vậy, Tiếng Việt có thể coi là môn học có nhiệm vụ hình thành
nhân cách và phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, giúp học
sinh lĩnh hội hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản về tiếng Việt, góp phần trang bị
cho thế hệ trẻ khả năng sử dụng tiếng Việt để học tập ở tiểu học và các bậc học
cao hơn, để suy nghĩ và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Ngoài những kiến thức, kĩ năng cần thiết, môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng cho
học sinh tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lẽ phải và sự công bằng
trong xã hội. Đồng thời, giáo dục cho các em lòng yêu mến và thói quen giữ gìn
sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam hiện đại.
Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học đã nối kết một cách tự nhiên các phân môn
khác nhau của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh có một năng lực mới, năng
lực sản sinh ngôn bản. Nhờ năng lực này, các em biết cách sử dụng Tiếng việt
làm công cụ tư duy, giao tiếp và học tập. Bản thân mỗi giáo viên đều biết phân
môn Tập làm văn đòi hỏi học sinh phải huy động vốn từ, vốn kiến thức của
nhiều mặt. Từ những hiểu biết về cuộc sống đến các tri thức về văn hoá, khoa
học thường thức. Nhưng học sinh không chỉ vận dụng những hiểu biết đó vào
việc viết văn là xong mà các em còn phải thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình
khi làm bài để bài viết của các em có cá tính, có hồn, làm rung động được người
đọc.
Thể loại văn miêu tả là một thể loại có số lượng lớn trong chương trình Tập
làm văn ở Tiểu học. Văn miêu tả là loại văn mà học sinh phải dùng ngôn ngữ để
tái hiện cảnh vật, sự vật, sự việc... mà mình quan sát được, mình cảm nhận được
để giúp cho người đọc có thể hình dung ra đối tượng mà người viết sẽ miêu tả
một cách rõ nét, cụ thể như nó vốn có trong cuộc sống. Một bài văn miêu tả hay
không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà
còn thể hiện trí tưởng tượng, cảm xúc, đánh giá của người viết đối với đối tượng

- Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, biết trân trọng những cảnh vật
xung quanh từ đó làm phong phú thêm tâm hồn và tình cảm.
- Yêu thích môn Tiếng việt và làm tốt bài văn tả cảnh.
1.3.Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung chương trình Tiếng việt lớp 5: Phân môn Tập làm văn – thể loại
văn tả cảnh.
- Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Mỹ Lộc.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế việc học phân môn Tập làm văn ở
trường Tiểu học Mỹ Lộc
- Phương pháp nghiên cứu nội dung chương trình Tập làm văn lớp 5 mạch
kiến thức văn tả cảnh.
- Phương pháp tổ chức nghiệm thu, so sánh đối chứng tổng hợp.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trong trường tiểu học, việc dạy các môn học nói chung và dạy môn Tiếng
Việt nói riêng đang hướng tới mục tiêu chung của giáo dục. Mỗi phân môn, mỗi
tiết học của môn Tiếng Việt đều hướng đến mục đích phát triển các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Trong khi đó, Tập làm văn là một trong những
phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt. Bởi nó vận dụng tất cả những hiểu
biết về nhận thức, kĩ năng của phân môn, đòi hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ
và cảm xúc để thực hiện các yêu cầu của bài học. Đặc biệt, văn miêu tả là rất cần
thiết và quan trọng vì nó giúp trẻ sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân
thực khi nói và viết và là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời sống, trình độ
văn hóa của học sinh. Trong từ điện Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên định
nghĩa: “ Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm



