A: PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề.
Từ xa xưa đất nước Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu học. Bao tấm
gương hiếu học và đã trở thành những nhà bác học thiên tài trong nhiều lĩnh vực.
Hiện nay truyền thống đó ngày càng được phát triển và nhân rộng thêm. Việc học
tập để lĩnh hội tri thức mới giúp cho thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa văn
hóa, khoa học kĩ thuật của nhân loại, vững vàng hội nhập quốc tế là vấn đề cấp
bách đang được toàn đảng toàn dân quan tâm hàng đầu. Để đáp ứng được vấn đề
này hệ thống giáo dục là vấn đề cốt lõi. Trong hệ thống giáo dục thì giáo dục bậc
Tiểu học là rất quan trọng. Trong chương trình Tiểu học, cùng với môn Toán, môn
Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng
Tiếng việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa tuổi. Thông qua
việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những
kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ
gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần thành hình thành con người
Việt Nam trong thời kì đổi mới.
Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc, Luyện từ và
câu, Kể chuyện, Tập viết, Chính tả, Tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người
dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn.
Tập làm văn là phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu
học, nó không chỉ giúp cho học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe , nói, đọc, viết
mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc
biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới
hiện đại và năng động. Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc
sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng
1
sách giáo viên làm chuẩn để dạy. Trong khi đó các lí thuyết về thể loại nhiều khi
chưa được sách giáo khoa, sách giáo viên đề cập đến. Bên cạnh đó cũng có
những giáo viên thông hiểu về các thể loại bài văn thế nhưng vì phải đảm bảo
3
nội dung, yêu cầu của tiết học (tìm ý, làm dàn bài hay viết một đoạn) cho một đề
bài cụ thể nên họ chưa chú trọng đến việc dạy lí thuyết này. Hầu hết các giáo
viên mới chỉ nói qua về các yêu cầu đối với thể loại, kiểu bài đang học chứ chưa
chú ý đến việc dạy cho học sinh có những hiểu biết khái quát về thể loại, kiểu
bài tập làm văn, so sánh, phân biệt sự giống và khác nhau giữa các thể loại, mối
liên quan giữa các kiểu bài đang học với các kiểu bài đã học. Do không được
dạy kĩ về lí thuyết nên nhiều em còn nhầm lẫn giữa các kiểu bài như Tả người
với Kể về một người.
b. Thực trạng dạy tiết tìm ý và lập dàn ý:
Hoạt động của giáo viên bằng lời nói là chủ yếu. Thao tác hoạt động của
giáo viên nhiều: Ghi bảng, gọi học sinh nhận xét. Nhận xét học sinh trả lời. Giáo
viên phụ thuộc vào sách giáo khoa và sách hướng dẫn giảng dạy, trung thành với
các tài liệu này nên ít có biện pháp sáng tạo.
Ví dụ: Khi dạy văn tả người: Tả cụ già, giáo viên chưa tạo điều kiện để học
sinh nắm bắt từ thực tế, nhiều giáo viên còn dạy chay, không hướng dẫn học sinh
quan sát thực tế nên có nhiều trường hợp học sinh trình bày sự quan sát của mình
qua tưởng tượng, dẫn đến sự vô lí không đáng có trong bài văn. Do cách dạy vậy
mà học sinh đã tả cụ già như: Bà em đã già lắm rồi, răng đã rụng hết nhưng bà em
vẫn bỏm bẻm nhai trầu. Mắt bà em sáng rực, tròn như hai hòn bi ve...
c. Thực trạng tiết tập làm văn viết:
Sau khi học xong tiết Tập làm văn miệng hay lập dàn ý. Giáo viên dặn
học sinh về nhà hoàn thiện dàn bài và viết thành bài văn hoàn chỉnh để giờ sau
học tiết Tập làm văn viết và như thế, trong tiết Tập làm văn viết, học sinh chỉ
làm nhiệm vụ chép lại bài đã chuẩn bị vào giấy kiểm tra hoặc vở Tập làm văn và
trong thực tế hoàn cảnh làm việc, hành động của người được tả để bài viết thêm
phong phú, sinh động.
