1. Mở đầu
- Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục và đào tạo thì giáo dục bậc tiểu học là rất quan
trọng. Trường tiểu học là nơi con người được tổ chức học tập một cách chính
quy và có tổ chức nhất. Vào tiểu học, mỗi học sinh được tạo cơ hội để tiếp thu
giáo dục, ý thức đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như vinh dự với các hoạt
động học tập và rèn luyện. Trong chương trình tiểu học, cùng với môn toán môn
Tiếng việt chiếm khá nhiều thời gian so với các môn học khác. môn Tiếng Việt
có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng
Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa tuổi.Thông qua việc
dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những
kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ
gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ và
câu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người
dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn.
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học
tiểu học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe, nói, đọc,
viết mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp
và đặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người
mới hiện đại và năng động. Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận
cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các
em. Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn bảncòn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp
Tiếng Việt.
Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính
của chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì
học sinh không có khả năng quan sát tinh tế, không cảm nhận được vẻ đẹp của
cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để
làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn. Làm thế nào để cho
giáo khoa.
- Đọc và tìm hiểu về một số phương pháp dạy Tiếng Việt, các tài liệu bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt.
* Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế.
- Phỏng vấn học sinh các vấn đề có liên quan.
- Đọc và phân tích bài văn của học sinh.
- Trao đổi về phương pháp dạy học với giáo viên trong khối.
* .Phương pháp tổng kết kinh nghiêm.
* .Phương pháp so sánh đối chiếu.
2 . Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho
người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật
nào đó xung quanh ta.
Như vậy văn tả cảnh có thể xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngôn
ngữ văn chương để miêu tả sự vật hiện tượng một cách cụ thể sinh động. Bất kì
hiện tượng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả được, tuy nhiên bằng
những cảm xúc khác nhau của mỗi người, mỗi hiện tượng lại được lại được
miêu tả với cách thể hiện riêng qua việc quan sát, sử dụng từ ngữ và cách diễn
đạt khác nhau.
Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta
như biển cả, cánh đồng, hàng cây...Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập
trung vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó. Để bài văn được sinh động và
hấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với nhưng
cung bậc cảm xúc khác nhau.
Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nét
riêng biệt. Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết về
phương pháp làm văn, phải biết dùng từ ngừ, biết vận dụng linh hoạt các biện
lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn... Đó là qua phân tích các bài văn mẫu
với lý thuyết khô khan, khó hiểu.
- Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho
học sinh khi học văn.
- Một số giáo viên còn mắc bệnh thành tích trong dạy học. Để đối phó với
việc học sinh làm kém và đảm bảo “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử... nhiều cô
giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc (làm sẵn) một số bài văn mẫu để các em
khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà chép ra làm cho các em lệ thuộc vào bài
mẫu, không có sáng tạo trong làm bài.
- Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương.
Khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả.
Ví dụ: Đề bài yêu cầu tả cánh đồng lúa chín, thực tế học sinh chưa được nhìn
thấy hay được quan sát cánh đồng lúa bao giờ.
- Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh,
không giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sự
chỉnh sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giúp học sinh lớp 5 làm tốt văn tả cảnh
Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải
đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể
loại miêu tả cảnh một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn.
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải
quyết trình bày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả cảnh
như sau:
- Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả:
+ Cụ thể hóa sự vật (tả cái gì?)
Ví dụ : Tả biển thì tập trung tả biển, không miên man tả sâu cảnh con đường
dẫn ra biển hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đó cũng có
liên quan.
Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau:
+ Đọc kĩ đề.
+ Phân tích đề.
Phân tích đề bằng cách:
- Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.
- Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.
- Gạch một nét đứt dưới các từ xác định giới hạn miêu tả.
Ví dụ: Đề bài: Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm.
Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi:
?/ Hãy xác định thể loại làm văn?
?/ Đối tượng miêu tả là gì?
?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ?
Đối tượng
Thể loại
Giới hạn miêu tả
miêu tả
Không gian
Thời gian
Đặc điểm
Miêu tả
Cảnh đẹp
Một mùa trong
Nơi em ở
Một cảnh
năm
Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên , học sinh thực hành gạch chân trực
tiếp trên đề bài.
Đề bài: Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm.
