UBND HUYỆN TÂN THẠNH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP NĂM
LÀM TỐT BÀI VĂN TẢ NGƯỜI
Tên tác giả: Trần Công Minh
Đơn vị: Trường Tiểu học Đá Biên
Tân Thạnh, năm 2016
UBND HUYỆN TÂN THẠNH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP NĂM
LÀM TỐT BÀI VĂN TẢ NGƯỜI
Tên tác giả: Trần Công Minh
Đơn vị: Trường Tiểu học Đá Biên
Tân Thạnh, năm 2016
Nhận xét của
Hội đồng khoa học giáo dục
- Cấp cơ sở:
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………,
ngày
tháng năm 2016
Mặc dù đối tượng tả người ở lớp 5 là những người gần gũi, quen thuộc với
các em. Nhưng mỗi người có hình dáng, tính nết, tình cảm, suy nghĩ, hoạt
động,… riêng. Đòi hỏi học sinh phải trải qua quá trình tiếp xúc, quan sát tỉ
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 1
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
mỉ thì mới nhận ra đặc điểm hình dáng và tính cách riêng của từng người.
Bên cạnh đó, việc miêu tả đối tượng làm cuốn hút người đọc, giúp người
đọc hình dung hình ảnh đối tượng còn phụ thuộc vào khả năng tư duy và
vốn từ tích luỹ được của từng học sinh. Thông thường các em chỉ miêu tả
đối tượng một cách chung chung. Các em chưa biết chọn lọc những nét tiêu
biểu làm nổi bật đặc điểm riêng của mỗi nhân vật. Để khắc phục tình trạng
trên và giúp học sinh làm được những bài văn tả người hay, cuốn hút người
đọc hơn tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh
lớp Năm làm tốt bài văn tả người”.
Năm học 2014-2015, tôi đã nghiên cứu, áp dụng đề tài: “Một số biện
pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn miêu tả”. Năm học 20152016, tôi đi sâu nghiên cứu thể loại văn tả người qua đề tài: “Một số biện
pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người” trên cơ sở kế thừa
và đào sâu đề tài năm trước. Trong đề tài, tôi có chỉnh sửa nội dung của các
giải pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh năm nay. Đồng thời, tôi bổ
sung thêm các giải pháp: “Hướng dẫn học sinh miêu tả những đặc điểm
chung và nét tiêu biểu của nhân vật.” và “Đổi mới cách đánh giá.”
Thể loại văn miêu tả ở lớp Năm gồm các kiểu bài như: tả cảnh, tả
người, tả đồ vật, con vật, cây cối. Trong đề tài: “Một số biện pháp giúp
học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người” tôi đi sâu nghiên cứu các giải
Sĩ số
2012-2013
2013-2014
12
10
Năm học
Sĩ số
2014-2015
11
Điểm dưới 5
SL
2
1
TL
16,7%
10%
Bài làm chưa
đạt yêu cầu.
1
ràng, dùng từ phù hợp,
viết câu đúng ngữ pháp,...
4
36,4%
Bảng số liệu trên cho thấy:
- Năm học: 2012-2013 chỉ có 8,3% học sinh đạt điểm 9 đến 10
nhưng có đến 16,7% học sinh đạt điểm dưới 5.
- Năm học: 2013-2014 tuy số học sinh đạt điểm 9 đến 10 có nâng lên
đạt 20% nhưng tỉ lệ học sinh có điểm dưới 5 vẫn còn ở mức cao là 10%.
- Năm học: 2014-2015 nhờ vận dụng đề tài “Một số biện pháp giúp
học sinh lớp Năm làm tốt bài văn miêu tả” mà khả năng làm văn miêu tả
của các em có tăng lên. Nhưng riêng phần văn tả người thì bài làm của các
em vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể vẫn còn 9,1% học sinh làm bài chưa đạt
yêu cầu.
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 3
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
Để khắc phục thực trạng trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu
nguyên nhân. Tôi đã tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên là:
+ Tập làm văn là một phân môn khó và đa số học sinh không thích
học phân môn này. Từ đó, các em ít đầu tư cho việc học Tập làm văn.