1.1.2.Về phía học sinh:
Do hạn chế của chương trình sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy
của giáo viên như đã nói ở trên, cùng với sự lơ là trong học tập của các em đã
dẫn việc dạy và học Tập làm văn chưa đạt đến kết quả cao. Phần lớn các em
chưa thực sự chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, do đó càng ít có sự sáng
tạo. Nhiều khi chưa nắm vững được các kĩ năng cơ bản để làm bài (tìm hiểu đề,
quan sát lập dàn ý, lập dàn bài, triển khai ý, liên kết ý, liên kết đoạn...) dẫn đến
5
nhiều em còn làm bài lạc đề, sắp xếp ý lộn xộn, rời rạc. Đặc biệt là có những em
chưa phân tích kĩ đề bài nên chưa làm đúng yêu cầu của đề và chưa có thái độ,
tình cảm như đề bài yêu cầu.
Ví dụ: Trong bài văn Tả người thân của em, học sinh chỉ viết được bài
văn bằng trình độ của học sinh lớp 2 và thiên về văn kể: "Bố em là thợ xây, bố
em rất cao. Bố em có nước da ngăm đen, tóc xoăn. Em rất yêu bố.”
Hay: "Mẹ có cái tai rất to để nghe em nói cho rõ. Mẹ còn có cái mũi dài
để ngửi. Cái miệng hay cười. Trông mẹ em rất xinh”.
Hệ thống ý trong bài văn của các em còn nghèo nàn. Chỉ rập khuôn theo
sách giáo khoa, theo vở luyện, ít có sáng tạo của bản thân. Số học sinh tìm được
ý diễn đạt mới mẻ là rất hiếm. Khi miêu tả, học sinh chưa biết chọn lọc những
nét tiêu biểu để tả nên đã biến bài văn thành bài kể lan man và cũng ít biết lồng
tình cảm, cảm xúc của mình vào bài. Bài văn của các em đa phần là dùng những
câu đơn để diễn đạt nên còn rời rạc, nặng nề về liệt kê, kể lể. Bài làm còn nhiều
nét sơ lược, các chất để làm văn có hồn thì thật là hãn hữu vì các em chưa thực
sự rung động trước đối tượng tả. Một thực trạng rất phổ biến và dễ thấy ở các
em là chưa biết tự lập dàn bài trước khi viết thành bài văn. Do vậy mà thường
thiếu sót, các ý sắp xếp lộn xộn, lủng củng.
- Đưa ra một số biện pháp để phát huy các ưu điểm đó và đặc biệt là đề ra
biện pháp khắc phục những hạn chế khi dạy và học văn miêu tả.
- Giúp học sinh có hứng thú với phân môn Tập làm văn và văn Tả người
nói riêng.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI (những vấn đề cần giải quyết)
Đứng trước thực trạng dạy và học hiện nay yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải
đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể
loại miêu tả một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn. Do đó tôi
đi sâu vào nghiên cứu và áp dụng trong những năm qua đã thu được những kết
quả nhất định. Để khắc phục thực trạng trên, đòi hỏi cá nhân giáo viên và học
8
sinh đều phải nỗ lực và kì công, phải nắm chắc được các phương pháp viết của
từng bài dạy. Tôi đi sâu vào giải quyết những vấn đề sau:
Vấn đề 1: Dạy Tập làm văn qua các môn học khác.
Vấn đề 2: Rèn kĩ năng sử dụng văn tham khảo trong dạy học tập làm văn.
Vấn đề 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Vấn đề 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn.
Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào
nhau một cách nhịp nhàng và linh hoạt thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều.
III. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải
quyết trình bày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả người
như sau:
1. Giải quyết vấn đề 1: Dạy Tập làm văn qua các phân môn khác.
Tập làm văn mang tính tích hợp cao. Nó góp phần quan trọng trong việc
thực hiện mục đích của môn Tiếng việt, phản ánh kết quả giảng dạy và học tập
của các phân môn khác và được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu của
nhiều môn khoa học.
Ví dụ: Khi dạy bài tiết luyện tập làm bài văn Tả người tuần 17, tôi đưa
loại bài tập dựa trên kiến thức từ loại mà các em đã học ở lớp 4. Cụ thể là các
bài tập sau:
1). Tìm những tiếng ghép với tiếng hiền để tạo thành từ ghép chỉ tính nết
của người? (hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền thục...)
2). Tìm những từ chứa tiếng ” xinh” để tả hình dáng của người?
(xinh xinh, xinh xắn, nhỏ xinh...)
3). Tìm nghững từ ghép, từ láy chỉ các hoạt động của người? (nhanh
nhẹn, hoạt bát, cần mẫn, chăm chỉ, thức khuya, dậy sớm, xốc vác...)
Tóm lại khi dạy dạng bài tập này giáo viên cần phải khéo léo khi lồng
ghép các bài tập và hướng dẫn đúng mức, hợp lý nhằm giúp học sinh phát hiện
ra các từ ngữ xoay quanh một đề tài nhất định như tả cụ già hay em bé, tả giáo
viên hay công nhân, nông dân...Tả chân dung hay tả hoạt động...Từ đó giúp các
em có thể lựa chọn từ thích hợp đã tìm được ở dạng bài tập này để miêu tả tính
cách, hình dáng của một người nhằm phục vụ trực tiếp đến việc dùng từ đặt câu
chính xác phù hợp văn cảnh khi làm văn Tả người của các em.
1.1.2 Loại bài tập củng cố. Kiểm tra về nghĩa của từ.
Khi được luyện tập trên những bài này, học sinh nắm chắc được nghĩa
của từ và hiểu rằng trong nhiều trường hợp, để diễn đạt một điều gì đó thì
không phải chỉ có duy nhất một từ mà còn bao nhiêu từ khác gần nghĩa,
đồng nghĩa có thể thay thế cho nó. Từ đó mà bài văn của các em có cách
diễn đạt phong phú hơn.
12
Bài 1: Cho các từ sau:
Cao lớn, trung thực, lười nhác, giả dối, nhỏ bé, chăm chỉ, sần sùi, trắng
trẻo, mịn màng, lực lưỡng, mảnh khảnh, đen đủi, mập mạp, còm nhom, gian
giảo, nhút nhát, bạo dạn, chất phác, nhu nhược, hèn yếu, anh dũng, siêng năng,
lười biếng...
gạch chân ở trên dùng chưa thích hợp với đối tượng và văn cảnh tả:
- Đối tượng được tả trong câu văn trên là ai? (Cô giáo, bạn bè, người thân)
- Họ có mối quan hệ với em ra sao? (là thầy cô dạy mình, là bạn bè, là
người thân....)
- Khi muốn nói về người tốt hoặc người thân, bạn bè, nói về tình cảm của
bề trên với bề dưới mà chúng ta dùng các từ gạch chân như văn cảnh trên đã thể
hiện được sự kính trọng hay tôn trọng chưa? (chưa được).
- Vậy ta phải thay thế chúng như thế nào? (Tìm các từ có cùng nghĩa, trái
nghĩa,... để thay thế)
Giáo viên cho học sinh thi đua tìm từ thay thế và tự sửa lại cho phù hợp
văn cảnh.
Nếu học sinh yếu không tìm được thì giáo viên có thể cung cấp nhóm từ
cho học sinh lựa chọn. Như:
- Đen sì: đen nhẻm, da nâu, da bánh mật, da dám nắng...
- Oang oang: vang vang, ông ổng, thánh thót, trầm ấm, trong trẻo....
- Hồng hộc: hổn hển, phì phò....
