Quản lí môi trường con đường kinh tế để dẫn đến nền kinh tế sinh thái - Pdf 51

‘. . . . . . . o0o . . . . . . . .
QUẢN LÝ MÔI trường
Con đường kinh tế để dẫn đến nền kinh tế
sinh thái
Giáo sư MANFRED SCHREINER
Trường Ðại học Fulda, CHLB Ðức

Nhà xuất bản GABLER
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Quyển sách giáo khoa này giới thiệu cơ sở cho sự chỉ đạo doanh nghiệp định
hướng theo môi trường.
Nội dung được cô đọng trong 22 chương, mỗi chương là một bài khoá hoàn chỉnh dùng cho
giảng dạy và học tập. Từng vấn đề trong mỗi Chương đều có nêu lên những gợi ý và được giải thích
bằng các hình ảnh, ví dụ cụ thể; mỗi bài khoá đều có câu hỏi, bài tập và tài liệu tham khảo.
Trong lần xuất bản thứ 4 này đặc biệt có đưa thêm vào nội dung mới của Luật Kinh tế chu trình. Ðề tài
“Nghiệp vụ quản lý môi trường - Hệ thống kiểm toán - Kiểm toán sinh thái“ đã thay cho Chương “Nguyên lý
chính sách môi trường xí nghiệp“ mà nó đã tồn tại trước đây. Trong lần tái bản này có nhấn mạnh đến sự phát
triển mới trong lĩnh vực “Kinh tế Vật tư, Kinh tế Gia công, Ngạch kế toán định hướng theo môi trường và Cân
đối sinh thái“ .
Tác giả, Giáo sư Tiến sĩ Schreiner, giảng dạy các môn: Kế toán, Quản lý môi trường, Chính sách môi
trường và Cơ sở kỹ thuật môi trường tại Trường Ðại học Fulda, Cộng hoà Liên bang Ðức
Nhà xuất bản
Chương I
Kinh tế và sinh thái

Những đặc điểm của hệ thống kinh tế
Những đặc điểm của kinh tế sinh thái
Kinh tế
Sinh thái
Sự tương quan của các hệ thống

hỏi. Những cái đó, mà trong trường hợp cụ thể của một xã hội được lựa chọn thay thế, cũng không thể bỏ qua
được. Ðại lượng tổng sản phẩm xã hội, là thước đo cho tiêu chuẩn cuộc sống, sẽ được thay thế bằng đại lượng
„Chất lượng cuộc sống“. Trong trường hợp đó thì thành quả của công nghệ hiện đại và của kinh tế dành cho
phần lớn dân chúng vẫn giữ được giá trị của nó, mặc dù phải tương đối hóa nó và đưa nó vào các chỉ số trong
lĩnh vực tự nhiên và môi trường xã hội, cái mà cho đến nay nó vẫn bị bỏ qua.
Ðứng trước vấn đề này đã có sự sẵn sàng ngày càng cao cho một sự thay đổi. Giữa việc nhận biết của sự
định hướng mới cần thiết trong tổng thể nền kinh tế và hành động của từng ngành kinh tế, còn có sự trái ngược
nhau đáng kể. Ðặc biệt là hiện tượng “Hiệu ứng bên ngoài“ và “Vấn đề tài sản tập thể“ đang ngăn cản một sự
chuyển biến nhanh những nhận thức về sinh thái trong hoạt động kinh tế, khi mà một nền kinh tế hài hòa với
môi trường chủ yếu vẫn làm thiệt hại đến mục tiêu lợi nhuận.
Hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế không mang tính trung hòa với nhau mà trong thời gian qua đã
trở thành sự mâu thuẫn mang tính tồn sinh của cả hai hệ thống và nó đã trở thành đối tượng bàn luận của cả xã
hội. Sự giảm mâu thuẫn về mục tiêu và kể cả việc tìm kiếm những mục tiêu hài hòa giữa hai hệ thống đó đang là
đối tượng và sự nhận thức của nhiều cố gắng trong chính giới, trong nghiên cứu, trong kinh tế và trong giảng
dạy.
Hệ thống
Kinh tế
Hệ thống
Văn hoá-Xã hội
Hệ thống chính trị
Hệ thống
Kỹ thuật
Hệ thống
Sinh thái
Luật pháp
Sự chuyển hoá giá trị
Sự làm ô nhiễm
làm ô nhiễm
Sự chuyển hoá kỹ thuật E32