+ Mỗi người có hình dáng, tính nết, hoạt động và mối quan hệ xã hội
Quan sát là khâu rất quan trọng khi làm văn miêu tả nói chung và tả
người nói riêng. Không quan sát thì không thể đảm bảo tính chân thực của
đối tượng miêu tả. Quan sát và tìm ý cần phải đi đôi với nhau không thể
tách riêng. Nếu quan sát quá sơ sài thì sẽ bỏ sót những chi tiết quan trọng
cần thiết cho bài văn. Quan sát kĩ nhưng học sinh không biết thu nhặt
những ý cần thiết thì bài văn cũng không hoàn thiện. Cho nên, tôi yêu cầu
học sinh khi quan sát phải kết hợp với tìm ý rồi ghi lại các ý tìm được.
Trên thực tế, thường thì học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Điều này
khiến học sinh không cảm nhận hết đặc điểm đối tượng miêu tả. Vì vậy, tôi
hướng dẫn học sinh cần quan sát đối tượng miêu tả thật tỉ mỉ bằng nhiều
giác quan như mắt nhìn, mũi ngửi, tai nghe hay dùng cảm xúc để cảm nhận,
… Cụ thể là:
- Dùng mắt để quan sát và miêu tả về màu sắc như: màu da nâu sạm
nắng, màu đỏ hồng của đôi môi, màu đen óng ả của mái tóc,… Mắt còn cho
ta cảm nhận về dáng vấp, nét mặt, ánh mắt của con người như: dáng mẹ
gầy gầy, lưng bà khom khom, nét mặt ông hiền từ, ánh mắt bạn long lanh,...
- Dùng tai để nghe và cảm nhận về âm thanh như: tiếng giảng bài
trong trẻo của cô, giọng nói ấp áp của cha, lời ru ngọt ngào của mẹ, tiếng
cười đùa hồn nhiên của em nhỏ,…
- Dùng mũi để ngửi mùi vị của đối tượng miêu tả: mùi thơm dìu dịu
của mái tóc, mùi khen khét của làn da rám nắng, mùi mồ hôi của cha sau
buổi làm đồng…
- Ngoài ra, ta cần dùng cảm xúc để cảm nhận tình cảm nhân vật giúp
bài văn được sinh động, có hồn hơn. Người miêu tả có dùng cảm xúc cảm
nhận thì mới thấu hiểu được cảm xúc của người được miêu tả. Có như thế
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 5
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 6
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
- Việc làm cụ thể biểu hiện tình cảm, cá tính, cung cách, cư xử; đặc
biệt là tinh thần làm việc.
III. Kết luận: Nêu cảm nghĩ.
- Nhận xét, suy nghĩ về người mình tả.
- Tình cảm của em đối với người đó.
Nhờ việc lựa chọn, sắp xếp hình ảnh quan sát hợp lí giúp cho bài văn
của học sinh tránh được sự liệt kê tràn lan các chi tiết của nhân vật. Nhưng
nội dung bài văn của các em vẫn đảm bảo đầy đủ, phong phú và sinh động.
