Mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp ở các nước đang phát triển với trình trạng sử dụng lao động ở các nước này - Pdf 51

Nhóm 10.
ĐỀ TÀI : Mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp ở các nước đang phát
triển với trình trạng sử dụng lao động ở các nước này

CHƯƠNG I . LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ THẤT NGHIỆP
1.1.Lao động:
Lao động là những từ ngữ đã quá quen thuộc với chúng ta,hôm nay chúng ta
sẽ tìm hiểu khái niệm nguồn lao động,vai trò của lao động trong sự phát triển kinh
tế cũng như các dặc điểm của nguồn lao động tại các nước đang phát triển.
Nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động đang tham gia
làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
1.1.1. Vai trò của lao động trong quá trình phát triển kinh tế:
+ Lao động là 1 yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất,một
yếu tố quyết định việc sử dụng hiệu quả các đầu vào khác.Trong một chừng mực
nhất định ,lao động còn có thể thay thế cho vốn trong quá trình sản xuất,điều này
đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng thiếu
vốn,thừa lao động.
+ Lao động là yếu tố đầu vào đặc biệt,trong quá trình sử dụng cần phải bù đắp hao
phí thông qua việc tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.Trình độ phát triển
kinh tế thay đổi cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi trong thu nhập ,điều này tác động đến
cơ cấu tiêu dùng ,và thay đổi cơ cấu sản xuất.
1.1.2 . Đặc điểm của nguồn lao động tại các nước đang phát triển:
+ Số lượng lao động tăng nhanh,việc này tạo áp lực về việc làm và thu nhập cho
các quốc gia đang phát triển.Sự tăng trưởng chậm chạp trong các khu công nghiệp
và dịch vụ cộng với sự tăng quá nhanh của lực lượng lao động làm cho khu vực
công nghiệp hiện nay ở các nước đang phát triển chỉ thu hút được 20-35% lực
lượng lao động gia tăng.Làm con số thất nghiệp và thiếu việc làm ngày 1 gia
tăng.Theo thuyết nhân khẩu của MALTHUS ,thì lương thực tăng theo cấp số cộng
trong khi dân số tăng theo cấp số nhân.





Thất nghiệp do trì trệ của nền kinh tế: là loại hình thất nghiệp khi có một tỉ lệ
nhất định người lao động trong lực lượng lao động không kiếm được việc làm do trì
trệ của nền kinh tế. Nó được xuất hiện dưới dạng cấp tính và theo chu kỳ dai, ngắn tùy
theo mức suy thoái của nền kinh tế. Có nhiều loại nguyên nhân dẫn đến loại hình thất
nghiệp này như:
+ suy thoái của nghành và nền kinh tế.
+ gia tăng nhanh về dân số, lao động không có biện pháp diều chình hiệu quả.
+ thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật và không có giải pháp khắc phục hiệu quả.
+ có các rào cản phát triển kinh tế chưa được tháo gỡ.
+ có các rào cản về hành chính và di chuyển lao động trong nền kinh tế
Thất nghiệp cơ cấu: là tình trạng thất nghiệp xảy ra ro sự mất cân đối cung cầu lao
động trong một nền kinh tế , một ngành hoặc một địa phương nào đó. Sự cân bằng
thường nảy sinh do thực hiện các điều chỉnh chính sách kinh tế dẫn đến thay đổi trong
cơ cấu sản xuất của toàn bộ nền kinh tế truyền thống có thể bị giảm sút, suy thoái và
xuất hiện, phát triển của các ngành sản xuất, kinh doanh mới. Trong quá trình thay đổi
này làm cho kỹ năng, tay nghề cũ của người lao động trở nên không thích hợp với
những nghề mới. Công nghệ sản xuất và quản lý mới đòi hỏi người lao động phải có
chất lượng cao hơn về chuyên môn tay nghề, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải trở
thành thất nghiệp, chính vì vậy loại thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp công
nghệ.
Thất nghiệp tạm thời: Là tình trạng thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển của
người lao động giữa các vùng, các địa phương,giữa các loại công việc hoặc giữa các
giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Trong một nền kinh tế có đầy đủ việc làm,vẫn
luôn có một sự chuyển động nào đó và có sự thất nghiệp tạm thời như:một số người
đang đi tìm việc làm sau khi tốt nghiệp các trường giáo dục, đào tạo, đi tìm việc sau
khi di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, phụ nữ sau khi sinh con đi tìm
việc làm mới...
Thất nghiệp tự nguyện: Là tình trạng người lao dộng không muốn đi làm với mức

mức sống người lao động và nhân dân.



