1 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
GIỚI THIỆU VỀ CUỐN SÁCH
Cuốn sách dành cho những an quan tâm đến việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực Quản lý
môi trường đô thị (QLMTĐT). Việc thiết kế cuốn sách dựa trên giả thiết về sự nhạy cảm và sẵn
sàng lồng ghép giới những không cần qua chương trình đào tạo mà học thông qua việc quan sát,
việc mong muốn cải thiện cuộc sống của người dân trong cộng đồng, sự lắng nghe và hiểu mọi
người. Do đó, chúng tôi cũng không muốn nói rằng những ai sẽ đọc cuốn sang này sẽ ngay lập
tức sẽ trở nên nhạy cảm với các vấn đề giới. Nhưng ngược lại, nhạy cảm giới hay sự sẵn sàng
trong việc lồng ghép giới sẽ là một điều kiện tiên quyết để sử dụng cuốn sách này một cách hiệu
quả. May thay, trong việc thực hiện Dự án Vùng Đông Nam Á về Ứng dụng trong quản lý môi
trường đô thị (dự án SEA-UEMA) trong những năm qua, chúng tôi đã nhìn thấy thêm nhiều
người làm công việc thực tiễn có sự nhạy cảm giới trong lĩnh vực QLMTĐT. Do đó, chúng tôi
tin tưởng rằng cuốn sách về những trường hợp cụ thể sẽ có ích cho nhiều cá nhân và tổ chức.
Tại sao tôi nên đọc cuốn sách này?
Cuốn sách này được thiết kế cho những nhà quản lý dự án và những người làm ở cộng đồng.
Những trường hợp nghiên cứu được lựa chọn ở đây chủ yếu ở cấp độ dự án, những dự án này đã
khuyến khích việc phân tích giới trong quá trình làm việc tại thực địa và được các chuyên gia
giới tại từng quốc gia xây dựng nên. Việc xác định các vấn đề giới là bước quan trọng đầu tiên
trong việc cải thiện những hoạt động giới ở cấp độ dự án. Do đó, cuốn sang này được dành cho
việc cải thiện năng lực của người sử dụng nhằm tiến hành phân tích và xác định những vấn để
giới, để từ đó có thể thiết kế những can thiệp phù hợp. Cuốn sách này đã được xây dựng trong
nhiều năm trong quá trình thúc đẩy bình đẳng giới thông qua thực hiện dự án SEA_UEMA. Một
trong những nhu cầu quan trọng được phát hiện đó là năng lực để xác định các vấn đề giới vẫn
còn là một điểm yếu trong quá trinh đưa vấn đề giới vào những dự án liên quan đến QLMTĐT.
Tôi sẽ sử dụng cuốn sách này như thế nào?
Cuốn sách này được thiết kế cho việc tự học. Một cách lý tưởng, những nhà quản lý dự án và
những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực QLMTĐT nên tham gia một loạt các tập huấn
về lồng ghép giới nhằm được trang bị những kiến thức về phân tích giới. Tuy nhiên, trong thực
tế, sẽ rất khó khăn cho những người làm công tác thực tiễn để tham dự các chương trình tập huấn
3 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
CHƯƠNG II: KHUNG PHÂN TÍCH
GIỚI VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG NÁM Á – KHUNG CHO VIỆC
PHÂN TÍCH VÀ NHỮNG NHU CẦU NGHIÊN CỨU
Kyoko Kusakabe
GIỚI THIỆU
Dân số đô thị ở Đông Nam Á (ĐNA) đang gia tăng một cách nhanh chóng. Trong suốt những
năm 1980, dân số đô thị chiếm khoảng 40% tổng dân số ở Philippine. Nhưng con số này đã tăng
lên là 60% vào năm 2001. Tương tự, dân số đô thị ở Cambodia đã tăng lên gấp đôi từ 10% từ
năm 1980 đến gần 20% vào năm 2001. Sự gia tăng tương tự cũng được ghi lại ở các quốc gia
khác thuộc khu vực ĐNA. Với sự tăng nhanh về dân số, những vấn đề lien quan đến QLMTĐT
trở nên thực sự quan trọng.
Là những người lao động, người dọn dẹp cho gia đình, người mẹ và những người di cư, phụ nữ
trải qua những kinh nghiệm và sự xuống cấp của môi trường đô thị một cách sâu sắc hơn nam
giới (Momsen 2004). Sự khác biệt về giới tính, phân công lao động theo giới tính và các quan hệ
giới, tất cả đã dẫn đến những ảnh hưởng khác nhau do môi trường xuống cấp lên phụ nữ và nam
giới. Khác biệt giới cũng dẫn đến sự phân biệt đối xử trong việc phụ nữ và nam giới tiếp cận đến
các dịch vụ của đô thị. Từ đó, sẽ rất quan trọng trong việc hiểu các kinh nghiệm và nhu cầu khác
nhau của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực QLMTĐT.