2/ Hướng dẫn học sinh miêu tả những đặc điểm chung và nét tiêu biểu
của nhân vật:
Ở mỗi nhân vật sẽ có một số đặc điểm giống với những nhân vật
khác. Đồng thời nhân vật nào cũng có một vài nét đặc trưng, tiêu biểu làm
nên sự khác biệt giữa nhân vật đó với các nhân vật khác. Cho nên khi tả
người, giáo viên cần hướng dẫn học sinh miêu tả những đặc điểm chung và
cả nét riêng, tiêu biểu của nhân vật. Có như vậy bài văn mới sinh động, hấp
dẫn. Để giúp học sinh vừa miêu tả được những đặc điểm chung vừa làm nổi
bật được nét đặc trưng riêng của nhân vật, tôi đã làm những công viêc sau:
Trước tiên, tôi giúp học sinh nắm vững các từ ngữ gợi tả về hình
dáng, tính tình, hoạt động thường gặp ở nhiều nhận vật. Để khi miêu tả, học
sinh biết sử dụng từ ngữ phù hợp. Tôi không cung cấp sẵn cho học sinh vốn
từ mà trong quá trình dạy học, tôi quan tâm khơi gợi để học sinh tự tìm
kiếm, phát hiện ra chúng. Tôi chỉ giới thiệu thêm những từ mà học sinh
* Tả đứa trẻ thì thường dùng các từ ngữ: thật thà, thông minh, nhanh
trí, hiếu thảo, chăm học, hồn nhiên, ham chơi, tinh nghịch, nghịch ngợm,
ngoan ngoãn, lễ phép, vui vẻ, hay cười, …
Tôi không quên nhắc nhở học sinh khi tả về một nhân vật không nên
sử dụng hết các từ ngữ trên. Cũng không nên tùy tiện chọn một vài từ ngữ
rồi đưa vào bài văn miêu tả. Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào quan sát thực
tế (biện pháp quan sát được thể hiện ở giải pháp 1) rồi chọn ra từ ngữ phù
hợp với đặc điểm của nhân vật để tả. Đồng thời tôi lưu ý với các em: ở mỗi
nhân vật cụ thể sẽ có một vài nét riêng nào đó về hình dáng, tính cách hay
hoạt động khác với đa số người khác. Chúng ta cần đặc biệt lưu ý miêu tả
những chi tiết ấy. Chính nhờ những chi tiết này tạo nên nét riêng của nhân
vật. Làm cho bài văn thêm đặc sắc, hấp dẫn. Tuy nhiên chi tiết ấy là gì,
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 8
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
giáo viên không thể gợi ý sẵn cho học sinh. Mà học sinh phải dựa vào đặc
điểm thực tế của nhân vật mình đang tả. Điểm nào của nhân vật là nổi bật ,
khác biệt thì tập trung nhấn mạnh. Chẳng hạn như:
* Bà em tuy lớn tuổi nhưng mái tóc bà vẫn còn đen và dày. Trên
khuôn mặt bà đã có nhiều nếp nhăn. Tính bà rất vui vẻ, miệng bà hay cười
nên trông bà còn tươi trẻ.
* Bạn Ngọc có khuôn mặt bầu bĩnh rất đáng yêu… Tính tình bạn rất
hồn nhiên, vui vẻ. Nhưng lúc Ngọc dò bài cho các bạn, vẻ mặt bạn ấy rất
nghiêm nghị, trông bạn giống như cô giáo nhỏ.
Qua thực hiện giải pháp này mà học sinh lớp tôi không những miêu
Như vậy, không chỉ những học sinh được luyện nói trước lớp có thể
làm bài tốt hơn mà kể cả những học sinh khác trong lớp cũng viết bài tốt
hơn. Bởi vì: bản thân các em cũng phải suy nghĩ, để phân tích, đánh giá bài
làm của bạn và các em cũng được nghe giáo viên sửa sai. Vận dụng
phương pháp này, học sinh được thực hành nhiều và được sửa sai nhiều nên
kết quả làm văn viết của học sinh lớp tôi tiến bộ rất nhanh.
4/ Hướng dẫn học sinh sửa sai:
Nếu học sinh không biết mình làm sai ở chỗ nào hoặc biết được chỗ
sai mà các em không biết cách sữa lỗi thì chắc chắn các em sẽ tiếp tục sai ở
lần làm bài sau. Cho nên, việc trước tiên là tôi giúp cho học sinh thấy rõ:
bài làm của các em sai ở chỗ nào. Từ đó, tôi định hướng cho học sinh tự
hoàn thiện bài làm của mình. Tuy nhiên, hướng dẫn các em sửa sai, không
thể hướng dẫn chung chung mà phải sửa sai tùy vào từng bài viết, từng lỗi
cụ thể. Chẳng hạn như:
4.1/ Đối với lỗi viết câu thiếu thành phần chính:
Câu có đầy đủ thành phần chính thì ý nghĩa của câu sẽ rõ ràng, giúp
người đọc dễ hiểu. Thiếu một trong hai thành phần chính, ý nghĩa của câu
sẽ không được trọn vẹn. Khi thấy học sinh viết câu thiếu thành phần chính,
tôi dựa vào ý còn thiếu của câu để đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ. Từ
đó, em sẽ nhận ra bộ phận còn thiếu để bổ sung.