- Bác ái: nhân hậu, nhân ái, thương người...(Giáo viên lưu ý khi học sinh
lựa chọn từ bác ái, nhân ái là: dùng từ này không sai nhưng chỉ nên dùng khi
nói về một người quan trọng, một vĩ nhân còn nói về người bình thường như
chúng ta trong cuộc sống hằng ngày thì không nên).
- Trọng vọng: tin yêu, tin tưởng, đề cao, đánh giá cao...
Qua đó học sinh đã sửa được câu như sau:
- Cô giáo em có nước da bánh mật. Giọng nói của cô trầm ấm
(thánh thót).
- Hùng vừa thi chạy xong thở hổn hển.
- Bạn Hiếu có tấm lòng nhân hậu (thương người).
- Bố mẹ em rất được ông bà tin tưởng (tin yêu).
14
tầm quan trọng của những từ láy, nhất là các từ gợi hình ảnh, gợi âm thanh đều
15
có sức gợi tả, gợi cảm cao. Nếu sử dụng nó trong văn miêu tả nói chung và văn
tả người nói riêng sẽ tăng giá trị biểu đạt cho câu văn, bài văn, làm cho câu văn,
bài văn giàu hình ảnh và sinh động hơn.
Tóm lại loại bài tập này góp phần làm giàu vốn từ cho học sinh, một
lần nữa giúp học sinh có thêm sự lựa chọn từ ngữ để miêu tả sao cho sinh
động và giàu hình ảnh hơn.
1.1.4 Loại bài tập về thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ:
Ngoài việc cung cấp, làm giàu thêm vốn từ cho các em thì giáo viên cũng
cần quan tâm đến việc dạy thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng nhằm
giúp cho cách diễn đạt của các em trong sáng, nhuần nhuyễn và sinh động, ngôn
ngữ phong phú mang đậm bản sắc dân tộc. Sau khi học sinh học xong bài 2 tiết
30 tuần 15 tôi cho thi đố vui trong mục hoạt động tập thể của tiết sinh hoạt lớp
hoặc những giờ luyện Tiếng việt, tiết mở rộng vốn từ theo chủ đề...nếu thấy
thích hợp. Sau đó tôi cho học sinh liên hệ sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ,
quán ngữ trong văn miêu tả, giúp các em nhận biết là sử dụng trong trường hợp
nào để tả người:
+ Quan hệ gia đình:
- Chị ngã em nâng.
- Anh em như thể chân tay.
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần
- Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
- Con có cha như nhà có nóc.
- Con hơn cha là nhà có phúc.
- Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
Sao cho sau trước chọn bề mới yên.
+ Nhận xét về con người:
- Tài sắc vẹn toàn, khôi ngô tuấn tú, đẹp như hoa, đẹp như tiên, nghiêng
nước nghiêng thành, trắng như tuyết, đỏ như son, khỏe như trâu, khỏe như voi,
hiền như đất, hiền như Bụt, nóng như lửa.
+ Nói về như vất vả, khó nhọc:
17
- Vượt núi băng rừng, trèo đèo lội suối, chân lấm tay bùn, hai sương một
nắng, thức khuya dậy sớm, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.
Loại bài tập này giúp học sinh làm giàu vốn thành ngữ tục ngữ của
mình, hiểu được nghĩa của thành ngữ tục ngữ. Qua đó các em có thể sử
dụng trong mọi tình huống giáo tiếp và sử dụng trong văn tả người như nêu
tình cảm của người viết với người được tả hay nhận xét về mối quan hệ của
đối tượng miêu tả trong bài với mọi người xung quanh hay nhận xét về tính
cách, vẻ đẹp hình dáng, tâm hồn... của đối tượng tả, trong bài văn tả người
không chỉ sử dụng có từ đơn, từ ghép, từ láy mà còn có cả thành ngữ, tục
ngữ, ca dao... làm cho bài văn có ngôn từ đa dạng, xúc tích, phong phú hơn.