Tuy nhiên, vẫn còn có sự hạn chế trong việc nhận thức rằng khác biệt giới và quan hệ quyền lực
dựa trên yếu tố giới đóng vai trò lớn trong QLMTĐT. Điều này biểu thị thông qua sự tham khảo
không đầy đủ về các vấn đề giới trong chính sách và chương trình QLMTĐT ở Châu Á. Tầm
Hai định nghĩa này từ hai phương hướng khác nhau dựa trên những giá trị khác nhau. Như
Warren (2007) đã lập luận, khung phân tích giới dựa trên những giá trị và hệ tư tưởng và không
thể hiểu được nó nếu không hiểu về những giá trị đã hướng đến việc xây dựng khung phân tích.
Tuy nhiên, khi các khung phân tích được ứng dụng tại thực địa, hai cách suy nghĩ này không cần
thiết phải được phân định rõ. Điều này tạo nên sự lạm dụng các khung phân tích về các khung
này được khuôn khổ nhằm cho phép người sử dụng hiểu về giá trị/hệ tư tưởng đằng sau nó.
Như một hướng dẫn cho hệ tư tưởng của bình đẳng giới, một khung phân tích giới nên, diễn giải
lại, Kabeer cho rằng (1999), không đặt ra một cách cứng nhắc trong việc nhìn nhận sự việc, mà
(1) giới thiệu những giá trị sẵn có trong việc kiểm chứng các cách mà sự việc được thực hiện.
Bình đẳng giới là một giá trị quan trọng, việc chia sẻ bình đẳng khối lượng công việc và đưa là
quyết định là những giá trị quan trọng v.v… và những điều này sẽ được diễn tả qua khung phân
tích giới. (2) làm cho công việc của những chuyên gia không chuyên về giới dễ dàng hơn trong
việc hiểu những điều gì cấu thành nên những vấn đề giới và nhu cầu giới tại địa điểm và lĩnh vực
cụ thể.
Một cách lý tưởng, một khung phân tích giới cần có sự linh hoạt để ứng dụng vào nhuẽng bối
cảnh khác nhau, và cụ thể để có thể có thể áp dụng được cho các câu hỏi trong các lĩnh vực.
Fong và các đồng nghiệp (1996:2) chỉ ra rằng “phân tích giới có thể giới việc đảm bảo cung cấp
các dịch vụ cho phụ nữ và nam giới mong muốn và những dịch vụ này phù hợp với điều kiện cụ
thể của họ”. Sự linh hoạt ở đây ám chỉ việc không quá lơ mơ hay không quá mang tính khái
niệm, mà điều này sẽ gây nên khó khăn cho những chuyên gia không thuộc lĩnh vực giới để tuân
thủ. Sự linh hoạt được dựa trên sự hiểu biết về những gì có thể bao gồm trong những bối cảnh
5 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
khác nhau trong từng khu vực. Do đó, một điều quan trọng là khung phân tích giới cần phải được
xây dựng dựa trên một bối cảnh, địa điểm và lĩnh vực cụ thể.
Do đó, chương này sẽ giới thiệu một khung phân tích giới rất cụ thể cho khu vực ĐNA, lĩnh vực
cụ thể là QLMTĐT, đặc biệt chú trọng vào những tiểu lĩnh vực: nước và vệ sinh, quản lý chất
thải rắn và ô nhiễm không khí. Để đặt ra những bối cảnh địa lý và lĩnh vực, chương này sẽ đầu
tiên trình bày tổng quát về tình trạng phụ nữ trong lĩnh vực QLMTĐT ở ĐNA từ những nghiên
cứu và thống kê hiện thời. Dựa theo đó, chương này sẽ giới thiệu một khung phân tích có thể
Trong bối cảnh QLMTĐT, sản xuất và tiêu thụ không trực tiếp với nhau, chúng phụ thuộc lẫn
nhau. Do đó, ngoài sản xuất và tiêu thụ, chúng ta cần chú ý đến lao động và những dịch vụ cung
cấp. Vai trò của thị trường và nhà nước như là những người giữ cổng hay những rào cản của lao
động và việc làm cho thể kết nối trực tiếp hơn ở khu vực đô thị hơn là nông thôn. Do đó, khung
phân tích được sử dụng trong tổng quan về giới và môi trường không trực tiếp ứng dụng được
cho việc phân tích giới trong QLMTĐT.
CÁC VẤN ĐỀ GIỚI TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG NAM Á
NƯỚC VÀ VỆ SINH
Huynh (2007) chỉ ra rằng 48% hộ gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Ở
Dili, Đông Timor, chỉ có 43.8% dân số được tiếp cận đến nước sạch và 80% đã bị các bệnh do kí
sinh trùng gây ra hay những bệnh khác. Không có hệ thống nước thải dẫn đến những bệnh dịch
do muỗi và nước bẩn gây ra (Robertson, 2007).
Trong những người dân sống trên thuyền ở Việt Nam, cả phụ nữ và nam giới phải làm việc dưới
nước cả ngày và nước lụt lội đã gây ra những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Phụ nữ dễ bị tổn
thương nhiều hơn vì chức năng tái sản xuất của mình và sức khoẻ sinh sản của do ảnh hưởng của
nước bị ô nhiễm.