* Bước 2: Bước quan sát và tìm ý
- Tầm quan trọng: Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh
Mắt thấy
(Thị giác)
Tai nghe
( Thính giác)
Mũi ngửi
( Khứu giác)
Tay cầm
( Xúc giác)
* Quan sát theo không gian ( Vị trí)
Xa
Gần
Trên
Dưới
Trong
Ngoài
Bên trái
Bên phải
Đắng sau
Đằng trước
Quan sát theo thời gian ( Thời điểm )
Sáng
Trưa
Chiều
Tối
Xuân
Hạ
Thu
Đông
Mưa. nắng
Ví dụ: Khi tả biển quê em.
Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những
bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan
chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự
không gian và thời gian.
Ví dụ : Biển được quan sát theo trình tự thời gian.
- Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối nhô lên.
- Nước biển màu hồng nhạt.
Sáng
- Sóng đuổi nhau vào bờ cát.Bọt tung trắng xoá.
- Từng đoàn thuyền đánh cá rẽ màn sóng bạc ra khơi.
- Trên bờ cát ,các cụ ông,cụ bà tập thể dục.
- Mặt trời chiếu tia nắng chói chang .
Trưa
- Trời xanh thẳm,nước biển thẳm xanh.
- Biển vắng lặng không một bóng người.
- Mặt trời gác trên rặng phi lao.
- Lũ trẻ ra biển chơi. Đám con trai thì đá bóng,thả diều.Bọn con
Chiều gái thì xây những lâu đài trên cát.
- Chơi xong cả lũ nhảy tòm xuống biển .Biển như dang rộng cánh
tay ôm chúng tôi vào lòng. Làn nước mát rượi ngập tràn tâm hồn
lũ trẻ.
- Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bờ.
- Trăng lên, ánh trăng toả xuống mặt biển.
- Mặt biển như trải rộng mênh mông, bàng bạc một màu.
- Ánh điện Nhà máy Xi măng Nghi Sơn tạo thành vệt sáng lung
Tối
linh.
Xuân
+ Giữa vườn:
+ Góc vườn bên trái:
+ Góc vườn bên phải:
+ Cuối vườn:
Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian:
+ Khoảng trời phía đông ửng hồng
+ Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre.
+ Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống...
+ Mặt trời lên cao.
• Lập dàn ý.
Do nội dung chương trình trong sách giáo khoa phân bố thì học sinh luyện
viết các đoạn văn tả cảnh rất nhiều. Những bài văn tả cảnh hoàn chỉnh chỉ yêu
cầu thực hiện trong các tiết kiểm tra. Chính vì thế, tôi đưa dàn ý chung cho một
bài văn tả cảnh, và cả dàn ý cho một đoạn văn tả cảnh để học sinh dựa vào đó
viết.
+ Dàn ý chung cho một bài văn tả cảnh cụ thể như sau
Bố cục
1. Mở bài
2. Thân bài
* Tả bao quát
* Tả chi tiết:
3. Kết bài
Dàn bài
- Giới thiệu cảnh định tả
+ Tả từng bộ phận của cảnh ( Nếu lựa chọn trình tự không gian)
Khi nắng ban mai vàng như mật ong chiếu xuống, khu vườn
Bao quát:
như bừng tỉnh sau một đêm tắm sương.
- Nàng Hồng măng trên mình hạt sương long lanh đang e lệ
trong lá.
- Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau.
+ Trước vườn: - Nàng Cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ
đón anh ong bước đến chơi.
- Các nàng thi nhau toả hương làm cả một khoảng không gian
thơm mát.
+ Giữa vườn:
- Hai hàng rau cải xanh mơn mởn chen nhau mọc.
- Những lá cải to bản thi nhau vươn cao hứng ánh nắng vàng
óng.
- Cây bưởi nặng nhọc mang trên mình những trái bưởi tròn
lông lốc.
+ Góc bên trái:
- Lũ sơn ca, hoạ mi ngủ đêm trên cành đang bay nhảy, cất
tiếng hát véo von chào buổi sáng.
+ Góc bên
- Mấy anh ớt đỏ gầy leo kheo đã tỉnh giấc.
phải:
- Anh ngả nghiêng vặn mình trong gió
- Mẹ con bác chuối lục đục gọi nhau dậy tập thể dục.
- Những cánh tay to bản giơ cao phần phật trong gió
+ Cuối vườn:
- Mấy đứa chuối con thấy chuối mẹ tập vỗ tay reo vui làm chút
sương cuối cùng rơi vội xuống đất.
b. Đặt câu.
+ Trong khi làm văn , học sinh phải viết câu văn đúng ngữ pháp nghĩa là bản
thân em đó phải xác định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, đâu là các vế
trong câu ghép .