nhớ, lựa chọn ý và viết lại theo sự cảm nhận của riêng mình. Nhưng có khi vì
không có điều kiện nên giáo viên chỉ hướng dẫn cho học sinh những ý cần phải
giải quyết theo yêu cầu của sách giáo khoa và dạy cho học sinh học tập những
đoạn văn trong bài văn mẫu.
Đối với tiết trả bài đôi khi còn đơn điệu, giáo viên chỉ nhận xét chung từng
bài của học sinh về ưu điểm và nhược điểm cơ bản nhất hoặc nêu những lỗi về
dùng từ, đặt câu, viết đoạn để học sinh sửa rồi trả bài. Hoặc đọc những bài văn
hay cho học sinh tham khảo. Giáo viên chưa chú trọng nhiều về việc hướng dẫn
học sinh tự phát hiện lỗi sai trong bài, cách sửa câu, dùng từ, cách viết những
câu văn hay có hình ảnh hoặc phát hiện những câu văn hay, những hình ảnh đẹp.
Như vậy, tiết học diễn ra đều đều theo một qui trình rập khuôn dưới sự hướng
dẫn của giáo viên, còn học sinh lại không tự mình phát hiện lỗi sai trong bài
cũng như chưa tìm ra được những câu văn miêu tả hay của bạn để học tập.
Thông qua tiết trả bài như vậy, tôi thấy học sinh học tập được rất ít ở bạn bè. Bởi
học sinh ít được luyện tập, rèn luyện kỹ năng và thói quen “tự điều chỉnh”, tự
học tập để tiến bộ và cũng chưa có cơ hội để thể hiện mình. Do vậy, chất lượng
dạy văn tả cảnh còn nhiều hạn chế.
2.2.2. Thực trạng việc học văn tả cảnh ở lớp 5.
Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 5 đặc biệt được phân công bồi dưỡng môn
Tiếng Việt lớp 5 phần nào tôi đã nắm được chất lượng học phân môn Tập làm
văn lớp 5. Cơ bản các em đã nắm được thể loại văn tả cảnh, bài văn có bố cục rõ
ràng và bước đầu đã biết miêu tả một cách đơn giản. Tuy nhiên, khi làm dạng
văn này, học sinh vẫn còn nhiều lúng túng như dùng từ chưa phù hợp, miêu tả
chưa theo một trình tự hợp lí, chưa biết sắp xếp ý và liên kết các câu, cũng như
chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật để tả. Số học sinh được làm bài
miệng còn ít. Các em còn thiếu tự tin, chưa mạnh dạn khi trình bày bài miệng.
Do đó, nhiều câu văn của học sinh còn mang tính sao chép cứng nhắc, chưa
thực tế, bài văn chưa có cảm xúc, chưa có tính thuyết phục, chưa hay, các câu

dùng sai nghĩa từ, lặp từ, vốn từ còn nghèo nàn, tẻ nhạt, từ dùng chưa có giá trị
gợi tả, gợi cảm. Chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật.
+ Một số bài còn mắc nhiều lỗi chính tả, sử dụng dấu câu chưa phù hợp.
Dưới đây là kết quả bài viết của học sinh đạt được như sau:
Chưa hoàn
thành

Hoàn thành
Lớp

Sĩ số

Mức 1

Mức 2

Mức 3

Mức 4

SL

%

SL

%

SL


5

17,8

5B

27em

13

48,2

8

29,6

2

7,4

0

0

4

14,8

Như vậy, qua kết quả điều tra trên cho ta thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành ở
mức 4 chưa có còn tỉ lệ hoàn thành ở mức 3 rất thấp. Học sinh ở mức chưa hoàn

2.4. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
2.4.1. Tổ chức tốt việc quan sát - tìm ý và dựng đoạn cho học sinh khi viết
văn tả cảnh.
Hướng dẫn học sinh quan sát tìm ý trước khi làm bài tập làm văn thực sự là
một vấn đề cần thiết và quan trọng. Điều kiện cơ bản và cũng là phương pháp cơ
bản để làm tốt bài văn miêu tả là phải biết quan sát và chọn lọc những chi tiết
quan sát được. Mọi kết quả quan sát được thể hiện trong bài miêu tả. Nếu quan
sát tinh vi, thấu đáo bài viết sẽ đặc sắc, hấp dẫn. Quan sát hời hợt, phiến diện bài
viết sẽ khô khan, nông cạn. Do vậy, giáo viên phải tạo điều kiện cho các em đến
tận nơi quan sát đối tượng được miêu tả, coi việc tổ chức cho các em quan sát
trực tiếp đối tượng miêu tả là một công việc thuộc nguyên tắc dạy học làm văn
miêu tả. Giáo viên phải dạy tốt tiết quan sát tìm ý. Trong tiết học đó, học sinh
phải tập quan sát bằng nhiều giác quan khác nhau. Tuy vậy, giáo viên cũng cần
hướng dẫn các em quan sát, phải huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và
cảm xúc rồi ghi chép lại. Muốn vậy, giáo viên phải nghiên cứu trước chương
trình từng bài dạy cụ thể và có kế hoạch để hướng dẫn học sinh quan sát. Để
thuận tiện cho học sinh trong việc quan sát cảnh cần miêu tả cũng như việc giáo
viên tổ chức tốt việc quan sat, tìm ý và dựng đoạn cho học sinh khi viết văn tả
cảnh. Ngoài những tiết tập làm văn học chính khóa, các tiết tập làm văn ôn
luyện buổi hai ( Học sinh học hai buổi trên tuần) giáo viên nên phân các đoạn
văn, bài văn tả cảnh trong chương trình và mở rộng giới thiệu thêm các cảnh vật
miêu tả khác nhưng phân chúng thành hai dạng:
6


