Tầm quan trọng của việc đổi mới máy móc thiết bị đối với sự
phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1.1 Tài sản cố định và vốn cố định
Nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN có sự can thiệp của Nhà nớc là con đ-
ờng phát triển kinh tế đúng đắn. Theo đó nền kinh tế ngày một phát triển, cùng với nó là sự
phát triển tất yếu của các thành phần kinh tế mà cụ thể hơn là của từng doanh nghiệp. Để
tồn tại và phát triển, lợi nhuận đã trở thành mục tiêu hàng đầu và mang tính sống còn của
mỗi doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp, để tiến hành sản xuất, tạo ra sản phẩm cần có ba yếu tố
là: t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Các t liệu lao động (máy móc thiết bị,
nhà xởng, phơng tiện vận tải) là những phơng tiện vật chất mà con ngời sử dụng để tác động
vào đối tợng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trong nhất trong
các t liệu lao động đợc sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh đó là tài sản cố định .
1.1.1.Tài sản cố định
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu, tham gia một cách trực tiếp hay
gián tiếp vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp, quyết định trình độ sản xuất của doanh
nghiệp.
Tiêu chuẩn:
Để đợc coi là tài sản cố định thì các t liệu lao động phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu
chuẩn sau:
+ Chắc chắn thu đợc lợi ích kinh tế trong tơng lai từ việc sử dụng tài sản đó
+ Nguyên giá tài sản phải đợc xác định một cách tin cậy
+ Có thời gian sử dụng ớc tính trên một năm
+ Có giá trị lớn, đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định. Theo quyết định 206/2003/ QĐ-
BTC ban hành ngày 12/12/2003 thì tài sản cố định phải có giá trị từ 10.000.000 đồng trở
lên.
Đặc điểm chung của tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản
phẩm. Trong quá trình đó, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định
là không thay đổi song giá trị của nó lại đợc chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị sản
phẩm sản xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và đợc bù đắp mỗi khi sản phẩm đợc tiêu thụ.
đợc chia thành các nhóm sau:
+ Tài sản cố định hữu hình:
Nhóm 1- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp đợc
hình thành sau quá trình thi công xây dựng nh: nhà xởng, trụ sở làm việc, nhà kho.
Nhóm 2- Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh: máy móc thiết bị động lực, máy móc công
tác, thiết bị chuyên dùng.
Nhóm 3- Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phơng tiện vận tải nh ph-
ơng tiện đờng sắt, đờng bộ và các thiết bị truyền dẫn nh hệ thống điện, hệ thống thông tin.
Nhóm 4- Các thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh dụng cụ đo lờng, máy hút ẩm.
Nhóm 5- Vờn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm
Nhóm 6- Các loại tài sản cố định khác
+ Tài sản cố định vô hình gồm: quyền sử dụng đất có thời hạn, phần mềm máy
tính, bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thơng mại.
Trên đây là 4 phơng pháp phân loại tài sản cố định chủ yếu trong doanh nghiệp,
ngoài ra tuỳ theo đặc điểm tổ chức quản lý mà ở mỗi doanh nghiệp còn có thể tiến hành
phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành, theo bộ phận sử dụng.
Việc phân loại tài sản cố định nh trên giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu đầu t
vào tài sản cố định, tình hình sử dụng, mức độ huy động tài sản vào hoạt động kinh doanh
đã hợp lý cha. Qua đó doanh nghiệp có thể lựa chọn các quyết định đầu t, điều chỉnh cơ cấu
vốn đầu t cho phù hợp đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng tài
sản cố định và khấu hao tài sản cố định cho hợp lý.
1.1.2 Vốn cố định
Vốn cố định là số vốn đầu t ứng trớc để hình thành nên tài sản cố định của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà quy mô vốn cố định quyết định đến tính đồng bộ và trình độ kỹ
thuật của tài sản cố định, song chính đặc điểm kinh tế của tài sản cố định lại chi phối quyết
định tới đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Từ mối quan hệ này có thể
thấy đặc điểm và những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản
xuất kinh doanh đó là:
+ Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì sức mua của vốn cố định ở
thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu t ban đầu bất kể sự biến động của giá cả, sự
thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Tóm lại, vốn cố định là một bộ phận quan trọng, quyết định đến quy mô, trình độ
trang bị kỹ thuật của tài sản cố định trong doanh nghiệp. Việc bảo toàn vốn cố định, thờng
xuyên đổi mới tài sản cố định cho phù hợp với tình hình thực tế nhằm đáp ứng những yêu
cầu khắt khe của thị trờng là vấn đề doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm nếu không muốn
mình bị tụt hậu và thất bại trong kinh doanh.