+ Các em phải biết sử dụng các phép liên kết câu như: Phép lặp, phép thế,
phép nối, phép liên tưởng,..., biết sử dụng các biện pháp tu từ về câu( câu hỏi tu
từ, đảo ngữ, điệp ngữ, so sánh, nhân hoá...).
Ví dụ:
- Phép liên kết câu:
Mưa xuân lất phất bay. Cây cối thi nhau đâm chồi nảy lộc, đưa tay đón
những hạt mưa xuân. Với chúng, mưa xuân chính là liều thuốc tiên để sinh tồn
và phát triển.
- Phép lặp:
Dòng sông như dài lụa đào mềm mại. Nó cứ chảy mãi, chảy mãi để mang
phù sa màu mỡ cho đất đai.
- Biện pháp tu từ:
Câu hỏi tu từ
- Bạn có biết cảnh đẹp mà người dân quê em rất đỗi tự
hào không? Đó chính là cảnh thanh bình của biển cả đấy!
- Điệp ngữ :
- Mưa nhảy trên mái tôn, mưa ngã xuống mặt sân, mưa đâm
ào vào bụi cây.
- Điệp câu :
- “ Đẹp quá! Đẹp quá! “ Thật không uổng phí một đêm thức
trắng ngắm cảnh trăng khuya.
Đảo ngữ
- Phất phơ trên cành/ những nụ hoa xuân.
VN
Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng và thường biểu
đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Khi làm bài thông thường học sinh chỉ để ý đến
từ, câu mà ít quan tâm đến đoạn văn.
- Cách trình bày một đoạn văn thường là diễn dịch, quy nạp, song hành, móc
xích, tổng phân hợp. Song đó không phải là phần lý thuyết giáo viên dạy cho
học sinh tiểu học mà nhiện vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết các
đoạn văn, biết trình bày các đoạn văn theo các cấu trúc trên
Ví dụ:
+ Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng
tả trong đoạn. các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.
+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to
Diễn dịch
như quả bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm
thẳm. Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô
điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy.
+ Câu cuối đoạn nêu nhận xét, đánh giá về đối tượng được tả ở
trên. các câu còn lại tả chi tiết các đặc điểm của đối tượng.
+ Ví dụ: Mặt trăng tròn, to như quả bóng vàng treo lơ lửng
trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm. Những vì sao như ngàn
vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm
lộng lẫy.Áánh trăng vàng đổ xuống mái nhà, lồng trong kẽ lá,
chảy xuống nhành cây, tràn ngập khắp con đường trắng xoá.
Khoảng sân đầy ắp trăng, cánh đồng trăng mênh mông. Dưới
ánh trăng, dòng sông lấp lánh như được dát bạc. Ôi, đêm
trăng mới đẹp làm sao !
+ Tả luôn các đặc điểm của đối tượng tả, có thể mỗi đặc
điểm được tả bằng một hoặc hai câu.
+ Ví dụ: Nàng hồng xúng xính trong bộ áo đỏ thắm, nàng cúc
tưng bừng trong chiếc váy màu vàng rực rỡ…tất cả đang toả
Song hành hương thơm ngát. Cây cam mang trên mình những trái cam
- Chỉ ý nghĩa tổng kết, khái quát: Tóm lại, nói tóm lại, nhìn chung,...
- Chỉ ý đối lập, tương phản: Ngược lại, trái lại, nhưng, thế mà, tuy vậy,..
- Từ ngữ thay thế: Do đó, do vậy, vì thế, cho nên,...
+ Dùng câu:
- Dùng câu nối với phần trước của văn bản.
- Dùng câu nối với phần sau của văn bản.
- Dùng câu nối phân trước và phần sau của văn bản.
c3. Quan hệ giữa đoạn văn với đoạn văn.
- Để tạo ra sự lôgic trong diễn đạt thì học sinh có thể dựa vào quan hệ
không gian, quan hệ thời gian, quan hệ đặc điểm( với dạng bài tả cảnh thì
thường dùng quan hệ không gian, quan hệ thời gian )
• Bước 5: Kiểm tra lại toàn bộ bài văn.
-Kiểm tra lại toàn bộ bài văn là bước quan trọng nhưng thực tế đây là bước
mà nhiều giáo viên bỏ qua hoặc nếu có thực hiện thì chỉ lướt qua gọi là có. Sau
khi viết xong bài văn, sau khi nhận bài chấm của cô nhiều em không biết mình
viết không được ở chỗ nào, lỗi sai ở đâu, không hay ở đâu.