Tác động xã hội của thất nghiệp :
+ Thất nghiệp làm phất sinh tệ nạn xã hội, một bộ phận người thất nghiệp sa
vào hoạt động buôn bán và nghiện ngập ma túy, hoạt động mại dâm, cờ bạc ....
+ tâm trạng chán nản, buồn chán phổ biến ở những người thất nghiệp do giảm
sút hoặc mất thu nhậ, mất mối quan hệ về xã hội về lao động kéo dài....
+ bầu không khí khuyến khích tham gia lao động trong xã hội bị lắng xuống
trong tình trạng thất nghiệp phổ biến và thất nghiệp dài hạn.


CHƯƠNG II . THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
2.1. Thực trạng thất nghiệp và tình hình sử dụng lao động ở Việt Nam hiện
nay:
2.1.1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và bước vào hội nhập kinh tế
quốc tế, bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế - xã hội, thì nước ta cũng
đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp một trong nhưng vấn đề nan giải và
hết sức bức xúc. Hàng năm có một lượng lớn thanh niên bước vào độ tuổi lao
động, nhưng khả năng thu hút lao động của nền kinh tế lại hết sức hạn chế. Bên
cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, một bộ phận không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau bị mất việc
làm, đời sống khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an sinh xã hội.
Theo báo cao xu hướng việc làm việt nam do Bộ lao Động – Thương binh và
xã hội công bố cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người trong độ tuổi từ 15 đến
24 tăng mạnh từ 4.7% đến 6% trong thời gian từ năm 1997-2007.
Năm 2008: dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn

4.65
1.53
5.10
2.34
6.10
Đồng băng 2.29
5.35
1.29
6.85
2.13
8.23
sông Hồng
Trung du và 1.13
4.17
0.61
2.55
2.47
2.56
miền
núi
phía Bắc
Bắc trung 2.24
4.77
1.53
5.71
3.38
6.34
bộ và duyên
hải
miền

đã có tới 133.262 lao động bị mất việc làm do chiếm 18% lao động làm việc trong
các doanh nghiệp có báo cáo, chưa kể 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc
làm và khoảng 100.000 người phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên.


Năm 2010: mặc dù nền kinh tế đang bắt đầu hồi phục, các doanh nghiệp đã
nhận được nhiều đơn đặt hàng nhưng theo các chuyên gia kinh tế, dự báo thất
nghiệp năm nay có thể bằng hoặc cao hơn năm trước.
2.1.2 tình hình sử dụng lao động ở việt nam hiện nay:
* Khuyến khích sử dụng lao động địa phương.
Đầu tiên, các công ty Việt Nam và nước ngoài được khuyến khích sử dụng
lao động địa phương. Nếu không họ phải giải thích tại sao những lao động có tay
nghề là người nước ngoài mà không phải là người Việt Nam.
Thứ hai, các công ty phải từng bước đào tạo nhân viên Việt Nam để dần thay
thế các nhân viên nước ngoài.
*Thời gian lao động.
Từ thứ hai đến thứ bảy, 8 tiếng/ ngày, 48 tiếng/ tuần, có thể tăng thêm hoặc
giảm xuống tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa hai Bên. Mức làm việc thêm giờ là
150% cho thời gian trong tuần và 200% cho những ngày cuối tuần và những ngày
nghỉ lễ nếu như nhân viên của bạn làm việc trên 12 tiếng / ngày.
*Công đoàn:
Tất cả các công ty phải cho nhân viên của họ tham gia hoạt động công đoàn.
Các vấn đề phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động phải được
giải quyết thông qua đàm phán. Nếu vẫn chưa giải quyết được, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sẽ can thiệp.
*Mức lương tối thiểu:






giảm tăng trưởng toàn cầu, nhất là kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào
đầu tư nước ngoài và xuất khẩu đặc biệt là sang Hoa kỳ và Châu Âu. Danh sách
các doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng nhiều. hậu
quả là nạn thất nghiệp ở Việt Nam tăng cao.
Thứ ba: lao động ở Việt Nam có trình độ tay nghề thấp.
Thực tế lao động ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu mới, tính
chuyên nghiệp chưa cao. Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu và sự thiếu phối hợp
giữa hệ thống đào tạo và hệ thống giáo dục, các nhu cầu thị trường lao động và
quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm.Tỷ lệ lao động được đào tào nghề rất
thấp, chỉ khoảng 26%. Lao động của chúng ta dồi dào nhưng vẫn không tìm được


việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn đinh một phần do trình độ chưa đáp
ứng được yêu cầu. Do đó, lao động vẫn trong tình trậng bán chuyên nghiệp, công
việc chắp vá không ổn định.
Theo thống kê, cả nước hiện có 1915 cơ sở hành nghề (CSDN) trong đó có
1218 CSDN công lập (chiếm 64%), bao gồm 262 trường dạy nghề, 251 trường
ĐH, CĐ, TCCN và 803 cơ sở khác có dạy nghề. Trong đó đáng chú ý là khoảng
355 CSDN thuộc các doanh nghiệp. trong những năm qua, bình quân mỗi năm các
trường dạy nghề thuộc doanh nghiệp đào tạo khoảng 90.000 đến 100.000 học sinh
nghề dài hạn và hàng trăm học sinh hệ ngắn hạn. tuy nhiên, thực tế hiệu quả của
công tác dạy nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. bằng chứng là, hầu hết các
doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào việt nam đều gặp khó khăn trong việc tuyển dụng
lao động, nhất là lao đông có tay nghề.
Thứ tư: do nếp nghĩ có từ lâu trong thanh niên.
Đây là thói quen đề cao việc học để làm thầy mặc dù nếu bản thân làm thợ
sẽ tốt hơn hay thích làm nhà nước, không thích làm cho tư nhân.như vậy là thiếu
thực tế bởi không dựa trên khả năng của ban thân, một bộ phận khác lại tự ti,
không đánh giá hết năng lực thực sự của mình. Chọn nghề theo nếp nghĩ sẽ dễ mắc
những sai lầm. rất nhiều lao động trẻ nhảy việc để tìm kiếm thu nhập cao nên đẫn

hơn mức chung của cả nước. Theo báo cáo kết quả LĐ, việc làm hằng năm từ năm
2000 - 2005 của Bộ LĐ-TB&XH thì tỷ lệ thất nghiệp của TN vẫn cao hơn mức
chung của cả nước, riêng năm 2003 là cao gấp 2 lần (4% so với 2%) và tỷ lệ thất
nghiệp của LĐ TN thành thị cao hơn ở nông thôn, tỷ lệ này ở nông thôn năm 2003
là 2% nhưng thành thị lên tới 11% (cao gấp 5,5 lần). Có tới gần 68,21% tổng số
người thất nghiệp là LĐ TN, đông nhất thuộc về lứa tuổi từ 20 - 24 (27,6%). Mặc
dù các chỉ số đánh giá chất lượng LĐ trẻ Việt Nam trong những năm qua có tăng
lên đáng kể, song những người sử dụng LĐ lại đang ca thán khi gặp nhiều khó
khăn trong việc tìm người LĐ có kỹ năng phù hợp. Một trong nhiều nguyên nhân
của vấn đề này xuất phát từ cơ cấu đào tạo "thầy nhiều hơn thợ". Đào tạo đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật còn nhiều bất cập so với
yêu cầu của thị trường LĐ.
* Sử dụng lao động chất lượng thấp:
Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam có tổng cộng 45,3 triệu lao động, trong
đó ba phần tư là lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, sau nhiều năm phát triển, thị
trường lao động Việt Nam vẫn chưa tương xứng với yêu cầu về nguồn lao động
cho thị trường. Hiện nay mới chỉ có 32% số lao động là đã qua đào tạo và tỷ lệ lao
động đã có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn là 14,4%.Theo một số báo cáo cho thấy
Việt Nam thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao
cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng... nên nhiều nghề và