1.1.3. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hởng của nhiều nguyên nhân khác nhau, tài
sản cố định của doanh nghiệp bị hao mòn dới 2 hình thức: hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình
Hao mòn hữu hình tài sản cố định là sự hao mòn về vật chất và giá trị của tài sản
cố định trong quá trình sử dụng. Về mặt vật chất đó là sự hao mòn có thể nhận thấy đợc từ
sự thay đổi trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ phận, chi tiết tài sản cố định dới sự tác động
của ma sát, trọng tải, nhiệt độ sự giảm sút về chất lợng, tính năng kỹ thuật ban đầu, và cuối
cùng tài sản cố định không còn sử dụng đợc nữa. Về mặt giá trị đó là sự giảm dần giá trị
của tài sản cố định cùng với quá trình chuyển dịch dần từng phần giá trị hao mòn vào giá trị
sản phẩm sản xuất ra. Đối với các tài sản cố định vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở
sự hao mòn về giá trị.
Hao mòn vô hình tài sản cố định là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố
định do sự tiến bộ của khoa học công nghệ hoặc do sự chấm dứt chu kỳ sống của sản phẩm
làm cho những tài sản cố định tạo ra những sản phẩm đó bị mất giá. Hao mòn vô hình xảy
ra đối với cả tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Nh vậy, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình. Bộ phận giá trị hao mòn đó đợc chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra gọi
là khấu hao tài sản cố định. Đây đợc coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm, đợc biểu
hiện dới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao. Sau khi sản phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ, số
tiền khấu hao sẽ đợc tích luỹ lại hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định. Việc trích lập quỹ
khấu hao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp bởi nó là một trong những
móc thiết bị hiện đại làm cho năng suất lao động tăng lên, lợng sản phẩm sản xuất ra cũng
tăng lên và khi đạt mức hòa vốn thì chi phí khấu hao TSCĐ tính cho một đơn vị sản phẩm
sản xuất ra sẽ giảm xuống, đồng thời cũng giảm bớt lao động thủ công làm cho chi phí tiền
lơng giảm. Từ đó góp phần làm hạ giá thành sản xuất sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có khả năng hạ giá bán, mở rộng đợc thị phần ra nhiều tầng lớp dân c khác nhau.
Đồng thời doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng tăng lên, kéo theo đó là lợi nhuận cũng có điều
kiện tăng lên.
Bên cạnh việc tiết kiệm đợc chi phí, với máy móc thiết bị hiện đại sẽ làm cho năng
suất tăng lên cùng với đó là chất lợng sản phẩm sản xuất ra cũng tăng lên, có khả năng đáp
ứng đợc những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trờng cả về chất lợng sản phẩm cũng nh
mẫu mã, chủng loại. Việc nâng cao chất lợng sản phẩm kết hợp với hạ giá bán sẽ làm tăng
sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng, điều này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh
nền kinh tế Việt Nam đang có những thay đổi theo chiều hớng hội nhập, nhất là khi chúng
ta đang thực thi tiến trình hội nhập AFTA và phấn đấu đến cuối năm 2005 chúng ta sẽ gia
nhập vào tổ chức thơng mại thế giới WTO. Tóm lại muốn đạt đợc mục tiêu lợi nhuận, nâng
cao vị thế của mình, mỗi doanh nghiệp cần phải tăng năng lực sản xuất, nâng cao chất lợng
sản phẩm , tăng khả năng cạnh tranh. Điều đó cũng đồng nghĩa với sự cần thiết phải đầu t
đổi mới máy móc thiết bị công nghệ đối với mỗi doanh nghiệp.
1.2.1.2. Thực trạng máy móc thiết bị hiện nay của các doanh nghiệp.
Sự mở cửa, giao lu, hội nhập kinh tế đã mở ra cho các doanh nghiệp những cơ hội
song cũng đặt ra không ít những thách thức mà một trong số đó là sự cạnh tranh ngày càng
gay gắt. Để tồn tại thì bản thân mỗi doanh nghiệp phải hoà mình vào thời cuộc và tự trang