1.1.5. Dạy Tập làm văn qua đơn vị câu, dấu câu:
Một thực trạng khá phổ biến ở các bài văn của học sinh hiện nay là học
sinh thường viết những câu " què”, câu " cụt” và bài viết không có dấu ngắt câu.
Có khi trong cả bài viết các em chỉ ngắt câu để phân biệt ba phần: Mở bài, thân
bài, kết bài. Vì vậy, trước hết giờ học về câu cần rèn cho học sinh kĩ năng viết
câu đúng. Có thể thực hiện điều này qua việc cho các em làm các bài tập thực
hành về câu, sửa các viết sai câu và dùng sai dấu trong tiết Trả bài Tập làm văn.
Một số bài học sinh viết như sau:
Bài 1: "Mẹ em đẹp lắm mẹ có dáng người nhỏ nhắn nước da trắng hồng
đôi bàn tay dịu dàng của mẹ làm không biết bao nhiêu là việc cho em và gia
viên gợi ý bằng một số câu hỏi sau:
+ Người em định tả là ai? (bà, bố, mẹ, cô giáo.)
+ Đề bài yêu cầu tả chân dung hay hoạt động của người?
+ Người đó có hình dáng hay hoạt động gì nổi bật?(mái tóc, khuôn mặt,
dáng đi, tư thế, tác phong, hành động trong lúc làm việc).
- Ngoài việc giúp học sinh nắm vững bài học, hiểu yêu cầu bài tập, giáo
viên còn phải lưu ý thêm: để viết được đoạn văn ngắn theo yêu cầu thì phải xác
định được nội dung và tìm ý, sắp xếp các ý rồi tìm cách diễn đạt sao cho phù
hợp với nội dung đó. Nhờ vào định hướng trên học sinh đã viết như sau:
"Bà nội em đã ngoài 70 tuổi. Mái tóc của bà bạc phơ luôn búi cao sau
gáy. Gương mặt già với nhiều nếp nhăn hằn sâu. Lưng đã hơi còng, chân tay gầy
guộc nhưng dáng đi của bà vẫn còn nhanh nhẹn lắm.”(Bài tập 4 tiết 30)
"Mẹ em có dáng người nhỏ bé, lọt thỏm trong bộ quần áo bà ba đen. Mái
tóc dài được mẹ búi cao để khi cúi xuống cấy tóc không bi bẩn. Đôi tay của mẹ
đang thoăn thoắt như múa trên mặt ruộng. Thỉnh thoảng mẹ lại đứng lên cho
lưng đỡ mỏi và đưa mắt nhìn những hàng mạ thẳng tắp vừa mới cấy xong có vẻ
20
hài lòng. Nhìn cách mẹ chia mạ, chăng dây và cấy em thán phục mẹ biết bao.”
(bài tập 2 tiết 28).
Loại bài tập này, với cách làm trên, sẽ giúp học sinh xác định rõ nội
dung và chủ đề của đoạn văn định tả, xác định rõ bố cục của đoạn văn tránh
được hiện tượng viết đoạn văn không rõ chủ đề, không rõ nội dung hoặc lạc
yêu cầu của bài và khi viết bài văn các em sẽ xác định được đoạn này ở vị trí
nào trong bài tránh được tình trạng lặp ý, lặp đoạn làm cho bài văn có chỗ
thừa chỗ thiếu, lủng củng.
1.2. Dạy Tập làm văn qua phân môn Kể chuyện và Tập đọc.
Qua việc dạy các bài kể chuyện, Tập đọc, giáo viên cung cấp cho học sinh
nhiều vốn sống một cách gián tiếp, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho các em.
còn phải huy động vốn từ ngữ của mình và lựa chọn hình thức diễn đạt sao cho
có hiệu quả nhất. Loại câu hỏi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng của học sinh đã
trực tiếp giúp các em phát triển sức liên tưởng, óc tưởng tượng – những yếu tố
cần thiết để làm văn.
