BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ CHI PHÍ XỬ LÝ NƢỚC SINH HOẠT
DO Ô NHIỄM SÔNG ĐỒNG NAI TẠI
THÀNH PHỐ BIÊN HÕA
LÊ THỊ BÍCH THANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2010
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trƣờng Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh Giá Tổn Hại Do
Ô Nhiễm Nƣớc Mặt Sông Đồng Nai Đến Vấn Đề Nƣớc Sinh Hoạt Tại Thành Phố
Biên Hòa” do LÊ THỊ BÍCH THANH, sinh viên khóa 32, ngành Kinh Tế Tài Nguyên
Môi Trƣờng, đã bảo vệ thành công trƣớc hội đồng vào ngày
Ngƣời hƣớng dẫn
TS. Đặng Minh Phƣơng
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
Ngày
Cảm ơn Chú Liêm, anh Thanh, chị Hà công tác tại Xí Nghiệp Nƣớc Thiện Tân,
và các Phòng Ban tại Thành Phố Biên Hòa nhƣ Sở Tài Nguyên và Môi Trƣờng tỉnh
Đồng Nai, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Chi Cục Bảo Vệ Môi Trƣờng
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phƣơng.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến tất cả bạn bè lớp KM32 đã động viên và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07/2010
Sinh Viên
Lê Thị Bích Thanh
NỘI DUNG TÓM TẮT
LÊ THỊ BÍCH THANH. Tháng 07 năm 2010. “Đánh Giá Chi Phí Xử Lý
Nƣớc Sinh Hoạt Do Ô Nhiễm Sông Đồng Nai Tại Thành Phố Biên Hòa”
LE THI BICH THANH. July 2010. “Evaluating The Cost Of Living Water
Treatment River Pollution In Dong Nai, Bien Hoa City”
Khóa luận nghiên cứu đánh giá tổn hại kinh tế cho ngƣời dân TP Biên Hòa và
đơn vị kinh doanh là Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng Cấp Nƣớc Đồng Nai
(gọi tắt là Công ty Cấp nƣớc Đồng Nai) do ô nhiễm nguồn nƣớc mặt sông Đồng Nai.
Dựa vào giá nƣớc trên thị trƣờng đề tài đã tính đƣợc thiệt hại cho ngƣời dân khi giá
nƣớc sinh hoạt tăng là 703.800 đồng/hộ/năm,với 97.496 hộ gia đình trên địa bàn TP
Biên Hòa đang sử dụng nguồn nƣớc sinh hoạt do Công ty Cấp nƣớc Đồng Nai cung
cấp thì tổng thiệt hại sẽ là 6.861 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, để tài đã thu thập nguồn số liệu thứ cấp từ hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty từ năm 2006 đến 2009 để tính toán, xây dựng hàm chi phí xử lí
nƣớc bằng phƣơng pháp phân tích hồi quy, dựa trên biến môi trƣờng đại diện là BOD5.
Qua tính toán đã xác định đƣợc tổn hại cho Công ty từ năm 2006 đến 2009 do chi phí
xử lí nƣớc tăng là 8.146 triệu đồng. Tổng tổn hại xã hội ƣớc tính trong 4 năm là 15.007
triệu đồng. Đề tài cũng dựa vào nồng độ BOD5 để dự báo chất lƣợng nƣớc sông Đồng
2
1.2.1. Mục tiêu chung
2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
3
1.3. Phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
3
1.3.2. Địa bàn nghiên cứu
3
1.3.3. Thời gian nghiên cứu
3
1.3.4. Phạm vi nội dung thực hiện
3
CHƢƠNG 3. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lí luận
22
3.1.1. Sự ô nhiễm môi trƣờng nƣớc
22
3.1.2. Khái niệm ô nhiễm nƣớc mặt và tầm quan trọng của nƣớc đối với sự sống22
3.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nƣớc
v
15
3.1.4. Tài nguyên công
17
3.1.5. Chính sách quản lí tài nguyên nƣớc
18
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
18
3.2.1. Phƣơng pháp phân tích hồi quy
4.2.3. Ô nhiễm nguồn nƣớc sông Đồng Nai từ nuôi trồng thủy sản.
34
4.2.4. Ô nhiễm nguồn nƣớc sông Đồng Nai từ hoạt động chăn nuôi
36
4.2.5. Ô nhiễm nguồn nƣớc sông Đồng Nai từ hoạt động dân sinh.