Một phân tích giới ở Metro Manila chỉ ra rằng 33% dân số sống cùng với nước không thể sử
dụng cho ăn uống, và 29% dân số không có thiết bị vệ sinh (Rivesa, 2007). Ở Deli, chỉ có 30%
hộ gia đình được trang bị đường ống nước sạch, và 10% phải lấy nước từ nguồn không đảm bảo
(Robertson,2007). Thiếu tiếp cận đến nước sinh hoạt là một vấn đề nghiêm trọng ở Dili, với 94%
phụ nữ đã cho rằng tiếp cận đến nước là một nhu cầu quan trọng nhất.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, người dân phải mua nước từ những người bán nước rong
và số tiền hàng tháng cho tiền nước có thể lên đến 100,000 VND, tương đương với 6.25 USD
1
(Huynh, 2007). Trong khi những người phải mua nước sạch chỉ có thu nhập từ 20.000 đến
30.000 VND/ngày thì đây quả là một số tiền không nhỏ cho người nghèo. Phân tích giới ở
Surabaya, Indonesia chỉ ra rằng chỉ có 24.5 % những người được phỏng vấn có hệ thống nước
nhóm làm việc liên tổ chức về nước và giới (2004) chỉ ra rằng một dự án về vệ sinh cho các
trường học với những trang thiết bị riêng rẽ cho các trẻ em trai và trẻ em gái giúp đẩy nhanh việc
đi học của trẻ em trai và gái đã giúp tăng số lượng trẻ em gái đi học tăng 11% qua các năm từ
năm 1992 đến 1999.
Phụ nữ cũng cần những trang thiết bị vệ sinh hơn nam giới. UNDP (2003:66) chỉ ra rằng ở
những nước như Cambodia, Indonesia và Việt Na, phụ nữ rất ưu tiên việc xây dựng buồng vệ
sinh trong ngôi nhà của họ, và đã thành công trong việc thuyết phục chồng họ để xây dựng
buồng vệ sinh ngay trong nhà.
Ở Nam Á, nơi phụ nữ thường bị phân biệt, phụ nữ dễ bị tổn thương khi có những trận lũ lụt vì
những thực hành về văn hóa đòi hỏi phụ nữ đi ra ngoài thường phải có ai hộ tống (Parkinson,
2003). Mặc dù ở ĐNA thì đây không phải là việc phổ biến nhưng phụ nữ cũng bị ảnh hưởng
nhiều do việc lũ lụt. Phụ nữ thường bị ảnh hưởng do hệ thống thoát nước nghèo nàn và việc lũ
lụt ở những khu vực nấu nướng. Parkinson (2005) chỉ ra rằng khối lượng công việc nhiều của
phụ nữ bị tăng lên cho một số lý do sau: 1) thiệt hại kinh tế, 2) sự đổ vỡ của hệ thống sinh kế mà
trong đó họ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại, 3) đối mặt với những thay đổi xã hội
8 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
t nơi.
và tinh thần do phải đối mặt với cái chết, bệnh tật và cạn kiệt nguồn thức ăn sau khi lụt lột xảy
ra. Ở Nam Á, Bapat và Agarwal (2003) đã chỉ ra trong nghiên cứu của họ tại Mumbai và Puna ở
Ấn Độ rằng nước và vệ sinh là một trong những khó khăn gây nhiều sức ép và tiêu tốn về thời
gian nhất, đặc biệt cho phụ nữ.
Nhìn chung, trong lĩnh vực nước và vệ sinh ở ĐNA đã nhận thấy việc cần thiết tập trung vào
nước nông thôn (xem Wackmen, 1995, Nhóm làm việc liên tổ chức về Giới và nước), trong khi
nước và vệ sinh ở khu vực nông thôn đã được nhìn nhận là không nổi trội hơn.
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Quản lý chất thải rắn đô thị có thể được phân loại thành rác thải sinh hoạt, chất thải nguy hiểm,
chất thải từ nông nghiệp và công nghiệp, bệnh viện và chất thải sinh học- y tế. Vấn đề quản lý
chất thải rắn là những vấn đề liên quan đến việc thu lượm, xử lý chất thải, xử lý để tái sử dụng.
Trong những người làm công nhân rác thải, phụ nữ thường là người thu lượm rác, trong khi nam
giới thường là người vận chuyển
3
. Do đó, phụ nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới khi tiếp xúc với
rác thải và từ đó cần phải yêu cầu việc bảo vệ được cải thiện và tập huấn đào tạo trong việc tiếp
xúc với rác thải. Phụ nữ thường mang theo trẻ con nhỏ khi họ đi nhặt rác vì họ không sắp xếp
được dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và từ đó trẻ em cũng có nguy cơ đối mặt với môi trường ô
nhiễm. Medina (trong trang web của WIEGO) chú ý rằng ở Port Said, Ai Cập, tỉ lệ trẻ em chết
yểu ở những cộng đồng thu lượm rác cao gấp nhiều lần so với những cộng đồng khác do cứ ba
trẻ em thì có một trẻ em chết dưới một tuổi. Muller và Schienberg (trong trang thông tin điện tử
GDRC) chỉ ra rằng phụ nữ nhặt rác dễ bị tấn công/hiếp dâm trong khi làm việc ở những nơi hẻo
lánh như là bãi rác. Rác rưởi từ công nghiệp có thể có những ảnh hướng bất lợi lên sức khỏe phụ
nữ hơn so với nam giới. Ở Philippine, Maramba và các đồng nghiệp (2006) đã nghiên cứu về
những ảnh hưởng của mỏ thủy ngân bị cấm. Họ đã phát hiện ra rằng tỉ lệ thủy ngân ở nhóm phụ
nữ mang thai bị dễ ảnh hưởng hơn nhiều, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng phụ nữ và trẻ em.