- Những cảnh học sinh có thể quan sát trực tiếp: Cảnh một buổi sáng ( hoặc
trưa, chiều) trên cánh đồng; cảnh trường trước giờ học; cảnh dòng sông; cảnh
con đường đến tường; cảnh vườn hoa; cảnh ngôi nhà…..
- Những cảnh học sinh không thể quan sát trực tiếp: Cảnh một buổi sáng
(hoặc trưa, chiều ) trong công viên, cảnh nhộn nhịp của phố phường; cảnh biển

+ Khi tả cảnh cần chú ý quan sát sự thay đổi của cảnh theo thời gian (sự
thay đổi của cảnh vật trước, trong và sau cơn mưa như thế nào?)
+ Những sự vật nào tác động hay liên quan đến cảnh được miêu tả? Sự
thay đổi của bầu trời, gió, cây cối, con đường, hoạt động của con người, con vật
(trước, trong và sau cơn mưa)
7


- Học sinh ghi chép lại những gì quan sát được vào vở nháp.
- Sắp xếp những điều quan sát được theo một trình tự hợp lí để được một
dàn ý chi tiết và trình bày trước lớp.
- Dựa vào dàn ý chi tiết để trình bày bài miệng trước lớp.
*) Dưới đây là một dàn ý chi tiết khi tả buổi sáng trên cánh đồng (Tả buổi
sáng mùa thu trên cánh đồng), yêu cầu học sinh cần đạt được.
Mở bài: Giới thiệu cảnh buổi sáng trên cánh đồng.
Một ngày mới lại bắt đầu. Bình minh đang hiện ra trước mắt em. Một cảnh
vật tuyệt đẹp và để lại cho ta cảm giác phấn khởi khi bước vào ngày mới.
Thân bài:
a. Tả cảnh.
- Sáng sớm cả cánh đồng bồng bềnh trong biển hơi sương (Cánh đồng lúa
chín trải rộng dưới làn sương trắng mờ như một tấm thảm nhung vàng mới
khoác một màn voan trắng đục).
- Cảnh vật yên tĩnh, không khí mát mẻ, dễ chịu ( Gió thu nhẹ thổi mang một
chút se lạnh của mùa đông đang đến gần)
- Bầu trời nhuộm hồng ở phương đông, ông mặt vén màn mây mỏng từ từ
nhô lên, cánh đồng lúa thu bừng lên trong nắng sớm.
- Sương sớm dần tan. Bầu trời mùa thu trong lành và cao vút. (Sương tan, để
lại trên lá lúa những giọt sương như hạt ngọc sáng lấp lánh dưới ánh mai hồng.)
- Gió nhẹ thoảng qua mơn man khắp da thịt làm tóc em bay bay trong gió
- Đồng lúa đã chín vàng bừng lên trong nắng sơm, hương lúa lan tỏa ra khắp