* Tác dụng: Đây là bước rất cần thiết, nó giúp người viết sửa chữa những lỗi sai
khi viết văn như: lỗi chính tả, cách dùng từ, đặt câu, tạo đoạn, dấu câu, cách
trình bày và đặc biệt là nhận biết được mình đã làm đúng yêu cầu đề bài chưa
và bổ sung nội dung còn thiếu.
Bước kiểm tra này có thể tự học sinh kiểm tra sau khi viết xong bài( ở
nháp , ở dàn bài chi tiết hoặc bài hoàn chỉnh), khi nhận xét bài của bạn, trong
tiết trả bài. Giáo viên yêu cầu các em thực hiện nghiêm túc 3 bước:
+ Đọc đi đọc lại bài văn
+ Tìm lỗi sai hoặc chưa hay về dàn bài, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn .
+ Sửa lại cho đúng, cho hay.
Các em có thể tự làm một mình hoặc cùng bạn kiểm tra để hoàn thành bảng sau:
Dàn bài
Chưa
hay:....
Sửa:......
..............
.
Dùng từ
- Từ chưa chính xác, chưa hay: ...........................................
- Sửa: ...................................................................................
- Số lượng nhiều hay ít, hay chưa, chính xác chưa:............
- Sửa: .................................................................................
- Lỗi: ..................................................................................
- Sửa: ..................................................................................
Lỗi đặt câu
Câu tả sai ngữ pháp
Câu kể sai ngữ pháp hoặc chưa
hay
Biện pháp tu từ về câu dùng sai
Liên kết câu chưa chính xác
Dấu câu dùng sai
Sửa
......................................................................
......................................................................
......................................................................
....................................................................
....................................................................
Dựng đoạn
Khá
TB
Yếu
SL
2
7
19
2
%
6.7
23.3
63.3
6.7
Lớp 5A
Xếp Trước khi áp dụng( Đầu năm học)
Sau khi áp dụng (Giữa kì II)
loại
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
7
10
15
13
và đặc biệt hứng thú với văn tả cảnh. Mà khi có hứng thú thì học sinh sẽ sản
sinh được nhiều bài văn hay có chất lượng cao. Và một ý nghĩa quan trọng hơn
nữa là đã bồi dưỡng trong tâm hồn các em những xúc cảm về cảnh vật xung
quanh, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên giúp tâm hồn các em ngày thêm trong
sáng.
- Kiến nghị
Đối với nhà trường:
- Từ thực tế dạy học tại trường tiểu học Tĩnh Hải, tôi nhận thấy những biện
pháp trên đã giúp học sinh rất nhiều trong việc “làm tốt bài văn tả cảnh ở lớp
5” Tuy nhiên để học sinh làm tốt hơn nữa thể loại văn tả cảnh thì còn rất cần sự
quan tâm của nhà trường và các cấp có liên quan để những giáo viên chủ nhiệm
như chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ:
- Cần trang bị thêm đồ dùng học tập đặc biệt là các tranh khổ to, băng đĩa
quay hoạt động của các cảnh.
- Thường xuyên tổ chức cho học sinh thăm quan, dã ngoại để học sinh có
thêm nhiều hiểu biết về cảnh. Điều đó sẽ rất tốt cho các em khi viết văn.
- Cần trang bị máy vi tính, máy chiếu cho từng lớp để giáo viên có thể trình
chiếu hình ảnh về cảnh điều đó sẽ giúp các em cụ thể hóa và không mơ hồ về
đối tượng miêu tả.
Đối với người dạy:
- Giáo viên không ngừng học hỏi, tìm tòi để nâng cao hiểu biết cũng như
tìm ra cách truyền đạt kiến thức tốt nhất đến học sinh.
- Giáo viên cho học sinh mở rộng hiểu biết về các loài vật ở mọi giờ học:
trong giờ hoạt động ngoại khóa bằng cách thông qua hệ thống câu đố về cảnh,
trong giờ tự nhiên xã hội, trong giờ khoa học, trong giờ tập đọc...
- Giáo viên phải tổ chức lớp thật tốt trong những giờ học đặc biệt là những
giờ học ngoại khóa hay ngoài trời.
- Giáo viên phải tạo thói quen cho học sinh ghi chép những điều mình quan
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh
nghiệm………………………………….....2
2.2.Thực
trạng
vấn
đề
.................................................................
………………..3
2.3.Giải
pháp
đã
…………………………………..4
2.4.Hiệu
sử
dụng
................................
quả………………………………………………………………….....14