37
4.2.6. Hoạt động sử dụng đất khác
39
4.3. Hiện trạng cung cấp nƣớc của Công ty Xây dựng Cấp nƣớc Đồng Nai
40
4.4. Ƣớc tính mức thiệt hại do ô nhiễm nguồn nƣớc mặt sông Đồng Nai
42
4.4.1. Ƣớc tính thiệt hại đối với ngƣời dân TP Biên Hòa
42
4.4.2. Tính toán tổn hại cho Công ty Cấp Nƣớc Đồng Nai qua hàm chi phí xử lí 43
4.4.3. Phân tích mô hình và ƣớc lƣợng hệ số co giãn của hàm chi phí xử lí nƣớc 45
5.2. Kiến nghị
56
5.2.1. Đối với nhà máy nƣớc
56
5.2.2. Đối với các cơ quan chức năng
56
5.2.3. Đối với ngƣời dân
57
5.2.4. Đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp
57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
58
PHỤ LỤC
vii
CPXL
Chi phí xử lí
BVTV
Bảo vệ thực vật
BVMT
Bảo vệ môi trƣờng
KCN
Khu công nghiệp
TNMT
Tài nguyên môi trƣờng
WWF
Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Giá Trị Giới Hạn Các Thông Số Chất Lƣợng Nƣớc Mặt Cho Nguồn Nƣớc
Bảng 4.6. Tải Lƣợng Ô Nhiễm Từ Sản Xuất Nông Nghiệp TP Biên Hòa Năm 2008
34
Bảng 4.7. Tải Lƣợng Ô Nhiễm Do Nuôi Cá Lồng, Bè Tại TP Biên Hòa Năm 2008 35
Bảng 4.8. Tỷ Lệ Tăng Dân Số Tự Nhiên của TP Biên Hòa
37
Bảng 4.9. Tải Lƣợng Ô Nhiễm Từ Hoạt Động Dân Sinh Tại TP Biên Hòa Năm 2008
38
Bảng 4.10. Dự Báo Tải Lƣợng Các Chất Ô Nhiễm Đổ Vào Sông Đồng Nai Tại TP
Biên Hòa Từ Hoạt Động Dân Sinh Năm 2012
38
Bảng 4.11.Tình Hình Cung Cấp Nƣớc Qua Các Năm Của Công Ty
40
Bảng 4.12. Tăng Quy Mô Lƣợng Khách Hàng Sử Dụng Nƣớc Qua Các Năm
41
Bảng 4.13. Lƣợng Hóa Chất Sử Dụng Cho Xử Lí Nƣớc Cấp Sinh Hoạt
41
Bảng 4.14. Đơn Giá Bán Nƣớc Theo Quyết Định Của UBND Tỉnh Đồng Nai
42
26
Hình 4.3. Diễn Biến Hàm Lƣợng BOD5 14 Mặt Cắt
27
Hình 4.4. Diễn Biến Hàm Lƣợng N-NH4+ 14 Mặt Cắt
28
Hình 4.5. Diễn Biến Hàm Lƣợng TSS 14 Mặt Cắt
29
Hình 4.6. Biểu Đồ Cơ Cấu Ngành Nghề Theo Hộ Tại TP Biên Hòa
30
Hình 4.7. Các Nguồn Gây Ô Nhiễm Sông Đồng Nai Tại TP Biên Hòa
31
Hình 4.8. Nuôi Cá Bè Trên Sông Đồng Nai
35
Hình 4.9. Hộ Chăn Nuôi Heo Tại TP Biên Hòa – Đồng Nai
36
Nƣớc là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là thành phần thiết yếu của sự sống và
môi trƣờng. Nƣớc không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật và
nhân loại trên trái đất. Nƣớc quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nƣớc.