E31 E13 E41
E22
E21
E23

Hình 1.2.1: Thành phần và mối quan hệ trong hệ thống
Hệ thống kinh tế lớn lên, co lại, phân ly, biến mất, đều chịu sự bài trí của con người (hệ thống nhân
tạo), nhưng nó cũng có sự ảnh hưởng mang tính độc lập. Hệ thống kinh tế là:
- Ðộng: Các quá trình hoạt động trong hệ thống được gọi là động năng nội tại . Nó tác động đến một sự
thay đổi liên tục của cấu trúc hệ thống. Cũng tương tự như vậy, có sự tồn tại động năng ngoại vi với hệ thống
môi trường. Sự thay đổi được tạo nên từ nội tại quá trình thích ứng của hệ thống kinh tế cũng như ngược lại, từ
sự thay đổi của hệ thống kinh tế đến hệ thống xung quanh.
Ví dụ:
* Sự thay đổi trong hệ thống doanh nghiệp:
Các sự thay đổi độc lập trong hệ thống mục tiêu như: đầu tư, nâng cao sản xuất, sự thay đổi trong nhân
sự, sự thay đổi về phương pháp mới, sự thay đổi về bài trí sản phẩm và về công nghệ phù hợp với môi trường.
* Sự thay đổi trong hệ thống do bên ngoài gây nên:
Thích ứng sản xuất theo sự thay đổi về nhu cầu đầu tư trên cơ sở tiến bộ kỹ thuật, sự thay đổi về sản
phẩm và phương pháp trên cơ sở yêu cầu của luật pháp.
* Sự thay đổi trong môi trường xung quanh xuất phát từ doanh nghiệp:
Quảng cáo về sự thay đổi nhu cầu như: sự phát xạ đã dẫn đến làm ô nhiễm môi trường và dẫn đến sự sa
sút khả năng tái tạo của thiên nhiên.

sự cố nhỏ trong mối quan hệ là có thể phá vỡ tiểu hệ thống sinh thái (rất mất ổn định).
Nhưng mặt khác, tùy thuộc vào điều kiện bên ngoài, nó lại lập lại sự cân bằng mới với thời gian thích
nghi khác nhau. Liệu rằng điều đó có đáp ứng được quan điểm mục tiêu của con người hay không thì đó là
chuyện khác. Hệ thống sinh thái cũng có khả năng xử lý các yếu tố gây ảnh hưởng và thiết lập lại sự cân bằng
trước đây (khả năng tái tạo tự nhiên).