Ví dụ: Học sinh viết: “Bạn Hoa rất chăm học. Vì vậy học rất giỏi.”
Câu: “Vì vậy học rất giỏi.” còn thiếu chủ ngữ. Để giúp học sinh nhận
ra thành phần còn thiếu và biết cách sửa, tôi đặt câu hỏi: “Vì vậy ai học rất
giỏi?” Học sinh sẽ trả lời: “Vì vậy Hoa học rất giỏi.”
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 10
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 11
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
dễ gây cho người đọc sự khó hiểu hoặc hiểu không đúng ý mình muốn diễn
đạt. Vì vậy khi viết văn, ta cần phải đặt dấu câu.
Để sửa câu này, trước tiên, tôi cho học sinh phân tích cấu tạo của
câu. “Đi làm về/ mẹ// còn tắm cho em Bo/ giặt đồ/ nấu cơm”
Trạng ngữ
CN
VN1
VN2
VN3
Đồng thời để giúp học sinh biết đặt dấu câu phù hợp, tôi cho học
sinh nhắc lại tác dụng (cách dùng) của dấu chấm (.) và dấu phẩy (,) đã học
ở lớp dưới. Sau khi học sinh nhớ lại: “Dấu chấm đặt ở cuối câu kể để kết
thúc câu kể. Dấu phẩy để ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu;
ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ; ngăn cách các vế trong câu
ghép.”, các em sẽ biết đặt các dấu câu phù hợp cho câu văn trên.
- Lỗi dùng dấu câu chưa phù hợp:
Ví dụ: “Con yêu mẹ nhiều lắm.”
tôi tuyệt đối không cho học sinh học thuộc các bài văn mẫu. Và luôn luôn
theo dõi, nhắc nhở học sinh không nên sao chép bài của bạn hay chép theo
sách hướng dẫn,…
Như vậy, giải pháp này giúp học sinh nhận biết được chỗ còn hạn
chế ở bài làm của mình và biết cách sửa chữa để bài viết được hoàn thiện
hơn. Nhờ đó, học sinh nhớ lâu và ít sai ở bài làm sau.
5/ Hướng dẫn học sinh sử dụng nghệ thuật trong miêu tả.
Văn miêu tả là sử dụng lời văn có hình ảnh và cảm xúc làm cho
người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể, sinh động về con người, sự
vật, hiện tượng trong đời sống. Nhưng đa số học sinh không biết sử dụng
các biện pháp nghệ thuật khi viết văn làm cho bài văn của các em quá khô
khan. Một số em có sử dụng biện pháp nghệ thuật trong bài văn thì cũng sử
dụng chưa phù hợp. Có em quá lạm dụng biện pháp nghệ thuật làm cho bài
văn mất đi sự tự nhiên. Dùng nghệ thuật trong miêu tả một cách phù hợp sẽ
giúp cho bài văn hấp dẫn, cuốn hút người đọc hơn.
Cho nên, tôi đã hướng dẫn học sinh lớp mình biết sử dụng các biện
pháp nghệ thuật khi miêu tả. Các biện pháp nghệ thuật phù hợp để các em
sử dụng là: nhân hoá, so sánh. Trong bài văn tả người, biện pháp nghệ thuật
thường dùng là so sánh. Biện pháp nghệ thuật này học sinh đã được học từ
lớp 2; 3 nhưng chỉ mới ở mức độ đơn giản. Vì vậy, để giúp học sinh nhớ lại
và vận dụng nghệ thuật so sánh vào bài văn tả người, tôi làm như sau:
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 13
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
Trước tiên, tôi cho học sinh nhắc lại khái niệm về biện pháp nghệ
Trang 14
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
Luyện từ và câu là phân môn giúp học sinh mở rộng hệ thống hoá
vốn từ. Thông qua dạy Luyện từ và câu tôi mở rộng vốn từ cho học sinh
qua các bài tập. Khi dạy, tôi không cung cấp vốn từ sẵn cho học sinh mà
đưa ra gợi ý theo chủ đề để học sinh tự tìm ra những từ ngữ theo chủ đề.