Con ngƣời mỗi ngày cần 250 lít nƣớc cho sinh hoạt, 1.500 lít nƣớc cho hoạt động công
nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nƣớc chiếm 99% trọng lƣợng sinh vật
sống trong môi trƣờng nƣớc và 44% trọng lƣợng cơ thể con ngƣời. Theo tính toán tài
nguyên nƣớc trên thế giới hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thủy quyển 97,2%
(1,35 tỷ km3), phần còn lại chứa trong khí quyển và thạch quyển, 97% lƣợng nƣớc của
Trái Đất là nƣớc mặn, 3% là nƣớc ngọt, trong đó có khoảng hơn 3/4 lƣợng nƣớc con
ngƣời không thể sử dụng đƣợc vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng
hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trong lục địa. Chỉ có khoảng 0,5% nƣớc ngọt hiện
diện trong sông, suối, ao, hồ mà con ngƣời đã và đang sử dụng. Lƣợng nƣớc trong khí
quyển chiếm khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007%
tổng lƣợng nƣớc trên Trái Đất. Có thể nói lƣợng nƣớc có thể sử dụng phục vụ cho nhu
cầu của con ngƣời là rất ít ỏi. Nhƣng cùng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội và gia
tăng dân số một cách mạnh mẽ, tài nguyên nƣớc đang đứng trƣớc nguy cơ suy thoái
cạn kiệt. Sự suy thoái tài nguyên nƣớc cùng với sự gia tăng ô nhiễm khiến cho nguồn
nƣớc sạch đang ngày một giảm sút rất nhanh chóng tại nhiều nơi. Nƣớc là một tài
nguyên có thể tái tạo nhƣng dễ bị tổn thƣơng nếu khai thác sử dụng không hợp lý. Do
đó vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên nƣớc là vấn đề rất cấp thiết hiện nay.
Bên cạnh đó nƣớc còn là một tài nguyên có giá trị kinh tế nên trong sử dụng phải coi
trọng giá trị kinh tế của tài nguyên nƣớc.
Việt Nam là quốc gia có nguồn nƣớc phong phú, dồi dào từ hệ thống sông ngòi
kênh rạch chằng chịt. Một trong những hệ thống sông lớn phải kể đến là lƣu vực sông
Đồng Nai - đóng một vai trò vô cùng đặc biệt trong việc phát triển kinh tế xã hội đối
với vùng kinh tế phía Nam và của cả nƣớc nhƣ cấp nƣớc sinh hoạt, công nghiệp và
dịch vụ; thủy điện - thủy lợi; nuôi trồng thủy sản; giao thông vận tải thủy. Tuy nhiên
song song với quá trình phát triển, các vấn đề liên quan đến tài nguyên nƣớc đã nảy
máy nƣớc.
Đánh giá tổn hại về mặt kinh tế cho ngƣời dân khi phải mua nƣớc sinh hoạt với
giá cao hơn và cho Công ty khi chi phí xử lí nguồn nƣớc đầu vào tăng.
Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và bảo vệ nguồn nƣớc tại hệ thống sông
Đồng Nai.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của đề tài là sông Đồng Nai, đoạn cung cấp nguồn
nƣớc cho phần lớn các hoạt động sản xuất của ngƣời dân cũng nhƣ các nhà máy xử lí
nƣớc trên địa bàn TP Biên Hòa.
1.3.2. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài đƣợc tiến hành tại TP Biên Hòa – Đồng Nai
1.3.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 25/03/2010 đến ngày 20/06/2010. Trong đó
thời gian 25/03/2010 đến 20/05/2010 điều tra, thu thập số liệu thứ cấp. Thời gian còn
lại tiến hành nhập số liệu, tổng hợp và tính toán số liệu, chạy mô hình và viết báo cáo.
1.3.4. Phạm vi nội dung thực hiện
Do hạn chế về số liệu thứ cấp sẵn có và thời gian nghiên cứu tƣơng đối ngắn
nên đề tài chỉ nhằm vào các nội dung chính là:
Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt sông Đồng Nai
Tìm hiểu các nguồn gây ô nhiễm cho sông Đồng Nai, tải lƣợng ô nhiễm của
từng loại hoạt động tại TP Biên Hòa dựa trên số liệu thứ cấp.
Thông qua việc tìm hiểu các bƣớc trong quy trình xử lý nƣớc tại Công ty, đề tài
xác định chi phí xử lý nƣớc tăng thêm khi chất lƣợng nƣớc bị ô nhiễm.
Xác định giá nƣớc thực và tính toán thiệt hại kinh tế cho ngƣời dân TP Biên
Hòa và phía Công ty Cấp nƣớc Đồng Nai.
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ, khai thác và quản lý nguồn nƣớc để hạn chế
ô nhiễm tại khu vực nghiên cứu.