Ô NHIỄM KHÍ
Ô nhiễm không khí ở những thành phố Châu Á đang tăng nhanh. Mặc dù mọi người đều bị ảnh
hưởng bởi ô nhiễm khí, nhưng trẻ em và người già là những nhóm dễ bị tổn thương nhất. Đã có
sự tăng nhanh tác động về hệ hô hấp đối với khu vực thành thị. Gần hai triệu trẻ em dưới 5 tuổi
chết hàng năm do ảnh hưởng về hệ hô hấp, theo cáo cáo từ trang web của Trung tâm kiểm soát
và phòng chống bệnh dịch, Sở sức khỏe và dịch vụ con người. Tổ chức sức khỏe thế giới WHO
cũng ước chừng có khoảng 40% trường hợp có vấn đề về hệ hô hấp là do điều kiện môi trường.
Với vai trò là những người chăm sóc người ốm, những ảnh hưởng do gánh nặng về khối lượng
công việc lại tăng lên khi do những ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏe của các thành viên
trong gia đình.
Một vài phụ nữ va nam giới nghèo không có sự lựa chọn nào và phải làm việc trong những khu
vực ô nhiễm khí. Những người bán hàng di động chủ yếu là khu nữ ở khu vực ĐNA, công an
giao thông, chủ yếu là nam gới là những nhóm có nguy cơ rất cao do những ảnh hưởng của ô
nhiễm không khí đường phố. Karita và các đồng nghiệp đã nghiên cứu sự liên hệ của bệnh ho
mãn tính và ho đờm của nhóm công an giao thông ở Bangkok (nơi ô nhiễm khí nặng) và ở
họ đang nắm giữ, nên quan niệm của họ về QLMTĐT cũng khác so với nam giới (Muller và
Schienberg). Phụ nữ không chỉ là nạn nhân mà còn là một tác nhân quan trọng trong việc quản lý
nguồn nước. Chan va Nittivatananon (2006) có ghi lại rằng vai trò của phụ nữ quyết định những
công nghệ tiết kiệm nước ở Malaysia, và nhấn mạnh sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước
như là yếu tố quyết định cho những nỗ lực nhằm tiết kiệm nước.
Trường hợp ở Hua Lamphong Klong ở Thái Lan (ADB 2006) đã chỉ ra vai trò vô cùng quan
trọng mà phụ nữ đã thực hiện trong việc giữ gìn kênh rạch sạch sẽ. Chung và Poon ghi lại rằng ở
Hongkong, phụ nữ là những người tham gia nhiều nhất trong việc quản lý rác, và thái độ của
người vợ là yếu tố quyết định cho sự thành công trong việc phân loại rác thải ngay từ trong gia
đình
Trong tất cả các quốc gia trong khu vực, phụ nữ thường chỉ nắm giữ những vị trí không quan
trọng so với nam giới. Sự đại diện của họ trong các vị trí ra quyết định ở những nơi công cộng
thấp hơn nam giới. Sự tham gia của họ trong các cơ quan ra quyết định thường thấp. Ví dụ, một
phân tích giới ở Yogyakarta (Surmiarmi và Arum, 2007) chỉ ra rằng ở ban quản lý dân phố chỉ
11 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
có 2.5% phụ nữ. Muller và Schienberg (trang web của GDRC) chỉ ra một vấn đề là phụ nữ
thường gặp nhiều vấn đề trong việc sắp xếp thời gian để tham dự các cuộc họp vì họ phải dùng
thời gian của mình chủ yếu cho việc kiếm tiền để hỗ trợ gia đình.
Mặt khác, phụ nữ cũng được nhìn nhận là tham gia rất tích cực trong công việc xây dựng tại
cộng đồng so với nam giới. Fong và các đồng nghiệp (1996: trang 21) ghi lại rằng phụ nữ đóng
góp nhiều công lao động hay nấu thức ăn tự nguyện trong quá trình xây dựng đường ở các quốc
gia như Pakistan, Ấn độ, Thái Lan và Bangladesh. Đây cũng là điều dễ nhận thấy trong nhiều dự
án tại cộng đồng của dự án SEA-UEMA nơi phụ nữ thường làm rất nhiều công việc tự nguyện
cho cộng đồng. Thông thường, sự tham gia của phụ nữ trong các công việc tự nguyện chỉ ra bằng
chứng về sự tham gia của phụ nữ. Tuy nhiên, những tham gia này cần phải được phân tích cẩn
thận nếu nó là một cách để trao quyền năng cho phụ nữ.
Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án QLMTĐT có thể không thay đổi địa vị thấp của họ trong
xã hội. Địa vị thấp của phụ nữ được biểu hiện và được duy trì thông qua bạo lực chống lại phụ
nữ. Nó thường được sử dụng như một “nguyên tắc” để giữ phụ nữ đúng ở vị trí của họ. Do đó,
QUAN HỆ GIỚI
Phân công lao
động theo giới
Tiếp cận và kiểm
soát nguồn lực
Địa vị của phụ nữ
trong gia đình và
XH
Những khác biệt giới trong
ảnh hưởng từ sự xuống cấp
của MTĐT
Sự khác biệt giới trong việc
tíêp cận đến các dịch vụ lien
quan đến môi trường
Những khác biệt giới trong
động cơ và khả năng tạo nên sự
thay đổi
Môi trường xã hội/chính trị và
toàn cầu hoá
Các quy tắc
Nhằm trao quyền cho phụ nữ thông qua các dự án QLMTĐT, sẽ rất quan trọng trong việc xem
và,
3. Khác biệt giới trong động lực và khả năng trong việc tạo nên những thay đổi.
Những ảnh hưởng khác biệt giới do sự xuống cấp của môi trường đô thị
Như một kết quả của việc phân công lao động theo giới, phụ nữ và nam giới nghèo thường phải
đối mặt với những loại ô nhiễm khác nhau. Lý do chính của những tác động khác biệt giới này là
sự phân công lao động giới cách truyền thống, sự phân công này đã định ra vai trò của phụ nữ và
nam giới trong công việc hàng ngày. Do quan điểm của xã hội thì phụ nữ và nam giới được phân
công những nhiệm vụ khác nhau và sự mong đợi của xã hội với họ là khác nhau. Do đó, công
việc của họ trong xã hội rất đa dạng do các vai trò và trách nhiệm khác nhau và điều đó tạo nên
những khác biệt giới trong việc đối mặt với những nguy cơ. Phụ nữ làm việc ở gia đình có thể bị
ảnh hưởng bởi những quá trình công nghiệp liên quan trong quá trình sản xuất. Cảnh sát giao
thông thường là nam giới, do đó họ cũng có nguy cơ cao với ô nhiễm môi trường. Những người
bán dạo trên đường phố, chủ yếu là phụ nữ phải kiếm sống dọc theo con phố cũng sẽ bị ảnh
hưởng nặng do ô nhiễm và bụi.
Ngoài những nguy cơ sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến phụ nữ và nam giới, phụ nữ thường bị
tăng khối lượng công việc vì họ thường là người chăm sóc người ốm trong gia đình. Có trẻ em
hoặc người già mắc bệnh sen suyễn hoặc đi ngoài cũng có nghĩa là phụ nữ phải ở nhà để chăm
sóc người ốm và điều này làm họ mất các cơ hội tăng thu nhập.
14 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
Lý do thứ hai cho những ảnh hưởng khác biệt giới chính là do sự khác biệt trong việc tiếp cận và
quản lý các nguồn lực. Tính dễ bị tổn thương do ô nhiễm thường biểu hiện như là một vấn đề về
tầng lớp như là người nghèo thường ít có khả năng trong việc chống lại ô nhiễm. Rất nhiều phụ
nữ và nam giới không có sự lựa chọn nào khác và buộc phải làm việc trong điều kiện ô nhiễm.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng nữ giới thường ít được tiếp cận đến các nguồn lực hơn nam giới, đặc
biệt là phụ nữ làm chủ hộ gia đình ở nông thôn. Phụ nữ thường ở những vị trí mà họ khó có thể
bảo vệ bản thân họ. Những doanh nghiệp do nữ làm chủ thường sử dụng những máy móc không
hiệu quả, cũ kĩ và ô nhiễm. “Mặc dù những công nghệ bảo vệ môi trường có trên thị trường,
nhưng phụ nữ không tiếp cận được tín dụng để mua những công nghệ này hoặc không biết sử
Nói chuyện cá nhân với Garbielle Groves
15 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
sẽ giúp họ tiếp cận đến những không gian công cộng, và điều quan trọng là phụ nữ phải đòi hỏi
quyền của mình khi bị nguy hiểm ở những nơi công cộng và xã hội phải khuyến khích họ làm
điều này.
SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ LIÊN QUAN ĐẾN
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
Dựa trên phân công lao động theo giới và sự không cân bằng trong khối lượng công việc và lợi
ích, phụ nữ và nam giới có những nhu cầu khác nhau trong việc làm cho cuộc sống của họ sẽ dễ
dàng và tốt hơn. Ở Karachi, Pakistan, phụ nữ thường quan tâm đến vấn đề vệ sinh hơn chồng của
họ, và có thể thuyết phục chồng họ nhằm chia sẻ một phần chi phí do cấu phần dự án về vệ sinh
(Fong và các đồng nghiệp, 1996).
Không chỉ có phụ nữ có nhu cầu lớn hơn đối với các dịch vụ môi trường đô thị, họ cũng có khó
khăn nhiều hơn trong việc tiếp cận đến các dịch vụ này. Phụ nữ thường được giáo dục ít hơn nam
giới, và có ít cơ hội trong việc cải thiện kĩ năng, và nhìn chung, họ nhận được ít lương hơn nam
giới. Phụ nữ thường được chỉ định những công việc mà phụ nữ thống trị, có ít cơ hội hơn hoặc
không được mong muốn di chuyển nhiều, và thường không được sở hữu đất.