dạy thể loại văn miêu tả. Nếu thực hiện tốt khâu này thì học sinh viết bài văn sẽ
tốt hơn. Do vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách quan sát đối tượng
theo trình tự hợp lí với những đặc điểm nổi bật trọng tâm cũng như khuyến
khích học sinh linh hoạt, sáng tạo để có cách diễn đạt phù hợp với đối tượng.
2.4.2. Hướng dẫn học sinh biết dùng đúng dấu câu và sử dụng từ ngữ
để viết câu ngắn gọn đúng về ngữ pháp, biết liên kết các câu thành đoạn và
các đoạn thành bài, viết bố cục rõ ràng.
Thực tế dạy Tiếng việt nhiều năm cho thấy có nhiều học sinh đã học lớp 5
nhưng chưa biết sử dụng đúng dấu câu trong bài văn. Có những bài văn học sinh
không hề sử dụng dấu câu hoặc sử dụng dấu câu không đúng, thích ghi dấu câu
chỗ nào là ghi, chỗ nào thích viết hoa là các em tự do viết hoa. Để khắc phục
tình trạng này, ngay khi luyện viết từng đoạn, giáo viên cần giúp học sinh hiểu,
biết cách ngắt các ý diễn đạt bằng các dấu câu như dấu phẩy, dấu chấm. Trong
các tiết làm văn đầu tiên, việc hướng dẫn sử dụng dấu câu đòi hỏi giáo viên phải
thật sự kiên trì, tận tình, công phu để tập thói quen cho học sinh. Cụ thể là: Cho
học sinh đọc đoạn văn mình viết, nêu chỗ dùng dấu câu, nếu dấu câu dùng chưa
đúng, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai và vì sao lại chưa đúng,
nêu cách sửa lại cho phù hợp. Hoặc trong đoạn viết chưa có dấu câu nào thì yêu
cầu học sinh đọc kĩ lại từng câu, xem từng câu diễn đạt nội dung gì, ý gì, từ đó
có cách sử dụng dấu câu phù hợp. Ở phần này, giáo viên nên tập trung vào
những học sinh thường sử dụng sai dấu câu. Qua việc hướng dẫn những học sinh
thường sử dụng dấu câu sai, những học sinh khác cũng tự soát bài và rút kinh
nghiệm cho bản thân trong mỗi bài viết.
Cùng với lỗi chưa biết dùng đúng dấu câu khi viết văn của học sinh có
nhiều em cũng chưa biết cách sử dụng từ ngữ khi viết câu, trong diễn đạt còn
lủng củng, rườm rà chưa toát ý có em còn hay dùng lặp từ ngữ khi viết. Vì vậy,
việc giúp học sinh biết cách dùng từ ngữ để viết câu ngắn gọn, đúng về ngữ
pháp là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên bởi các em biết sử dụng từ ngữ
khi viết câu, sắp xếp câu theo trình từ hợp lý sẽ làm cho đoạn văn diễn đạt mạch
9

sinh nêu nội dung cần thông báo là gì rồi tập cho học sinh lựa chọn từ ngữ, sắp
xếp câu để viết ngắn gọn mà vẫn đảm bảo nội dung. Cần lưu ý học sinh khi viết
văn không nhất thiết phải tả quá tỉ mỉ, quá chân thực. Đôi khi người tả phải biết
lựa chọn những nét tiêu biểu, cái đẹp để làm cho cảnh miêu tả thêm sinh động vì
vậy người tả phải có tình cảm, có cảm xúc và có những phát hiện riêng tìm được
cái mới lạ, thú vị của cảnh đang miêu tả.
Ví dụ: Có học sinh viết đoạn văn nói về tình cảm của mình với ngôi nhà như
sau: “Em rất yêu ngôi nhà em đang ở. Khi thấy ngôi nhà bừa bộn, em sẽ xếp
đặt, quét dọn sạch sẽ. Em xem ngôi nhà như một người bạn. Em luôn nhắc mọi
người giữ gìn ngôi nhà cẩn thận để nhà em luôn mới mẻ. (HS Lê Văn Linh)
Đối với đoạn văn này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu nhận xét của
mình, bạn viết như vậy được chưa? Chưa được chỗ nào? Vì sao lại chưa được?
Học sinh sẽ dễ dàng chỉ ra được viết như vậy là hơi kể lể và lặp lại nhiều lần từ
“Ngôi nhà ” và cách sắp xếp câu, xử dụng từ ngữ chưa hợp lí, các câu rời rạc về
10


nội dung, thiếu sự liên kết chặt chẽ… Do đó, giáo viên có thể khuyến khích học
sinh thi đua nhau sửa lại bằng nhiều cách khác nhau nhưng vẫn đảm bảo nội
dung đoạn văn và cần lưu ý học sinh không nhất thiết phải sử dụng từ “Ngôi
nhà” nhiều lần và có thể thay thế bằng những từ ngữ đồng nghĩa, đại từ xưng hô
như “tổ ấm”, “nơi ấy”, “nó”. Đoạn văn có thể hướng dẫn học sinh viết lại như
sau:
“Em rất yêu ngôi nhà của em bởi nó là tất cả công sức, là mồ hôi, có cả
những giọt nước mắt của bố mẹ em tháng ngày nhọc nhằn, vất vả mới có được.
Theo thời gian, nó không còn mới nữa nhưng sao với em nó thân thiết, gần gũi
đến lạ. Cũng bởi sự gắn bó ấy mà em thuộc trong lòng bàn tay những vị trí của
các vật dụng, những chỗ bật, tắt điện trong ngôi nhà, đi đâu vài ngày là thấy
nhớ, thấy mong sớm được trở về với tổ ấm của mình...”
Việc lựa chọn, sử dụng phù hợp các từ ngữ trong mỗi câu văn là một kỹ năng