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc ” Một chuyên gia máy xúc” có những chi
tiết sau:
"Tôi nhìn thấy một người ngoại quốc cao lớn, mái tóc vàng óng ửng lên
như một mảng nắng...Bộ quần áo xanh màu công nhân, thân hình chắc và khỏe,
khuôn mặt to chất phác, tất cả gợi lên ngay từ phút đầu những nét giản dị, thân
mật...Đôi mắt sâu và xanh...Đôi tay to và chắc”.
Ngoài việc hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung của câu chuyện,
tôi còn hướng dẫn cho các em nhận biết được các yếu tố có liên quan đến văn tả
người như sau:
- GV: Bài tập đọc thuộc thể loại văn gì?
- HS: Kể chuyện.
- GV: Nội dung là kể chuyện song tác giả đã xen lồng văn tả người các
em ạ. Vậy tác giả đi sâu vào tả đặc điểm gì của anh A-lếch-xây?
- HS: Tả dáng vẻ.
- GV: Vậy khi tả chân dung của một người, ta có thể đi sâu vào tả
ngoại hình của nhân vật đó có những nét nổi bật về hình dáng. Ở bài này
tác giả đã rất tinh tế khi lựa chọn đặc điểm nổi bật về hình dáng để tả anh
A-lếch-xây vì anh là người ngoại quốc có hình dáng khác hẳn hình dáng của
22
người Việt Nam ta. Các em nên học tập cách tả ngoại hình này của nhà văn
Hồng Thủy khi các em học thể loại văn tả người trong những tuần tới.
Hay khi dạy bài Thái Sư Trần Thủ độ (tuần 20) có những câu văn diễn tả
hoạt động đối thoại của Trần Thủ Độ với các nhân vật khác trong câu chuyện:
- Ngươi có phu nhân xin làm cho chức câu đương, không thể ví như các
tích cái hay, cái đẹp, giải thích cơ chế của nó, sau đó giáo viên đưa ra những văn
cảnh, tình huống, yêu cầu học sinh tập diễn đạt theo mẫu.
Ví dụ khi dạy bài: 'Hạng A Cháng”, "Người ăn xin”, "Bà tôi” có những
câu văn đặc tả và những hình ảnh sinh động nhờ vào tài sử dụng các biện pháp
nghệ thuật, cách dùng từ, viết câu... mà tác giả đã dùng như:
"Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông đồng”. (bài Bà tôi Tiếng Việt lớp 5 – tập 1).
"A Cháng đẹp người thật. Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như
lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc, gụ. Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng
như cái cột đá trời trồng”.
"A Cháng đeo cày. Trông anh hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo
cung ra trận”. (bài Hạng A Cháng - Tiếng Việt lớp 5 – tập 1).
"Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại. Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã
găm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!” ( bài Người ăn
xin - Tiếng Việt lớp 4 – tập 1).
Tôi đã dạy các em học tập:
- Cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật để tả người cho sinh động, giàu
hình ảnh hơn như biện pháp so sánh trong bài Bà tôi và bài Hạng A Cháng.
- Cách biểu lộ tình cảm trực tiếp trong bài qua những câu cảm, cách dùng
dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu chấm cảm để bài văn trở nên có cảm xúc, gần gũi
với người đọc như ở bài Người ăn xin.
Ngoài ra, tôi cũng lưu ý cho học sinh trong các bài tập đọc tác giả đã kết
hợp tả hình dáng với tả các động tác lao động; tả người lao động với quang cảnh
nơi họ làm việc; chọn lọc những chi tiết để nói lên sức khỏe, sự làm việc hùng
dũng, nhịp nhàng của nhân vật. Ví dụ như bài: Người thợ rèn, Công nhân sửa
đường. Vậy ta có thể áp dụng cách miêu tả này vào bài tả chị bán hàng làm việc
lúc đông khách hay tả anh thợ xây đang xây nhà, tả bác nông dân đang cày
ruộng... chúng ta phải tả kết hợp hình dáng với các động tác lao động (lấy hàng,
24
25