Những sự khác biệt giới trong việc tiếp cận vác kiểm soát các nguồn lực (nhân lực, vật chất, tài
chính và xã hội…) ảnh hưởng lên sự tiếp cận của phụ nữ lên các dịch vụ đô thị. Với trình độ giáo
dục thấp hơn, ít di chuyển và sự xa lánh, phụ nữ thường ít tiếp cận thông tin cũng như những liên
kết xã hội. Thiếu nguồn lực cũng dễn đến việc khả năng thấp của phụ nữ trong việc mua/trả tiền
cho các dịch vụ. Thực tế, những gia đình nghèo thường khó khăn trong việc trả tiền dịch vụ cho
việc cung cấp các dịch vụ khi được tư nhân hóa. Trang thông tin điện tử về giới và nước
(www.genderndwater.ovarg xem ngày 18 tháng 11 năm 2007) báo cáo rằng ở Chile, dịch vụ
nước và vệ sinh đã được tư nhân hóa từ năm 1990, phí sử dụng nước của người sử dụng đã tăng
314% từ năm 1989 đến năm 2003. Trang web này cũng nói rằng nhằm tăng tối đa lợi ích và bù
đắp các chi phí, các công ty cá nhân đã tăng phí lên và cắt giảm lương và công việc. Phụ nữ và
những người công nhân không có kĩ năng cũng dễ bị tổn thương khi lương và công việc bị cắt.
Một điều cần chú ý đó là những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ ở nhiều thành phố trong khu vực.
phương. Do phụ nữ làm rất nhiều công việc tình nguyện trong cộng đồng, nhiều công việc không
được trả lương mới được giao cho phụ nữ như là một sự thêm vào ngoài công việc gia đình. Điều
này cũng có nghĩa là tăng công việc không được trả lương mặc dù mọi người trong cộng đồng
đều được hưởng lợi ích từ việc môi trường được cải thiện trong cộng đồng. Sự tự do này là một
vấn đề. Phụ nữ thường cung cấp những chia sẻ bất bình đẳng trong công việc cộng đồng do vai
trò của phụ nữ là những người mẹ tốt, người vợ tốt và công dân tốt.
SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG ĐỘNG CƠ VÀ KHẢ NĂNG TẠO NÊN SỰ THAY ĐỔI
Như đã thảo luận ở phần trước, phụ nữ thường có ít vai trò trong việc ra những quyết định ở khu
vực công cộng so với nam giới. Do họ thường ở nhà nên phụ nữ thường được nhìn nhận như là
sự lựa chọn có lý cho việc giám sát môi trường và giáo dục sức khỏe. Phụ nữ thường tham gia
vào các dự án giáo dục cộng đồng vì họ ở nhà thường xuyên hơn
7
Do quan niệm khác nhau về những vai trò được xã hội chấp nhận, người ta thường thấy kiến
thức của phụ nữ trong lĩnh vực môi trường đô thị thường không được lắng nghe như của nam
giới. Do kết quả của sự phân công lao động, phụ nữ và nam giới thường cần những kiến thức và
5
Điều này đã được sửa chữa nhưng vẫn còn nhiều sự hiểu nhầm về quyền được bảo hiểm sức khoẻ
6
Những người di cư đăng ký từ các nước láng giềng của Thái Lan có thể tiếp cận đến các dịch vụ sức khoẻ và phải
trả 1900 Bath cho dịch vụ này hàng năm
7
Phỏng vấn với nhóm nữ lãnh đạo ở khu vực dự án của Quỹ Forward
17 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
kĩ năng khác nhau. Ví dụ, phụ nữ thường nhận thức được điều kiện của các điểm thu rác và nơi
đổ rác thải gia đình do họ có trách nhiệm đi đổ rác.
Muller và Schienberg đã báo cáo rằng trong khi nam giới thích một hệ thống thoát nước mưa
phức tạp, phụ nữ lại thích một hệ thống đơn giản để dễ vận hành. Ở những tầng lớp trung lưu và
hội công việc/tạo thu nhập, 3) những khả năng mang yếu tố giới nhằm tạo nên sự thay đổi.
Những điều này đều do quan hệ xã hội ảnh hưởng, mà điều này lại được quy định bởi 1) sự phân
18 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
công lao động theo giới, 2) tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, 3) địa vị của người phụ nữ trong
gia đình và cộng đồng. Sự bất bình đẳng trong ba lĩnh vực trên đã duy trì cái mà Kabeer gọi là
“nguyên tắc” cho việc tiến hành các hoạt động (Kabeer, 1999). Sự tổn thương mang yếu tố giới
và tiếp cận đến dịch vụ cũng ảnh hưởng đến khả năng mang yếu tố giới để tạo nên sự thay đổi, là
làm mạnh thêm hay thách thức những quan hệ giới hiện thời. Môi trường kinh tế vĩ mô và môi
trường xã hội cũng như sự toàn cầu hóa cũng sẽ ảnh hưởng đến vai trò, quan hệ và định nghĩa,
giá trị của những hoạt động này.
Điểm lợi thế của khung phân tích này là nó làm nổi bật những vấn đề đã được xác định trong các
nghiên cứu trước đó, đặc biệt ở Châu Á và chỉ ra những kết nối để phân tính những vấn đề lien
ngành giữa các hiện tượng giới và quan hệ giới. Điều quan trọng ở đây đó là sự nhấn mạnh đến
sự tiếp cận và việc ra quyết định đối với các dịch vụ đô thị và các cơ hội tạo công ăn việc làm.