để hướng dẫn học sinh sử dụng cái hay, cái đẹp, cái bóng bẩy, giàu tính gợi tả và
hình ảnh gợi cảm của Tiếng Việt. Cụ thể, để thực hiện tốt việc hướng dẫn học
sinh diễn đạt câu văn có hình ảnh, giáo viên nên lấy trực tiếp những câu văn,
đoạn văn ngay trong bài làm của học sinh và yêu cầu học sinh nêu nhận xét của
mình. Ví dụ: Giáo viên lấy trực tiếp hai đoạn văn của học sinh khi tả cảnh buổi
sáng trên cánh đồng như sau:
Đoạn văn thứ nhất của học sinh Hà Minh Đức:“Buổi sáng em chạy ra đầu
làng để nhìn cánh đồng lúa. Cánh đồng lúa vào buổi sáng thật vắng. Trên đồng,
sương mù bao phủ không nhìn thấy rõ các đám ruộng. Tiếng côn trùng kêu,
tiếng cá đớp mồi dưới mương và trong các thửa ruộng nghe thật rõ. Mặt trời
lên, sương dần tan em nhìn rõ cánh đồng hơn, nó rất rộng. Trên đường ,có vài
bác nông dân đang ra đồng họ nói chuyện gì đó em cũng không nghe rõ, bên
cạnh các bác là con trâu, bác thì dẫn bò….”
Đoạn văn thứ hai của học sinh Lưu Thu Huyền: “Cánh đồng lúa quê em
vào buổi sáng mùa thu thật là đẹp. Trời còn sớm, khí trời se lạnh, không gian
vặng vẻ, em hít một hơi thật sâu để cảm nhận cái trong lành đến tuyệt vời của
hương đồng cỏ nội. Lúc này, cả cánh đồng bồng bềnh trong biển hơi sương,
nghe tiếng động nhỏ vài chú chim ngủ quên trên ruộng lúa bay vút lên thả tiếng
hót ríu rít. Từ phía đằng đông, ông mặt trời vén màn mây mỏng từ từ nhô lên,
cánh đồng quê bừng lên trong nắng sớm. Chị gió lướt qua cả cánh đồng rung
lên xào xạc, sóng lúa nhấp nhô đuổi nhau tới tận chân trời. Mùi hương lúa chín
dịu dàng lan tỏa…”
Sau khi giáo viên đưa hai đoạn văn trên thì yêu cầu học sinh nêu nhận xét
như: Hai đoạn văn trên, đoạn nào hay hơn, sinh động hơn? Vì sao lại hay hơn?
Ở đoạn văn thứ hai bạn đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Các biện pháp
nghệ thuật đó có tác dụng gì? Qua đó, học sinh sẽ dễ dàng nhận ra được để diễn
đạt những câu văn có hình ảnh cần sử dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, các
biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa… các câu văn phải liên kết với nhau
chặt chẽ về nội dung tránh hiện tượng liệt kê các sự vật, sự việc… Cũng từ đó,