công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa phần có
trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chỉ qua giáo dục định hướng.
*Sử dụng lao động có kỹ năng, tác phong thiếu chuyên nghiệp:
Kỹ năng làm việc của lao động Việt Nam, đặc biệt các lao động mới ra
trường là nỗi lo thường trực của doanh nghiệp. Theo ý kiến của nhiều chủ doanh
nghiệp, các cán bộ phụ trách nhận sự thì nguyên nhân chính của thực trạng này nảy
sinh ngay từ trong giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được
rèn luyện kỹ năng. Nhiều doanh nghiệp đã phải đào tạo lại sinh viên khi ra trường

+ Tập trung xây dựng, hoàn thiện và triển khai các chính sách pháp luật, cải
thiện đời sống, điều kiện làm việc cho người lao động, phát triển thị trường lao
động, phát triển dạy nghề,khôi phục và phát triển các làng nghề và ngành nghề
truyền thống...Tất cả những điều này sẽ giúp mọi người dân có công ăn việc làm
không những thế còn phát triển được những ngành nghề truyền thống phát triển
văn hóa lâu đời,quen thuộc với người việt nam
+ Lập ra các tổ chức tuyển dụng với lãi suất cho vay thấp,giúp đỡ cho người
nghèo, người lao động thất nghiệp.
+ Lập bảo hiểm thất nghiệp để phần nào bảo vệ thu nhập cho người mất việc.
+ Các giải pháp y tế, giáo dục phải được nhà nước tăng cường.Hệ thống an
sinh xã hội phải được cải thiện vì an sinh xã hội thể hiện quyền cơ bản của con
người và là công cụ để xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh và không có sự loại
trừ. An sinh xã hội (ASXH) có nguyên tắc cơ bản là đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ
và tương trợ cộng đồng đối với các rủi ro trong đời sống, do vậy có tác dụng thúc
đẩy sự đồng thuận, bình đẳng và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống ASXH
thông qua tác động tích cực của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu
nhập và các dịch vụ xã hội, sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi cơ
cấu lao động nói riêng và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế nói chung.
+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo được nhiều công ăn việc làm cho người
dân trong nước, giảm được tỷ lệ thất nghiệp một cách đáng kể .
3.2.Giải pháp vi mô:
Về giải pháp vi mô là những giải pháp áp dụng cho chính doanh nghiệp
và những người lao động.
Đối với doanh nghiệp:


- Trước hết, các doanh nghiệp cần chú trọng hơn tới việc lập kế hoạch tương đối
dài hạn về lao động để có cơ sở chủ động về nguồn nhân lực, tránh tình trạng nước
đến chân mới nhảy.


hội này các doanh nghiệp nên tổ chức đào tạo lại cho họ, đào tạo và vẫn giữ họ ở
doanh nghiệp chứ không sa thải. Ví dụ mỗi tuần làm 1 hoặc 2 ngày, còn những
ngày khác thì tổ chức đi học và nâng cao tay nghề... đặc biệt là đào tạo về kỹ năng


lao động, quan hệ lao động... gói kích cầu của chính phủ và hỗ trợ doanh nghiệp
cần chia sẻ những hoạt động này.
Đối với những người lao động thì trước hết phải chuẩn bị sẵn cho mình
những kỹ năng làm việc tức là phải học tập nâng cao tay nghề để khi tham gia làm
việc tại các doanh nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Như thế thì sẽ tránh được tình
trạng mất việc. Đồng thời những người lao động cũng nên tim hiểu các thông tin
về thị trường lao động để tiện trong việc tìm việc. Và những người lao động cũng
nên hợp tác với doanh nghiệp để có thể dễ dàng thực hiện những chủ trương, chính
sách của doanh ngiệp.
Nếu doanh nghiệp và người lao động làm được những điều trên thì sẽ phần
nào giải quyết được vấn đề thất ngiệp và sử dụng lao động đang rất nan giải hiện
nay.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status