3
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu kinh tế về tổn hại của ô nhiễm nƣớc đối với ngƣời dân và nhà máy
là một hƣớng đề tài còn khá mới mẻ. Các nghiên cứu trƣớc đây về đề tài ô nhiễm
nguồn nƣớc chủ yếu tập trung dƣới góc độ kĩ thuật nhằm tính toán, quan trắc động
thái, chất lƣợng nƣớc mà chƣa đƣa yếu tố kinh tế vào phục vụ công tác khai thác và
quản lý. Lý do là nguồn số liệu thứ cấp cần thiết không có sẵn và khó thu thập. Do
vậy, trong quá trình thực hiện đề tài này tôi chỉ tham khảo các nghiên cứu của những
tác giả, nhóm tác giả dƣới đây:
Dự án “Ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nƣớc trong hồ Trị An và hạ lƣu sông Đồng
Nai”,2008 của tổ chức WWF, Việt Nam, nghiên cứu về các mối liên quan giữa các
phƣơng thức sử dụng đất của cộng đồng địa phƣơng và chất lƣợng nƣớc giữa hồ Trị
An và sông Đồng Nai. Nghiên cứu đã dùng các công cụ kĩ thuật trong quan trắc, đo
lƣờng chất lƣợng nƣớc của sông Đồng Nai, tính toán trữ lƣợng chất ô nhiễm, xác định
các nguồn gây ô nhiễm. Qua đó đã xác định chất lƣợng nƣớc sông Đồng Nai, cụ thể là
đoạn chảy qua TP Biên Hòa bị ô nhiễm bởi các hoạt động sử dụng đất, rừng, công
nghiệp, nông nghiệp và hoạt động dân sinh. Ô nhiễm nƣớc tại TP Biên Hòa đã ảnh
hƣởng tới, hệ sinh thái, sức khỏe con ngƣời, và chi phí xử lí nƣớc cấp đối với nhà máy
qua công tác điều tra, khảo sát.
Nguyễn Thị Kim Hoàng, “Đánh giá tổn hại kinh tế ở xã Phƣớc Thái, huyện
Long Thành, tỉnh Đồng Nai do ô nhiễm sông Thị Vải”, 06/09. Đề tài đƣợc thực hiện
nhằm mục đích đánh giá tổn hại kinh tế của nguồn nƣớc ô nhiễm đến đời sống của
ngƣời dân ở xã Phƣớc Thái. Đề tài sử dụng phƣơng pháp giá thị trƣờng, những phƣơng
pháp đánh giá tổn hại môi trƣờng bao gồm phƣơng pháp tài sản nhân lực và phƣơng
pháp liều lƣợng đáp ứng để đánh giá tổn hại do ô nhiễm nƣớc gây ra đối với sức khỏe
của con ngƣời, thu nhập từ nguồn lợi trồng trọt và đánh bắt thủy hải sản. Các số liệu
thu thập đƣợc qua phỏng vấn điều tra 56 hộ dân ở xã Phƣớc Thái,huyện Long Thành,
đô ̣ng kinh tế trong vùng cũng nhƣ giao thƣơng với cả nƣớc đồng thời có vai trò gắn
kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.
2.2.2. Tổng quan về TP Biên Hòa
Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 30
km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90 km (theo Quốc
lộ 51).Theo thống kê năm 2009, tổng diện tích tự nhiên là 264,08 km2, dân số thành
phố khoảng 610.310 dân với mật độ dân số là 3,932 ngƣời/km².
TP Biên Hòa nằm phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, là trung tâm kinh tế, văn hóa,
chính trị, xã hội của tỉnh lớn này, có 30 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 23 phƣờng
và 7 xã). Cụ thể, các phƣờng gồm: An Bình, Bửu Hòa, Bình Đa, Bửu Long, Hòa Bình,
Hố Nai, Long Bình, Long Bình Tân, Quyết Thắng, Quang Vinh, Thanh Bình, Tam
Hiệp, Tam Hòa, Tân Biên, Thống Nhất, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Phong, Tân
Tiến, Tân Vạn, Trảng Dài, Trung Dũng và 7 xã: Hóa An, Hiệp Hòa, Tân Hạnh, An
Hòa, Long Hƣng, Phƣớc Tân và Tam Phƣớc. Biên Hòa có 4 khu công nghiệp đƣợc
Chính phủ phê duyệt: Khu công nghiệp Biên Hòa 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 2,
Khu công nghiệp Amata và Khu công nghiệp Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ
tầng đƣợc xây dựng đồng bộ. Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia.