thì cũng phải đạt được yêu cầu là giới thiệu được đối tượng định tả. Tùy nghệ
thuật vào bài của từng em, giáo viên không nên gò bó, áp đặt. Học sinh mở bài
bằng những cách khác nhau nhưng vẫn đảm bảo nội dung một cách tự nhiên với
sự nhận thức và tình cảm của chính mình.
Để học sinh hiểu và viết tốt phần mở bài thì giáo viên cần hướng dẫn học
sinh hiểu rõ sự khác nhau giữa hai cách mở bài này. Cụ thể: Mở bài trực tiếp là
giới thiệu, đi thẳng ngay vào vấn đề, đối tượng mình cần tả. Còn mở bài gián
tiếp là nói hoặc giới thiệu về chuyện khác có liên quan rồi mới dẫn vào giới
thiệu đối tượng cần tả.
Ví dụ: Khi học sinh tả một cơn mưa, học sinh có thể mở bài theo những
cách sau:
*) Mỗi mùa trong năm thường có những cơn mưa khác nhau, mùa hè
thường có mưa rào, mùa đông thì có mưa phùn gió bấc... Nhưng em ấn tượng
nhất là cơn mưa mùa xuân. (Mở bài trực tiếp)
*) “Rồi rập rìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên...”. Tiếng đài nhà ai ven đường đang
ngân nga khúc nhạc mùa xuân khiến lòng em xốn xang một cảm xúc khó tả. Vậy
là mùa xuân, mùa đầu tiên của năm đã đến thật rồi, chị xuân về mang đến cho
quê hương em sự thay đổi rõ rệt bởi cùng đi với chị là những cơn mưa xuân ấm,
trong lành. ( Mở bài gián tiếp)
Qua hai cách mở bài trên, giáo viên cần cho học sinh nhận xét cách mở bài
nào hay hơn, sinh động hơn. Từ đó, giáo viên khuyến khích học sinh viết mở bài
theo cách mở rộng để phần mở bài hay hơn, sâu hơn, hấp dẫn người đọc. (Giáo
viên cần lưu ý khi dạy học sinh có năng khiếu môn Tiếng việt)
- Phần kết bài:

13


Giống như mở bài, kết bài có thể bằng nhiều cách, có thể kết bài mở rộng

- Học sinh biết phân tích đề bài, xác định nội dung viết; tìm ý, sắp xếp ý
để viết đoạn văn, bài văn theo loại bài, kiểu bài.
- Tập viết đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý: Viết đoạn mở bài,
thân bài, kết bài sao cho có sự liền mạch về ý không rời rạc, lộn xộn, các ý
trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh họa, cụ thể
hóa ý chính có phần mở đầu, triển khai và kết thúc.
- Viết bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội
dung và thể loại như: Các đoạn văn trong một bài phải có sự liên kết với
nhau thành một văn bản hoàn chỉnh, có bố cục chặt chẽ, có thể có sự liên kết
14


các đoạn văn bằng các từ ngữ nối hoặc bằng cách sắp xếp ý theo một trình tự
nhất định. Ví dụ: Tả trường em trước buổi học: cần tả cảnh trường lúc
sáng sớm ( lúc chỉ lác đác vài học sinh đến sớm); cảnh trường trước lúc vào
học (lúc học sinh và giáo viên đến đông đủ), học sinh cần làm nổi bật sự
thay đổi của cảnh theo thời gian, những tác động của các sự vật như nắng,
gió, chim chóc, cây cối, hoa lá, con người... làm cho cảnh trường có sự thay
đổi đó.
- Lời văn trong bài phải phù hợp với yêu cầu và nội dung thể loại, câu văn
phải có hình ảnh, tránh diễn đạt lủng củng lặp ý, từ ngữ, viết những câu văn
liệt kê rời rạc. Khuyến khích học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật như
liên tưởng, so sánh hay nhân hóa để miêu tả cho sinh động và bộc lộ được
cảm xúc chân thực giữa người tả với cảnh đó. Khi học sinh biết thực hiện tốt
các kĩ năng cần thiết trên thì bài văn của các em viết sẽ hoàn chỉnh và hay
hơn.
2.4.5. Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.
Để phát huy được tính tích cực của học sinh, giáo viên cần chú ý tới tất cả
mọi đối tượng học sinh. Muốn vậy, giáo viên cần phải phân định theo các mức
độ (học sinh hoàn thành tốt, học sinh hoàn thành và học sinh chưa hoàn thành)