Hình 1.2.2. Chu trình sinh học

Các định luật quan trọng là: định luật tiến hóa (sự phát triển tự nhiên đến hình thái sống cao hơn), định
luật lựa chọn (sự đào thải tự nhiên), định luật về sự sống, định lý về Entropie. Theo định lý số 2 của lý thuyết
nhiệt động học thì: từ năng lượng hữu ích để trở về Entropie thì theo đó, năng lượng hướng về một trạng thái là
sự phân tán đều trong không gian với một sự tập trung thấp. Từ đó dẫn đến luận điểm về sự xụp đổ, về cái chết,
và về sự hủy diệt hệ thống. Ðiều đó đối chọi với quan điểm của sự sống là: tất cả các sinh vật sống cho thấy là
„Hình thái và chức năng của nó được bảo tồn thông qua sự trao đổi năng lượng và trao đổi vật chất với môi
trường của nó“.
Sự tiến hóa và sự phong phú của các hình thái sống của vùng sinh thái là một bằng chứng để nói rằng:
định lý Entropie không đúng đối với hệ thống sống. Theo đó thì dưới tác động của ánh sáng mặt trời, các chu
trình tự nhiên liên tục đạt được trạng thái cân bằng mới và tuân thủ theo định luật tiến hóa và định luật đào thải
tự nhiên để đạt được hình thái sống cao hơn. Hình 1.2.2. thể hiện các yếu tố và mối quan hệ quan trọng đó của
chu trình tự nhiên.
Câu hỏi quyết định ở đây là: xã hội con người giao phó chức năng gì cho môi trường tự nhiên? Từ đó sẽ
dẫn dắt các mục tiêu được đặt ra đối với môi trường và các mục tiêu đó chắc chắn là mâu thuẫn với mục tiêu
kinh tế. Ðó là điều mà ngày nay chúng ta đang nói: sự ô nhiễm môi trường, sự hủy diệt môi trường.
1.2.3. Về mối tương quan giữa hệ thống kinh tế và hệ thống sinh thái
Về đặc tính thì kinh tế và sinh thái là hai hệ thống họ hàng gần gũi nhau. Cả hai đều là các hệ thống vĩ
đại, rất phức hợp và trong đó nó có sự phụ thuộc mà rất khó có thể nhìn thấu suốt được. Cả hai hệ thống đều có
định luật riêng và cả hai đều khó có thể điều hành trực tiếp được. Sự cân bằng kinh tế cũng rất tế nhị và dễ đổ vỡ
và nó cũng không khác gì hơn sự cân bằng sinh thái. Hệ thống đó có xu thế tự dao động và có khả năng bùng nổ
(siêu lạm phát) hay gục đổ (suy thoái, đói kém). Nói tóm lại: kinh tế trong thực chất thì nó không có gì khác là
một hệ thống sinh thái riêng của nó. Hệ thống đó có hàng triệu, hàng triệu con người và những con người đó
Hệ thống Xã hội và Kinh tế
Thiên nhiên
là đầu vào Ðầu ra không mong muốn có
Các yếu tố đầu vào
khác Ðầu ra mong muốn cóHình 1.2.3/1 Mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế và hệ thống sinh thái.

Mục tiêu sinh thái có thể mâu thuẫn hay không mâu thuẫn với mục tiêu kinh tế. Ðiều có thể có được là
mục tiêu trung lập. Ví dụ về sự mâu thuẫn về mục tiêu là tất cả các mục tiêu của các quá trình mà người ta cho là
nó làm „Ô nhiễm môi trường“. Mục tiêu hài hòa (không mâu thuẫn) ngày càng được biết đến. Ví dụ về sự hài
hòa của mục tiêu kinh tế như „Giảm phí tổn bằng cách giảm chi phí“. Như vậy nó hài hòa với mục tiêu sinh thái
ở là chỗ „Giữ gìn tài nguyên thiên nhiên“. Giảm phí tổn bằng cách tránh được phế thải và tái tận dụng, tăng tối
đa doanh thu thông qua các sản phẩm không có tác hại cho môi trường.
Nhiệm vụ chủ yếu của nền kinh tế định hướng theo sinh thái bao hàm hai hướng công việc chính là: Dư
thừa
Dư thừa
Dư thừa
Xử lý nhiệt
Xử lý phế thải
Các sản phẩm Nông nghiệp
Chế biến vật liêu
Chuyển hoá năng lượng
Người sử dụng cuối cùng
Hình 1.2.3 2: Dòng chảy vật liệu và năng lượng
- Giảm thiểu hay giới hạn mâu thuẫn mục tiêu hiện đang còn tồn tại thông qua việc thích ứng mục tiêu
kinh tế và cách thức hoạt động của nó vào nhu cầu sinh thái, đồng thời gây ảnh hưởng và tác động vào lĩnh vực
sinh thái; ví dụ như: sử dụng các biện pháp nhằm tăng khả năng tái tạo tự nhiên.
- Phát hiện và khuyến khích mục tiêu hòa hợp bằng công nghệ mới, bằng thực hiện việc đầu tư phù hợp
với môi trường và bằng việc làm tốt hơn nữa sự chuyển giao công nghệ và trí thức, bằng sự tăng cường hệ thống
chỉ đạo nền kinh tế thị trường (giá cả là chỉ số cho sự khan hiếm, kể cả cho sản phẩm là môi trường).