Ngoài hệ thống đƣờng sắt Thống Nhất thuộc hệ thống đƣờng sắt Bắc - Nam còn có hệ
thống đƣờng bộ với nhiều con đƣờng huyết mạch của Đồng Nai và cả nƣớc nhƣ quốc
lộ 1, quốc lộ 51, quốc lộ 15.
2.2.3. Tổng quan về sông Đồng Nai
Sông Đồng Nai là tên con sông lớn thứ nhì đất Nam Bộ, chỉ thua sông Cửu
Long. Sông Đồng Nai có tổng chiều dài là 586,4km tính từ điểm nguồn đến tận cửa
biển Cần Giờ. Dòng chính sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi Lâm Viên, Bi Đúp trên
cao nguyên Lang Biang. Toàn bộ hệ thống lƣu vực sông Đồng Nai có 266 sông, suối
với chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 60 sông cấp 1, 129 sông cấp 2, 63 sông cấp
3 và 13 sông cấp 4.
Vị trí nguồn: Nhơn Giao
Kinh độ: 1080 42’ 10”
Vĩ độ: 120 12’ 10”
Hệ số uốn khúc:
2,16
Hình 2.1. Vị Trí Lƣu Vực Sông Đồng Nai
Nguồn: Sở TNMT tỉnh Đồng Nai,2009
Hƣớng chảy chính của sông Đồng Nai là Đông Bắc – Tây Nam và Bắc – Nam.
Sông Đồng Nai gồm nhiều nhánh sông và chảy qua nhiều thác ghềnh, thác cuối cùng
nổi tiếng là thác Trị An. Nơi đây có hồ nƣớc nhân tạo lớn nhất Việt Nam, đó là hồ Trị
An, cung cấp nƣớc cho nhà máy thủy điện Trị An. Ở thƣợng lƣu thác Trị An đƣợc sự
phối hợp của các nhánh lớn sông La Ngà, với diện tích lƣu vực là 4.100 km2, còn ở hạ
lƣu thì đƣợc sự phối hợp của các nhánh sông Sông Bé với diện tích lƣu vực 8.200km 2.
8
Lƣu vực này đa số là đất phì nhiêu, màu mỡ do sự phân hóa cao của đá bazan, có khả
năng giữ độ ẩm đủ cho cây trồng trong mùa khô. Độ cao của các lƣu vực thay đổi từ
80 đến 200 mét.
Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung
lƣu của sông. Đoạn từ ranh giới Đồng Nai – Lâm Đồng đến cửa sông Bé - Tân Uyên
sông chảy theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Địa hình lƣu vực đoạn trung lƣu từ 100 –
300 mét, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh. Đoạn sau Trị An sông chảy
êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu rất thuận lợi cho giao thông thủy. các phụ lƣu lớn
của sông Đồng Nai có sông La Ngà, sông Bé.
Nguồn tài nguyên nƣớc phong phú. Lƣu vực sông Đồng Nai có lƣợng mƣa
tƣơng đối dồi dào với trung tâm mƣa lớn nhất tại Bảo Lộc trên cao nguyên Di Linh
(lƣợng mƣa đạt tới 2.876 mm mỗi năm). Ở thƣợng nguồn lƣu vực phía nam cao
nguyên Lang Biang, lƣợng mƣa vào loại trung bình từ 1.300 mm đến 1.800 mm. sau
cao nguyên Di Linh lƣợng mƣa có giảm nhƣng vẫn còn phong phú từ 2000 đến 2.300
(gọi tắt là Công ty Cấp nƣớc Đồng Nai)
Địa chỉ: Số 48, đƣờng Cách Mạng Tháng 8, phƣờng Quyết Thắng, thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Giám đốc: Đặng Trọng Thành
Chức năng – nhiệm vụ của công ty:
- Sản xuất cung cấp nƣớc sinh hoạt và nƣớc công nghiệp.
- Đầu tƣ xây dựng các công trình cấp nƣớc sinh hoạt.
- Kinh doanh phụ kiện, thiết bị chuyên ngành nƣớc.
- Nhận thiết kế và thi công các công trình cấp nƣớc đô thị và thị trấn trong toàn
tỉnh.
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty đƣợc thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1992, theo Quyết định 1470/QĐ
– UTB. Tiền thân của công ty là Xí nghiệp khoan cấp nƣớc Biên Hòa, đƣợc xây dựng
năm 1928 và hoạt động năm 1930 với một trạm bơm công suất nhỏ 2000 m3/ngày
đêm.