Đây là sự khác biệt giữa khung phân tích giới tập trung ở nông thôn và môi trường nơi mà việc
cung cấp dịch vụ và cơ hội công việc thường không ở phần phân tích, mặc dù có chính sách và
cơ chế. Việc tổng quan các vấn đề giới trong quản lý môi trường đô thị, đặc biệt ở Đông Nam Á
sẽ đưa cho chúng ra những nền tảng để đề xuất một khung phân tích dễ sử dụng.
Như đã thảo luận trong phần mở đầu, tất cả các khung phân tích đều dựa trên những giá trị nhất
định. Đây là khung nhấn mạnh đến phụ nữ và nam giới ở đô thị có thể làm gì để cải thiện cuộc
sống và môi trường làm việc. Việc tập trung vào nâng cao năng lực, đặc biệt cho phụ nữ khiến
họ có thể có những hành động. Do đó, cần tập trung chú ý vào việc làm thế nào để nhiều phụ nữ
được trao quyền, hơn là việc làm thế nào dự án có thể sử dụng phụ nữ để làm cho dự án có hiệu
quả hơn. Những cấu phần hiệu quả thường được quan tâm bởi những người thực hiện dự án, và
họ tập trung nhiều vào kết quả và quản lý dựa trên kết quả. Do đó, khung này nỗ lực để cân bằng
cách suy nghĩ này bằng việc trao quyền cho phụ nữ là một mục tiêu trung tâm, qua đó có thể
đóng góp vào những kết quả tức thì của dự án dưới phạm vi của nó
8
20 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể CÁC TRƯỜNG HỢP PHÂN TÍCH
NƠI NÀO CÓ NƯỚC, NƠI ĐÓ CÓ SỰ SỐNG
“Nơi nào có nước, nơi đó có sự sống” là câu nói thường ngày của những người lãnh đạo làng
Tabok, nơi cuộc sống của ngôi làng này dường như đã có sự công nghiệp hóa cao và đây là một
xã có sự tăng trưởng nhanh nhất của thành phố Mandaue của tỉnh Cebu. Làn sóng người đổ vào
xã Tabok là điều tất yếu do thành phố Mandaue trở thành thành phố quan trọng thứ 2 ở Cebu.
Thành phố Mandanue có tổng số dân là 309.341 người trong đó phụ nữ là 51% và 49% là nam
giới. Dân số của thành phố đã tăng một cách nhanh chóng, từ số dân 7,323 năm 1995 đến
10,691 năm 2000 và 12,373 vào năm 2004. Với sự tăng nhanh dân số như vậy đã ảnh hưởng đến
phụ nữ và nam giới một cách khác nhau, trong đó có vấn đề nước.
không còn được đảm bảo về nguồn nước an toàn và sạch sẽ. Các vấn đề sức khỏe bắt đầu tăng
cao, đặc biệt là sự kém dinh dưỡng, đi chảy và những ảnh hưởng về da. Sụ yên tĩnh và những
ảnh hưởng xấu như là những cuộc cãi vã về nước lại xuất hiện.
Người dân không còn sự lựa chọn khác và phải chấp nhận chi phí cao của các nhà bán lẻ nước
tư nhân. Phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là phụ nữ ở tầng lớp nghèo hoặc trung bình,
trong khi nhóm này chiếm phần đông dân số. Những hộ gia đình này phụ thuộc vào thu nhập của
nam giới làm việc trong ngành công nghiệp và thương mại trong gia đình.
Phụ nữ thường phải chịu trách nhiệm về những gánh nặng về công việc trong gia đình cũng như
việc quản lý tài chính và sự thịnh vượng của gia đình. Việc tăng cao tiền nước cũng có nghĩa là
nhiều gánh nặng tài chính. Vấn đề sức khỏe cũng biểu hiện rõ do thiếu nguồn nước do không chỉ
có vấn đề tài chính mà còn là vấn đề tinh thần cũng như những trách nhiệm gia đình thường
không được chia sẻ. thay vào đó, phụ nữ là nhóm dễ bị tổn thương và bị ảnh hưởng nhiều nhất do
sự thiếu vắng của hệ thống nước và sự không đủ của các dịch vụ nước.
NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT CHO LÀNG TABOK
Sau khi vật lộn với cuộc khủng hoảng nước hơn hai năm, Hội đồng xã Tabok đã có sáng kiến
thành lập một hợp tác xã tự chủ, không cần vốn và không lợi nhuận tên là Hệ thống nước nông
thôn Tabok (TARUWAS) để vận hành và quản lý hệ thống nước của xã. Hệ thống nước của xã
Tabok là một dự án do chính phủ cung cấp và Hội đồng xã đã ủy quyền cho TARUWAS để vận
hành và quản lý cùng với cơ quan pháp lý của địa phương. Mục tiêu cơ bản của dự án đó là
“tăng tiếp cận đến nước sinh hoạt sạch, rẻ và đảm bảo sự liên tục tới tất cả người dân trong cộng
đồng và có cân nhắc đến môi trường.