1.3. Sinh thái hóa kinh tế
Tất cả tiền đề lý thuyết và thực tiễn về sự bài trí quá trình kinh tế một cách phù hợp với môi trường đều
được thâu tóm dưới tiêu đề sinh thái hoá kinh tế. Dưới đó là tất cả mọi sự cố gắng về mặt tổng thể nền kinh tế, về
các tiền đề kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Hiện nay các tiêu đề thực tiễn chủ yếu đi vào lĩnh vực kỹ thuật của đối
tượng kinh tế. Cùng với nó là vấn đề công nghệ phù hợp với môi trường, chuyển giao trí thức và chuyển giao
công nghệ, công nghệ tối thiểu, v.v.
Sinh thái hoá kinh tế
Nhà nước là người ban hành Luật

mình, Nhà nước có tác động đến các doanh nghiệp để họ có chính sách tiếp thị nhằm khai thác tiềm năng nhu
cầu khách hàng định hướng theo môi trường.

1.4. Kinh tế hóa sinh thái
Dưới khái niệm „Hệ thống sinh thái“, người ta hiểu đó là cả một hệ thống các quan hệ đan xen với nhau
của các cấu tử trong hệ thống tự nhiên.
Như vậy người ta cũng có thể tổng hợp được các nội dung của nó lại và cho nó một khái niệm khác, đó
là „Làm kinh tế môi trường“ hay „Học thuyết kinh tế môi trường“. (Alfred Endres: Kinh tế môi trường và kinh tế
tài nguyên thiên nhiên).
Kinh tế sinh thái
Làm kinh tế môi trường thông qua
Kinh tế hoá chính sách môi trường
Bài trí môi trường thông qua
Kinh tế nguyên liệu
Kinh tế Nông lâm
Kinh tế hàng không
Kinh tế thuỷ
Kinh tế phong cảnh
Phân tích Phí tổn
Hữu ích
Cân đối năng lượng
Ðánh giá hiệu suất
Công cụ kinh tế thị trường
Tăng cường các quá trình tự nhiên
Tao nên thêm những quá trình tự nhiên
Tạo nên qua trình tự nhiên hoàn toàn mới



1.5. Trên con đường hòa giải giữa kinh tế và sinh thái
Không phải chỉ có trên cơ sở các hoạt động mang tính pháp lý và đường lối của Nhà nước, mà hiện nay
ta đã nhìn thấy sự chuyển biến cơ bản về quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp về vấn đề bảo vệ môi trường.
Sau giai đoạn ra các luật lệ thì bây giờ đến lúc tăng cường việc thực hiện luật pháp. Ðiều đó đã mang lại cho
doanh nghiệp những yêu cầu mới trong quá trình ra quyết định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải lưu ý
nhiều hơn đến mục tiêu môi trường từ những motip nội tại: Bảo vệ môi trường là một cấu thành của hệ thống
mục tiêu, là cơ hội về thị trường cho sản phẩm phù hợp với môi trường, là sự giảm phí tổn bằng phương pháp
phù hợp với môi trường, là giảm trách nhiệm bồi thường, là các lý do về danh tiếng v.v.
Thực chất thì ý kiến của công luận rõ ràng là có khác nhau về mức độ của sự lưu ý đến lợi ích môi
trường.
Một điều hiện nay có thể nhận định được là: chủ yếu các doanh nghiệp đang ở trạng thái thụ động; nó
mang tính chất đối phó trong chính sách môi trường của mình (là việc phải thực hiện các qui định), chủ yếu là
trong chính sách công nghệ. Cho đến nay vẫn còn thiếu một phương án quản lý khép kín cho lãnh đạo doanh
nghiệp phù hợp với môi trường để làm cơ sở lâu dài cho chiến lược doanh nghiệp và chiến lược tiếp thị. Qui chế
Liên minh Châu Âu về Hệ thống quản lý môi trường đã cho một phương án quản lý theo tiêu chuẩn cho sự quản
lý doanh nghiệp phù hợp với môi trường. Với việc chuyển hóa Qui chế của Liên minh Châu Âu thành Luật của
Quốc gia trong năm 1995 thì trong tương lai sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ và tích cực của các doanh nghiệp
theo hướng môi trường.
Ðối với luận điểm „Giới hạn của sự tăng trưởng“ thì có luận điểm „Tăng trưởng của giới hạn“. Một điều
cơ bản là: một sự tăng trưởng sản xuất hàng hóa với một sự đòi hỏi đến môi trường không tăng lên hay có sự
giảm đi là một điều có thể nghĩ đến được. Khai phá tài nguyên mới, thay thế các yếu tố môi trường khan hiếm,
giảm việc sử dụng vật liệu và năng lượng, tối đa hóa chu trình vật liệu và năng lượng và tránh được sự ô nhiễm
môi trường. Ðó là những vấn đề kỹ thuật và kinh tế. Ðể giải đáp các vấn đề đó thì có thể chấp nhận được luận
điểm „Tăng trưởng của giới hạn“. Nhiệm vụ của chính sách môi trường trong tương lai phải là sự hiện đại hóa
mang tính sinh thái nền kinh tế quốc dân, là sự hòa giải giữa kinh tế và sinh thái; bởi lẽ, có giải pháp thay thế
cho xã hội công nghiệp, song không có giải pháp thay thế cho môi trường“ (Huber, Josef, Kẻ vô tội của sinh thái,
T.10).
Câu hỏi ôn tập Chương I
1. Nêu những yếu tố tiêu biểu, đặc trưng của hệ thống kinh tế và hệ thống sinh thái.

