BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
NGUYỄN QUỐC DŨNG
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và
tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm
phát tại Việt Nam
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành: 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Tiến sĩ Lê Văn Chơn
Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2015
TÓM TẮT
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, có ảnh hưởng sâu rộng
đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Nước ta kể từ khi tiến hành cải cách nền
kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn
những vấn đề tồn đọng đối với nền kinh tế nước ta mà một trong những vấn đề đó
chính là tình trạng lạm phát. Chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới mọi
mặt của nền kinh tế. Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắn chắn của
tỷ lệ lạm phát đã được thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất lâu tuy nhiên tại Việt Nam
việc tìm ra mối quan hệ giữa hai biến số này vẫn còn ít được đề cập đến. Do vậy đây
chính là lý do tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu. Với chuỗi dữ liệu
chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và Giá trị Sản xuất Công nghiệp
2.1.2 Cách tính ....................................................................................... trang 7
2.1.3 Tác động của lạm phát ................................................................ trang 9
2.1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát ..................................................... trang 11
2.1.5 Các biện pháp hạn chế lạm phát ................................................ trang 17
2.2 Khái niệm về các biến giải thích khác trong mô hình ................. trang 20
iv
2.2.1 Cung tiền ....................................................................................... trang 20
2.2.2 Giá trị sản xuất Công nghiệp ...................................................... trang 21
2.3 Lý thuyết về tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ................ trang 22
2.3.1 Khái niệm và tác động của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát
................................................................................................................. trang 22
2.3.2 Phương pháp đo lường ................................................................ trang 24
2.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát
................................................................................................................. trang 25
2.5 Các nghiên cứu trước ..................................................................... trang 30
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu ................................................... trang 33
3.1 Quy trình nghiên cứu...................................................................... trang 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu ............................................................... trang 35
3.3 Mô hình nghiên cứu và định nghĩa biến ....................................... trang 35
3.3.1 Lý thuyết về mô hình EGARCH ................................................ trang 35
3.3.2 Mô hình nghiên cứu ..................................................................... trang 37
3.3.3 Định nghĩa biến ............................................................................ trang 40
3.4 Dữ liệu nghiên cứu .......................................................................... trang 41
3.4.1 Cách lấy dữ liệu ............................................................................ trang 41
3.4.2 Mẫu nghiên cứu ............................................................................ trang 41
3.4.3 Cách xử lý số liệu ......................................................................... trang 42
3.5 Giả thuyết nghiên cứu .................................................................... trang 42
Hình 6: Giảm lạm phát dần dần .............................................................. trang 19
Hình 7: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính độc lập của NHTW ............ trang 20
Bảng 3: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của nó .... trang 28
Hình 8: Khung phân tích ......................................................................... trang 29
Hình 9: Quy trình nghiên cứu ................................................................. trang 34
Bảng 4: Các trường hợp trong kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả
................................................................................................................. trang 38
Bảng 5: Tổng hợp đo lường các biến trong mô hình .............................. trang 41
Hình 10: Tỷ lệ lạm phát các Quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2013
................................................................................................................. trang 44
Hình 11: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam Á năm 2009
................................................................................................................. trang 45
vii
Hình 12: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 phân theo nhóm hàng hóa ...... trang 46
Hình 13: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2011 ...................... trang 47
Hình 14: Chỉ số giá tiêu dùng CPI so với cùng kỳ năm trước theo tháng
................................................................................................................. trang 48
Hình 15: Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 theo tháng .......................... trang 48
Hình 16: Giá trị Sản xuất Công nghiệp so với cùng kỳ năm trước theo tháng
................................................................................................................. trang 49
Bảng 6: Thống kê mô tả các biến trong mô hình .................................... trang 49
Bảng 7: Ma trận tương quan các biến độc lập trong mô hình ................ trang 50
Hình 17: Mối quan hệ giữa Cung tiền và Giá trị Sản xuất Công nghiệp
................................................................................................................. trang 51
Bảng 8: Kiểm định tính dừng của biến CPI ............................................ trang 52
Bảng 9: Kiểm định tính dừng của biến Cungtien ................................... trang 52
Bảng 10: Kiểm định tính dừng của biến GTSXCN ................................ trang 52
NHTW: Ngân hàng Trung ương
NC: Nghiên cứu
PPI: Chỉ số giá sản xuất
SAS: Đường tổng cung trong ngắn hạn
TW: Trung ương
VAR: Vectơ tự hồi quy
x
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
CHƯƠNG 01: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, có ảnh hưởng sâu rộng
đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Sự tác động này bao gồm cả tích cực và
tiêu cực, tùy thuộc vào khả năng thích ứng với sự thay đổi của lạm phát và mức độ
tiên liệu về lạm phát. Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào
và đầu ra biến động, gây ra sự mất ổn định trong quá trình sản xuất. Đối với lĩnh vực
lưu thông, lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa.