chỉnh sửa trước khi viết bài chính thức.
Tóm lại, trong giờ Tập làm văn, nếu giáo viên biết tổ chức các hoạt động
phát huy được tính tích cực của học sinh (theo từng đối tượng) thì tất cả mọi đối
tượng học sinh sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn để bày tỏ suy nghĩ của mình thông
qua bài viết. Cũng như tự học sinh có thể rút ra những kiến thức cần ghi nhớ để
vận dụng vào thực hành nói – viết văn ngày một tốt hơn.
2.4.6. Thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh.
Chấm chữa bài là một công việc thường xuyên của giáo viên, công việc này
rất cần thiết đối với phân môn Tập làm văn đặc biệt đối với việc bồi dưỡng học
sinh có năng khiếu môn Tiếng việt. Vì nếu chấm chữa bài thường xuyên, giáo
viên sẽ nắm được lực học của từng em, từng đối tượng về cách viết văn. Từ đó,
giáo viên nắm được những phần mà học sinh đã làm được cũng như phát hiện và
nắm được các lỗi sai mà học sinh thường mắc phải trong bài văn như lỗi chính
tả, lỗi về cách dùng từ, ngữ pháp, về cách diễn đạt câu, đoạn và cấu tạo của bài
văn. Để từ đó, giáo viên có biện pháp giúp đỡ, bồi dưỡng hướng dẫn các em
biết cách viết ngày càng hay hơn.
Theo tôi, để làm tốt phần này, giáo viên cần phải chú ý để dạy tốt tiết Tập làm
văn trả bài viết. Ví dụ khi dạy tiết học trả bài văn tả cảnh . Sau khi chấm bài xong,
giáo viên cần nêu nhận xét chung về bài làm của học sinh. Nhận xét những ưu
điểm mà học sinh đã làm được và những tồn tại học sinh còn mắc phải. Sau đó,
giáo viên phát bài cho học sinh, yêu cầu các em đọc lại lời phê của giáo viên và
cho học sinh đổi bài trong nhóm đôi để tìm ra những lỗi sai ở trong bài như sai về
chính tả, cách dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp nghệ thuật chưa phù hợp....
Sau đó, học sinh tự nêu lỗi sai trong bài và tự tìm cách để sửa lỗi. Cuối cùng, giáo
viên hướng dẫn cả lớp cùng nêu cách sửa lỗi chung (theo mẫu dưới đây):
Loại lỗi

Các lỗi cụ thể

Sửa lại từng loại

học tập cách viết của bạn, để bài viết của mình ngày càng hoàn thiện và tiến bộ
hơn. Muốn vậy, đối với tiết trả bài, giáo viên cần chuẩn bị công phu từ lúc chấm
bài (thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến chung, ghi chép cẩn thận để lấy
tư liệu phục vụ cho việc nhận xét và hướng dẫn khi chữa lỗi...) cho đến việc
soạn giáo án (lựa chọn nội dung và cách tiến hành trả bài) và tổ chức các hoạt
động dạy học trên lớp. Giáo viên cần chấm bài tỉ mỉ, chu đáo và hướng dẫn học
sinh chữa lỗi, học tập cách viết văn hay... Có như vậy, giáo viên mới nắm bắt
được năng lực viết văn của từng đối tượng học sinh, có biện pháp bồi dưỡng kịp
thời để có nhiều bài viết hay hơn.
Trên đây là một số biện pháp tôi đã tiến hành áp dụng trong dạy – học Tập
làm văn lớp 5 để góp phần giúp học sinh viết bài văn tả cảnh tốt hơn. Qua việc
áp dụng, bước đầu đã đem lại kết quả khả thi về chất lượng dạy của giáo viên và
chất lượng học của học sinh.

17


2.5. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC.
Sau khi điều tra thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và tìm ra biện pháp, tôi đã
cùng với các đồng chí trong tổ kịp thời trao đổi kinh nghiệm, đổi mới về phương
pháp giảng dạy và định hướng cho học sinh cách học. Qua quá trình vừa nghiên
cứu đề tài, vừa áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp 5A - lớp chủ nhiệm, tôi thấy
nâng cao chất lượng làm văn cho học sinh là một yêu cầu cần thiết, quan trọng song
chúng ta không thể nôn nóng ngày một ngày hai mà cần phải kiên trì, chịu khó để
tìm ra cho mình một số kinh nghiệm dạy tập làm văn như đã trình bày trên đây, ứng
dụng các biện pháp đó vào nội dung dạy văn tả cảnh, bước đầu tôi đã thu được kết
quả ở lớp 5A như sau:
Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng của học sinh khối 5 gồm hai lớp: lớp đối
chứng lớp 5A – lớp chủ nhiệm, và lớp kiểm chứng 5B – lớp của đồng nghiệp. Việc
ra đề cho hai lớp kiểm tra có sự giám sát và kiểm định của tổ chuyên môn và Ban