10. Pfriem, Reinhard. Chính sách doanh nghiệp trong triển vọng xã hội và sinh thái. Marburg 1995
11. Simonis, Ernst Udo. Sự chuyển biến cơ cấu của nền kinh tế và sự giải phóng cho môi trường. Trong Steger
Ulrich:sổ tay BVMT, Mỹnchen1992
12. Strebel, Heinz. Môi trường và kinh tế xí nghiệp, Môi trường tự nhiên là đối tượng... Mỹnchen 1992
13. Tiebler, Petra. Xu hướng môi trường trong hành vi tiêu dùng. Mỹnchen 1992
10. Ulrich, Hans Bern, Doanh nghiệp là một hệ thống xã hội và sản xuất. Bern, Stuttgart 1970
15. Wagner, Gert Rainer.Doanh nghiệp và môi trường sinh thái. Mỹnchen 1990
Chương II
Môi trường là yếu tố sản xuất

2.1. Môi trường trong thuyết kinh điển về sản xuất và phí tổn
Lý thuyết sản xuất và phí tổn nghiên cứu sự phối hợp các yếu tố sản xuất. Trong thuyết kinh điển của hệ
thống Gutenberg thì chỉ phân biệt các yếu tố cơ bản là: lao động, phương tiện sản xuất và vật liệu. Những suy
nghĩ cận đại có đưa thêm các yếu tố khác nữa vào, như: yếu tố công tác tư nhân và yếu tố công tác công cộng,
yếu tố thông tin, v.v. Môi trường tự nhiên trong hệ thống yếu tố của Gutenberg chỉ được lưu ý trong chức năng
là người cung cấp tài nguyên thiên nhiên, ví dụ như trong vai trò của yếu tố „Vật liệu“.
Trong định nghĩa về đặc điểm của một yếu tố sản xuất thì Gutenberg đã nêu là „Không thể thiếu được
trong việc tạo nên thành tựu“. Ðiều đó đúng với môi trường ở nội dung là nơi khai thác nguyên liệu và năng
lượng và đúng cả ở nội dung môi trường là nơi tiếp nhận lại các loại phế thải ở các dạng cứng, lỏng, khí và tia
phóng xạ cũng như tiếng ồn.
Nguyên nhân của sự không lưu ý đến “Môi trường là một yếu tố sản xuất“ chủ yếu là ở chỗ, đã coi môi
trường tự nhiên là một sản phẩm tự do. Với quan điểm là: không phải lưu ý đến yếu tố sản xuất, nếu như nó
không phải là khan hiếm- có nghĩa là nó không có giá trị kinh tế và việc khai thác và việc sử dụng nó không gây
nên phí tổn cho nền kinh tế xí nghiệp.Vì lẽ đó nên môi trường đã không được đưa vào lý thuyết sản xuất và lý
thuyết phí tổn.
Bây giờ thì sự đòi hỏi đến môi trường ngày càng tăng và môi trường đã trở thành một ngành kinh tế với
sự phí tổn đáng kể. Sự khiếm khuyết trong lý thuyết kinh điển ngày càng được bộc lộ rõ nét. Tuy vậy, vấn đề này
có thể xử lý được từng phần mà chưa cần đến sự thay đổi về lý thuyết, bởi vì sự đòi hỏi đến môi trường được thể
hiện bằng việc gia tăng giá cả của các yếu tố sản xuất là „Phương tiện sản xuất“ và là „Vật liệu“. Ngay bản thân
giá cả của yếu tố sản xuất „Lao động“ cũng có thể chứng minh một cách gián tiếp là hiệu ứng „Môi trường“. Ví
dụ như: vì lý do ô nhiễm không khí cho nên số người ốm đau tăng và sự đòi hỏi của môi trường được thể hiện
bằng việc tăng phí tổn trong quĩ lương.
Ơ đây còn có hiệu ứng ngoại vi được phát sinh. Ðó là việc: người không gây ra sự ô nhiễm không khí
cũng phải gánh chịu sự tăng phí tổn trong lương. Hiệu ứng này cũng có giá trị đối với các yếu tố sản xuất khác,
bởi lẽ ở đó cũng có hiệu ứng ngoại vi tác động đến. Giá cả tăng là do các điều kiện môi trường đã đụng chạm
đến tất cả những người có nhu cầu về“ Ðầu vào“ và nó không phụ thuộc vào mức độ và thể thức của sự đòi hỏi
đến môi trường mà do các yếu tố Ðầu vào mang lại.