Đối với lĩnh vực tín dụng, lạm phát làm rối loạn hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Cụ thể là lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ giảm do sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi
không đủ làm an tâm những người đang có tiền nhàn rỗi, trong khi đó những người
đi vay lại được lợi lớn nhờ vào sự mất giá của đồng tiền. Trong điều kiện các nhân
tố khác không đổi, lạm phát xảy ra sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái, và do đó tăng cường
tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu nhưng đồng thời cũng gây bất lợi cho hoạt động
nhập khẩu. Lạm phát còn gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước bằng việc bào mòn
giá trị thực của những khoản công phí. Ngoài ra, tình trạng lạm phát cao kéo dài và
(Nguồn Ngân hàng Thế Giới, www.worldbank.org)
Trang 2
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam
(Nguồn Ngân hàng Nhà nước, www.sbv.com.vn)
Bảng 1: Hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp
(Nguồn Tổng Cục Thống Kê, 2013)
Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát đã được
thế giới quan tâm và nghiên cứu với Okun (1971) là người đầu tiên nêu ra ý tưởng
này trong tác phẩm “Inflation and Unemployment”. Sau đó, đã có nhiều nghiên cứu
tiếp theo nhằm phát triển ý tưởng này của Okun và hiện nay có hai trường phái đối
với vấn đề nghiên cứu này. Một là, tỷ lệ lạm phát sẽ tác động tới tính không chắc
chắn của tỷ lệ lạm phát. Cụ thể, trong công trình nghiên cứu của Friedman (1977)
và Ball (1992) hai ông cho rằng tỷ lệ lạm phát càng cao thì sẽ dẫn tới sự gia tăng
trong tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát; tuy nhiên, Pourgerami và Maskus
(1987); Ungar và Zilberfarb (1993) lại phản bác ý tưởng này khi cho rằng tỷ lệ lạm
Trang 3
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,5%/năm. Tuy nhiên, bên cạnh đó vấn đề lạm
phát đang trở thành một bài toán nan giải đối với nền kinh tế nước ta trong thời gian
gần đây. Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài với việc ước lượng mối quan hệ giữa
tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam sẽ trở thành
một công cụ hữu hiệu đối với các nhà hoạch định chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm
ổn định tỷ lệ lạm phát và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp
theo.
1.5 Cấu trúc của bài viết
Bài viết được chia thành năm phần. Chương 1 giới thiệu vấn đề, mục tiêu và
câu hỏi nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về lạm phát, tính không chắn
chắn của tỷ lệ lạm phát và mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn
của tỷ lệ lạm phát. Chương 3 trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu phục vụ cho
đề tài. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5 trình bày giải pháp và kiến
nghị.
Trang 5
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
CHƯƠNG 02: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ở chương trước, tác giả đã trình bày những lý do vì sao nghiên cứu đề tài này,
mục tiêu, câu hỏi và ý nghĩa nghiên cứu. Chương này, tác giả sẽ trình bày những cơ
sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
2.1.2 Cách tính
Theo Mankiw (2009) thì hiện nay có hai cách tính thông dụng dùng để tính tỷ
lệ lạm phát đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số GDP khử lạm phát (GDP
Deflator).
Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2009) thì “Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ
tiêu thống kê phản ánh mức độ biến động qua thời gian về giá cả của các loại hàng
hóa và dịch vụ chi tiêu. CPI là giá của giỏ hàng hóa và dịch này so với giá của giỏ
hàng hóa và dịch vụ như vậy trong một năm cơ sở nào đó.”
Danh mục các mặt hàng đại diện và quyền số chi tiêu cuối cùng để tính chỉ số
giá tiêu dùng sẽ được Tổng Cục Thống Kê cập nhật ở các năm 2000, 2005 và tháng
10 năm 2009. Công thức tính chỉ số tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay được tính theo
công thức Laspeyres cụ thể như sau:
𝐼
𝑡→0
𝑡 0
∑𝑛
𝑖=1 𝑝𝑖 𝑞𝑖
= ∑𝑛
0 0
𝑖=1 𝑝𝑖 𝑞𝑖
=
𝑝𝑖𝑡
𝑛
01
I- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống
39,93
011
1. Lương thực
8,18
012
2. Thực phẩm
24,35
013
3. Ăn uống ngoài gia đình
7,40
02
II- Đồ uống và thuốc lá
4,03
08
VIII- Bưu chính viễn thông
2,73
09
IX- Giáo dục
5,72
10
X- Văn hóa, giải trí và du lịch
3,83
11
XI- Hàng hóa và dịch vụ khác
3,34
(Nguồn Tổng Cục Thống Kê, www.gso.gov.vn)
Trang 8
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
trong trường hợp này, không phải là nền kinh tế không chịu tổn thất nào hết mà thực
tế là nó phải gánh chịu “chi phí mòn giày” và “chi phí thực đơn”.