SL

%

SL

%

5A

28 em

7

25

13

46,4

5

17,9

3

10,7

0


bản thân tôi được Ban Giám hiệu và tổ chuyên môn ghi nhận là chất lượng viết văn
của lớp 5A cao hơn so với học sinh lớp 5B, mức chưa hoàn thành của lớp 5B vẫn
còn 1 em nhưng ở lớp 5A thì không còn, bốn mức của nội dung hoàn thành có sự
chênh lệch rõ rệt. Thực tế khi đọc lại bài làm của các em, tôi thấy bài viết của các
em có bố cục rõ ràng, lời lẽ của câu văn chân thực, từ ngữ các em sử dụng đã sắc
nét hơn, diễn đạt trôi chảy hơn, hình ảnh sự vật miêu tả phong phú, sinh động; khi
tả đã có sự sáng tạo, các em cũng đã biết sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa
để viết; bài viết đã có cảm xúc gắn với tình cảm của các em. Điều đáng mừng ở đây
là tất cả mọi học sinh đều rất thích viết văn, thích sử dụng các biện pháp so sánh,
nhân hóa để miêu tả. Các em học tập hào hứng hơn, mạnh dạn hơn, thích được thể
hiện mình như đọc bài trước lớp cho cô giáo và các bạn nghe, các em không còn
ngại viết như trước nữa.
Như vậy, trong một thời gian không dài mà chất lượng học tập của học sinh đã
có sự chuyển biến rõ rệt. Điều đó chứng tỏ các biện pháp mà tôi áp dụng phần nào
đã giúp học sinh viết văn tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn
Tập làm văn lớp 5.
18


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận :
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đồng thời từ thực tiễn dạy học ở trường tiểu
học, tôi rút ra những bài học kinh nghiệm khi dạy phân môn Tập làm văn như
sau:
- Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, nắm vững từng kiểu bài để
lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp, hiệu quả.
- Cần tạo giờ học nhẹ nhàng, sôi nổi, thoải mái, gây hứng thú tự nhiên để học
sinh nắm bài nhanh hơn, chắc hơn. Giáo viên nên khuyến khích học sinh thi đua
để viết những bài văn hay, sáng tạo với phong cách của riêng mình.
- Cần rèn luyện kĩ năng quan sát - tìm ý - sắp xếp ý.

19


trò vừa truyền thụ kiến thức vừa tổ chức hướng dẫn, giúp các em rèn luyện các
kỹ năng và huy động vốn kiến thức nhiều mặt nhằm giải quyết những yêu cầu
của đề ra theo từng kiểu bài mà chương trình quy định. Nhờ đó mà tư duy logic
và tư duy hình tượng của các em đều phát triển, hình thành nhân cách tốt đẹp
trong mỗi học sinh.
Muốn vậy, đối với mỗi người giáo viên luôn phải trau dồi kiến thức cho
mình để đủ tự tin, am hiểu nội dung kiến thức, kĩ năng cần truyền thụ của từng
tiết dạy, trên cơ sở nắm vững mục đích, yêu cầu của bài học cũng như những kiến
thức và kĩ năng học sinh cần đạt được khi làm bài văn tả cảnh để phối hợp nhẹ
nhàng, linh hoạt, khéo léo, đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học, sao cho lôi cuốn được tất cả học sinh trong lớp tham gia học tập với
thái độ tự giác, tích cực, hào hứng, đạt được mục đích đặt ra. Như vậy, học sinh
có cơ hội được thể hiện mình, học sinh mới mạnh dạn để có nhiều bài nói và bài
viết hay hơn.
3.2. Kiến nghị:
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, tôi xin có
một số ý kiến đề xuất sau đây:
*Đối với Bộ GD&ĐT:
- Cần tăng thời lượng cho các tiết dạy tập làm văn xây dựng đoạn văn miêu
tả để học sinh được rèn kỹ năng nhiều hơn.
- Kiểm soát các loại sách nâng cao, sách tham khảo, sách chuyên đề phục vụ
cho việc dạy và học tập làm văn lớp 5.
* Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT:
- Hàng năm cần tổ chức các phong trào thi đua viết thơ văn, sáng tác nhỏ của
tuổi thơ để các em có điều kiện phát huy tài năng của mình.
- Thường xuyên mở các hội thảo, nói chuyện chuyên đề với các chuyên gia về
dạy và học tập làm văn để giáo viên được tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm trong công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status