ngỏ. Song, có thể mạn phép cho rằng: xu hướng là tuỳ thuộc vào phí tổn trong khai thác và nó được coi là mốc
thang để tính giá cả chứ không phải là sự dự toán về sự khan hiếm hay thực chất nó là sự đòi hỏi của môi trường.
Việc sử dụng môi trường cho đến nay chủ yếu vẫn không mất tiền (không phí tổn). Chỉ có điều là phí
tổn cho việc khai thác ngày càng tăng do đã mất sự dồi dào về nguồn dự trữ; phí tổn cao lên do sự điều chỉnh đền
bù và phần nhiều do các yêu cầu trách nhiệm của các biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn chặn hay giảm thiệt hại.
Ngoài ra, phí tổn cho đòi hỏi của môi trường là đất, là phong cảnh, là không khí, là nước để tiếp nhận phế thải
của sản xuất và tiêu dùng. Tất cả các cái đó đã đội yêu cầu lên và với nó là phí tổn. Ví dụ cho nó như:
* Tăng yêu cầu xử lý phế thải rắn (phế thải đặc biệt, kỹ thuật chôn lấp),
* Tăng yêu cầu về xử lý nước thải (thêm mốc lọc, khử, lệ phí nước)
* Tăng yêu cầu trong việc lọc khí thoát và chống ồn.
Tuy vậy, trong khai thác yếu tố đầu vào và trong việc tận dụng môi trường là nơi chốn tiếp nhận các
loại phế thải vẫn chưa đưa vào sổ sách kế toán được bởi lẽ còn có sự vênh giữa từng vùng lãnh thổ và thậm chí
giữa các quốc gia.
2.3. Môi trường là nơi tiếp nhận Ðầu ra
Trong mục 2.2 đã nêu lên chức năng của môi trường là „Người cung cấp yếu tố đầu vào“, là các phương
tiện sản xuất và vật liệu, thì đồng thời môi trường cũng làm nhiệm vụ là nơi tiếp nhận đầu ra. Trong bảng cân đối
về nguyên liệu và năng lượng của quá trình sản xuất trong xí nghiệp thì phế liệu và chất phát xạ độc hại là đầu
ra. Theo nhận thức về đối tượng của học thuyết kinh tế xí nghiệp thì sự quan sát này trước tiên đi thẳng vào danh
mục đầu ra không mong muốn có. Ðó là: phế thải ở thể cứng, thể lỏng và thể khí; là tia phóng xạ, là tiếng ồn, là
sự tỏa nhiệt và sự chấn động. Những cái đó đi liền với việc tạo ra sản phẩm cũng như với sự tái tạo giá trị. Trong
khi những đầu ra được mong muốn có có thị trường và nó cho doanh thu thì những đầu ra không mong muốn có
lại phải trả lại cho môi trường tự nhiên.
Môi trường là nơi tiếp nhận cho đầu ra không mong muốn

Liên kết

Biến đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status