Cho đến ngày hôm nay, TARUWAS đã có đến 5 giếng khoan cùng với các bể bê tông mà có thể
cung cấp nước qua đường ống đến 1043 hộ gia đình và hưởng lợi cho hơn 5000 người. Hệ thống
nước không chỉ phục vụ cho người dân Tabok mà còn cho những khu của người lao động và
công nhân trong các khu vực công nghiệp và thương mại nằm trên địa bàn. Những địa điểm này
không phải là đối tượng phục vụ của TARUWAS.
Các đường ống nước được lắp đặt ngay lập tức khi có ống nước, đồng hồ và những vật dùng cần
thiết khác. Những vật liệu cần thiết được cung cấp bởi những nhà cung cấp như là phần bổ xung
22 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
dụng thời gian của mình cho những công việc sản xuất, quản lý gia đình, và củng cố quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình và đóng góp vào sự lớn mạnh của cộng đồng. TARUWAS
cũng sử dụng phụ nữ vào những vị trí như: Thư ký ủy ban, người trông giữ máy bơm và hai
người làm kế toán. Hệ thống nhà máy nước trong thỏa thuận với Hội đồng xã cũng đã cam kết
cung cấp ít nhất 50,000 PhP hàng năm để hỗ trợ các dự án của xã. Các dự án do TARUWAS hỗ
trợ đã có những ảnh hưởng lên người dân của xã Tabok, đặc biệt là phụ nữ, cụ thể là:
23 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
- Xây dựng những trung tâm chăm sóc hàng ngày tạm thời.
- Xây dựng được 12 phòng học cho trường cấp II
- Mở một trường cấp III bằng việc xây dựng trường Cấp III Tabok
- Tài trợ cho chiếu sáng đường phố
- Có nhiều đường bê tông được cải thiện và người đi bộ có thể dễ dàng sử dụng và cải
thiện hệ thống nước thải
- Xây dựng sân tennis
- Dự án hạnh phúc cộng đồng thông qua việc xây dựng các bồn hoa
- Xây dựng đường ximang trước của tòa nhà xã
- Hỗ trợ cho ủy ban xã vận hành như là các thiết bị và đồ đac, cũng như những sửa chữa
văn phòng/
Ở nơi nào có nước, cuộc sống sẽ thoải mái hơn cho phụ nữ. Cần có sự nhận định tốt hơn về vai
trò và sự tham gia của phụ nữ. Một trong những tổ chức có uy tín và tầm ảnh hưởng ở xã là Tổ
chức phụ nữ Tabok (TAWO). TAWO là một đối tác tích cực trong các vấn đề môi trường và xã
hội. Các thành viên của tổ chức này đều tham gia vào Dự án làm sạch dòng sông. Họ cũng tham
gia vào những nỗ lực trong của Hội đồng xã trong việc bảo vệ nguồn nước không bị cạn kiệt và
ngăn chặn xâm nhập mặn thông qua chương trình “trồng cây mít tự do”. Phụ nữ, thông qua uỷ
ban đặc biệt TAWO, đã rất tích cực trong công việc phân xử và trung gian mà đòi hỏi công việc
nội trợ cũng như các quan hệ trong cộng đồng. Cuộc sống của phụ nữ đi kèm với cuộc sống của
gia đình và cộng đồng. Với ít khối lượng công việc nhà, nhiều phụ nữ đã có được cơ hội để kiếm
tiền từ những công việc hợp đồng từ các công ty công nghiệp và thương mại.
25 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
NƯỚC SẠCH MIỄN PHÍ CHO MỌI NGƯỜI CẦN CÓ SỰ HỢP TÁC: TRƯỜNG HỢP
TẠI INDONESIA
Anny andaryati
Nina được sinh ra và lớn lên ở Cippâgni, miền Bắc Bandung và cô tiếp tục sinh sống ở đây. Cô
lập gia đình và là mẹ của ba đứa trẻ. Chồng cô làm việc cho một trường đại học ở địa phương.
Sông Cikapundung chảy qua Cipaganti. Nina còn nhớ rằng khi cô còn bé, dòng sông lúc nào
cũng đầy nước và sạch. Cô thường chơi ở sông. Có một dòng suối không xa lắm cách nhà cô và
đó là nơi cung cấp nguồn nước ăn cho gia đình. Nina tiếp tục sử dụng nước ở dòng suối này cho
chính gia đình của mình. Gia đình cô không phải mắc đường ống nước để lấy nước. Nhà cô có
một phòng tắm và một buồng vệ sinh với một nhà xí nhỏ.
Trong những năm vừa qua, Nina nhận thấy sự xuống cấp của môi trường một cách rõ rệt. Cô
không còn tiếp cận được với dòng suối nơi trước kia mẹ cô có thể lấy nước sạch cho sinh hoạt
gia đình vì mảnh đất đó đã được chính phủ bán cho một trường đại học địa phương và những chủ
đất tư nhân đã xây dựng nhà trên khu vực đó. Những người sở hữu đất mới đã sử dụng nước cho
chính nhu cầu của bản thân họ, và chỉ có rác hay nước thừa là có ở cộng đồng. Nguồn nước này