Sau đó, tôi ghi hết các từ các em vừa tìm được lên bảng lớp. Tôi cho học
sinh nhận xét, loại bỏ những từ ngữ không phù hợp. Sau đó, tôi chốt lại
những từ đúng và bổ sung thêm các từ mà học sinh chưa tìm được rồi cho
học sinh đọc lại những từ ngữ đó nhiều lần. Với cách làm này, tôi đã giúp
học sinh tự phát hiện và ghi nhớ các từ ngữ theo từng chủ đề. Như vậy, các
em sẽ tích lũy được vốn từ cho bản thân.
Ví dụ: Bài “Đại từ xưng hô” trang 104 sách Tiếng Việt 5, tập 1. Ở
bài tập 3 yêu cầu: “3. Tìm những từ em vẫn dùng để xưng hô:
- Với thầy, cô.
- Với bố, mẹ.
- Với anh , chị, em.
- Với bạn bè.” Ở bài tập này, tôi chia lớp thành 5 nhóm và cho mỗi
nhóm thảo luận một yêu cầu:
Nhóm 1: Tìm những từ dùng để gọi và tự xưng với thầy, cô.
Nhóm 2: Tìm những từ dùng để gọi và tự xưng với bố, mẹ.
Nhóm 3: Tìm những từ dùng để gọi và tự xưng với anh, chị.
Nhóm 4: Tìm những từ dùng để gọi và tự xưng với em.
Nhóm 5: Tìm những từ dùng để gọi và tự xưng với bạn bè.
Các nhóm thảo luận và ghi kết quả ra giấy. Thảo luận xong, đại diện
nhóm trình bày. Tôi gọi học sinh nhận xét và loại bỏ những từ học sinh tìm
được nhưng không đúng với yêu cầu đề và bổ sung thêm những từ phù hợp.
bạn, cậu,…
mình, tôi, tớ,…
Tuy nhiên, chỉ mở rộng vốn từ cho học sinh trong những bài dạy mở
rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu là chưa đủ. Tôi còn quan tâm
giúp học sinh mở rộng vốn từ ở cả các môn học khác. Cho nên, khi dạy các
môn học khác hay trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp nếu có những từ
mới, khó hiểu, tôi đều giảng nghĩa cho học sinh nắm để giúp các em bổ
sung vốn từ. Tóm lại, tôi quan tâm giúp học sinh mở rộng vốn từ mọi lúc,
mọi nơi. Nhờ vậy, các em có vốn từ phong phú.
Bên cạnh đó thì câu, đoạn là đơn vị để tạo nên bài văn. Muốn có một
bài văn hay thu hút người đọc thì học sinh phải biết dùng từ đặt câu và viết
được đoạn văn.Việc rèn luyện cho học sinh dùng từ, viết câu và đoạn văn
cũng được tôi đặc biệt quan tâm. Bất cứ lúc nào nếu học sinh dùng từ chưa
phù hợp hay đặt câu, dựng đoạn chưa hay, tôi đều quan tâm giúp đỡ học
sinh sửa lại cho hay hơn. Những việc làm trên đã hình thành cho học sinh
thói quen dùng từ phù hợp, đặt câu đúng ngữ pháp, viết đoạn văn có cấu
trúc chặt chẽ. Điều đó góp phần làm cho bài văn tả cảnh của các em thu
hút người đọc hơn.
6.2 Giúp học sinh tích luỹ hình ảnh miêu tả.
Học sinh chỉ tích lũy những hình ảnh miêu tả trong những giờ Tập
làm văn không là chưa đủ. Cho nên ngoài giờ học Tập làm văn, tôi còn
quan tâm dẫn chứng, phân tích hình ảnh tả cảnh từ những đoạn văn, những
bài Tập đọc có liên quan để học sinh chọn lọc, tích luỹ hình ảnh miêu tả.