Năm 1968 đƣợc sự hỗ trợ của Australia, xí nghiệp đã đƣợc xây dựng và mở
rộng để tăng công suất phục vụ. Công trình đƣợc hoàn thành vào năm 1969 và đạt
công suất 14.000 m3/ngày đêm. Sau năm 1975 đƣợc sự giúp đỡ của Liên Xô và Pháp,
Xí nghiệp một lần nữa đƣợc mở rộng và nâng công suất lên 24.000 m3/ngày đêm.
Công trình đƣợc bắt đầu từ năm 1983 và đến 1985 thì hoàn thành.
10
Nhu cầu sử dụng nƣớc sạch của nhân dân trong tỉnh ngày càng cao. Năm 1994,
công ty nâng công suất hoạt động của Xí nghiệp nƣớc Biên Hòa đạt 36.000 m3/ngày
đêm. Giờ cao điểm có thể nâng công suất hoạt động lên 45.000 m3/ngày đêm.
Hiện nay công ty cấp nƣớc Đồng Nai tự hào là công ty cấp nƣớc đứng thứ tƣ
trong cả nƣớc về sản lƣợng nƣớc đƣợc sản xuất (sau Hà Nội, Hải Phòng và TP HCM)
có nhiều cơ sở vật chất hiện đại, đầy đủ cùng với đội ngũ công nhân viên đƣợc đào tạo
nƣớc khá tốt.
Quy trình công nghệ sản xuất nƣớc máy
Quy trình xử lí nước nguồn
Nƣớc đƣợc bơm từ sông Đồng Nai đƣợc dẫn vào hệ thống các bể lắng, lọc và
đƣợc xử lí bằng vôi, phèn, clo và sau đó đƣợc bơm đồng bộ vào các bể chứa, dƣới tác
động bộ phận quay li tâm thì lƣợng bùn đất lắng xuống đáy bể, và nhờ hệ thống xả
bùn, đất tự động xả ra ngoài. Lƣợng nƣớc trong đƣợc chảy vào các hệ thống bể lắng,
bể lọc nƣớc. Nƣớc đƣợc lọc qua một hệ thống lọc gồm các thành phần cát, đá, sỏi, mũ
lọc và sau đó đƣợc dẫn vào các bể chứa và đƣa đi cung cấp tiêu thụ trên địa bàn tỉnh.
Hình 2.2. Sơ Đồ Quy Trình Công Nghệ Xử Lí Nƣớc Máy
BỂ LỌC
NHANH
BỂ LẮNG
HỆ THỐNG CHỨA NƢỚC
THÀNH PHỐ
THIẾT BỊ
CHÂM PHÈN
CÁC TRẠM BƠM
TĂNG ÁP
THIẾT BỊ XỬ LÍ ĐỘ
HP VÀ CHÂM CLO
TRẠM BƠM
NƢỚC TRÊN
SÔNG (CẤP I)
THỦY ÁP
Nguồn: Công ty Cấp nƣớc Đồng Nai, 2003
13
CHƢƠNG 3
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lí luận
3.1.1. Sự ô nhiễm môi trƣờng nƣớc
Khái niệm sự ô nhiễm nƣớc
Theo hiến chƣơng Châu Âu định nghĩa:
“Sự ô nhiễm nƣớc là một sự biến đổi nói chung do con ngƣời gây ra đối với
chất lƣợng nƣớc và gây nguy hại đối với việc sử dụng của con ngƣời, cho công nghiệp,
nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cũng nhƣ đối với các động vật nuôi, các loài
hoang dại”.
Nguồn gốc ô nhiễm nƣớc
Sự ô nhiễm nƣớc có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo.
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Nƣớc mƣa rơi xuống mặt đất, mái nhà,
đƣờng phố, đô thị, khu công nghiệp, v.v kéo theo các chất thải bẩn xuống sông, hồ
hoặc các sản phẩm của các hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả xác chết của
chúng. Sự ô nhiễm này gọi là sự ô nhiễm không xác định đƣợc nguồn gốc.
Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Chủ yếu do nƣớc thải từ các khu dân
cƣ, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các
phân bón trong nông nghiệp.
3.1.2. Khái niệm ô nhiễm nƣớc mặt và tầm quan trọng của nƣớc đối với sự sống
Khái niệm ô nhiễm nƣớc mặt