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 16
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 17
Một số biện pháp giúp học sinh lớp Năm làm tốt bài văn tả người.
giúp đỡ,… Đánh giá giúp học sinh tự điều chỉnh cách học, có hứng thú học
tập và rèn luyện để tiến bộ,… Như vậy, đánh giá là khâu rất quan trọng
trong quá trình dạy học. Theo Thông tư 30 ngày 28 tháng 8 năm 2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đánh giá học sinh Tiểu học quy định:
“Không dùng điểm số để đánh giá thường xuyên.” Cho nên, việc đánh giá
thường xuyên đối với học sinh Tiểu học phải thể hiện bằng nhận xét.
Vì vậy, khi đánh giá bài làm của học sinh, tôi luôn quan tâm đánh giá
bằng nhận xét. Tôi nhận xét bằng lời nói trực tiếp hoặc ghi nhận xét vào vở
các em. Tôi không nhận xét chung chung như: “Bài làm tốt.”, “Em viết văn
được.”, “Bài văn chưa đạt”,… Mà tôi chỉ rõ cho các em thấy được cái hay,
điểm nổi bật từ bài viết của mình để các em tiếp tục phát huy.
Ví dụ:
* “Em làm bài tốt, biết sử dụng từ ngữ gợi tả phù hợp. Em cần phát
huy nhé!”
* “Bài văn của em rất đặc sắc, miêu tả được chi tiết nổi bật của
nhân vật. Em thật đáng khen!”
* “Bài văn đầy đủ ý. Câu văn rất dễ hiểu và liền mạch. Tuyệt quá!”
* “Em dùng từ và đặt câu rất tốt! Thầy rất thích bài làm của em!”
* “Bài văn của em rất sáng tạo. Chữ viết đẹp lại không sai chính tả.
Em xuất sắc lắm!”, ...
Đối với những bài làm còn thiếu sót, trước tiên tôi tìm ưu điểm để
động viên, khen ngợi các em rồi mới nhận xét về những hạn chế và đưa ra
định hướng để học sinh khắc phục hạn chế giúp học sinh tự tin vươn lên.
+ Khi học sinh nhận xét bài làm của bạn: “Bạn làm văn hay.” Tôi gợi
ý thêm: “Em thấy bài làm của bạn hay ở chỗ nào?”, “Bạn miêu tả đúng
yêu cầu của đề bài chưa?”, “Bạn dùng từ, đặt câu ra sao?”, “Trong bài
văn bạn có sử dụng biện pháp nghệ thuật nào không?”, “Chữ viết của bạn
thế nào, có sai lỗi chính tả không?”,…
+ Hoặc khi học sinh đưa ra lời nhận xét: “Bài làm chưa hay.” Tôi
cũng gợi mở giúp các em định hướng cho bạn: “Em thấy bạn làm chưa
hay ở chỗ nào?”, “Theo em, bạn cần làm gì để bài làm hay hơn?”
Nêu được lời nhận xét phù hợp và cụ thể là việc làm rất khó đối với
học sinh. Đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì rèn luyện cho các em. Ngày
nào cũng quan tâm rèn luyện thì dần dần các em sẽ đưa ra được lời nhận
xét cụ thể, phù hợp hơn. Qua kiên trì tập luyện cho các em mà hiện nay đa
số học sinh lớp tôi đều mạnh dạn, tự tin khi tham gia nhận xét. Lời nhận xét
của các em cũng rất cụ thể, rõ ràng.
Nhờ tôi quan tâm thực hiện tốt việc đánh giá bằng nhận xét mà học
sinh hứng thú hơn trong học tập. Các em biết rõ ưu điểm của bản thân để
tiếp tục phát huy đồng thời nhận ra thiếu xót của mình và tự tin khắc phục.
Như vậy, chất lượng bài văn của các em đã nâng lên rất nhiều.
Người thực hiện : Trần Công Minh
Trang 19