Cũng theo M. Gärtner (2009), trong trường hợp lạm phát xảy ra đúng như dự
đoán, lãi suất danh nghĩa sẽ tăng theo cùng tỷ lệ so với tỷ lệ lạm phát sao cho lãi suất
thực không đổi, mà lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. Do đó, khi lãi
suất danh nghĩa tăng lên, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng, do vậy mà người
dân sẽ tăng cường gửi tiền vào ngân hàng. Giả sử bình thường, để thực hiện 1000
giao dịch một tuần người này phải có một lượng tiền mặt nhất định để thực hiện giao
dịch. Tuy nhiên, do lãi suất danh nghĩa tăng lên, lượng tiền mặt nắm giữ của người
này sẽ ít đi do gửi tiền vào ngân hàng, vì vậy mà để thực hiện 1000 giao dịch một
tuần như trước đây, người này phải thường xuyên tới ngân hàng để rút tiền. Lúc này,
người ta nói chi phí mà người này gánh chịu là “chi phí hao mòn giày”, tức là ám
chỉ thời gian và nỗ lực của người dân bỏ ra thêm để thực hiện các giao dịch khi nền
kinh tế có lạm phát. Đồng thời khi lạm phát xảy ra, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng lên,
người ta phải tốn thêm chi phí để in lại giá cả các hàng hóa dịch vụ; chi phí đó được
gọi là “chi phí thực đơn”.
Bên cạnh đó, theo Nguyễn Thái Thảo Vy (2008), khi lạm phát xảy ra không
đúng như dự đoán, tác động quan trọng nhất là tác động phân phối lại thu nhập giữa
các chủ thể trong nền kinh tế. Thu nhập của một người tăng lên hay giảm xuống tùy
thuộc vào tốc độ tăng của thu nhập danh nghĩa so với tỷ lệ lạm phát. Thêm vào đó,
theo Choi và ctg (1996), nếu lạm phát tăng cao sẽ làm giảm mức lãi suất thực tế mà
người đi vay phải trả cho người cho vay, thậm chí âm. Tình huống đó dẫn tới có
nhiều người muốn trở thành người đi vay hơn là người tiết kiệm, do đó tạo ra sự mất
cân bằng trong thị trường vốn và tín dụng.
Hiện nay có hai trường phái chính giải thích về các nhân tố gây ra lạm phát.
Đầu tiên, đó là cách tiếp cận theo hướng tiền tệ mà đại diện cho nó là Milton
Friedman. Friedman và Schwartz (1970) người mà viết một cuốn sách có ảnh hưởng
tới lịch sử tiền tệ của nước Mỹ, đã phát biểu rằng “Lạm phát luôn luôn và mọi nơi
là một hiện tượng tiền tệ”. Các nhà Kinh tế học theo trường phái Cổ điển (David
Trang 11
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
Hume, Adam Smith, David Ricardo và John Stuart Mill) và Tân Cổ điển (Leon
Walras, Afred Marshall và Athur C.Pigou) đều sử dụng Lý thuyết về lượng cung
tiền (Quantity theory of money) để giải thích lạm phát (Kibritçioğlu, A, 2002). Cụ
thể như sau: ta có đẳng thức MV = PT với M là lượng cung tiền của nền kinh tế, V
là tốc độ vòng quay của tiền, P là mức giá chung của nền kinh tế và T là đại diện số
lượng các giao dịch trong nền kinh tế. Với giả định là trong ngắn hạn thì V và T là
cố định do vậy mà theo cách giải thích của Lý thuyết về lượng cung tiền thì tỷ lệ lạm
phát xảy ra xảy ra là do tình trạng gia tăng cung tiền trong nền kinh tế. Tuy nhiên,
Milton Friedman cũng dựa trên Lý thuyết về lượng Cung tiền để giải thích về lạm
phát của nền kinh tế như sau: lạm phát xảy ra là do tình trạng tốc độ tăng cung tiền
tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế (Kibritçioğlu, A, 2002).
Ngoài ra, theo Mishkin (1989) thì một sự gia tăng cung tiền trong nền kinh tế
sẽ dẫn tới sự gia tăng tổng cầu của nền kinh tế điều này dẫn tới sự gia tăng sản lượng,
sự sụt giảm tỷ lệ thất nghiệp về mức dưới tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong nền kinh
tế và tiền lương của nền kinh tế sẽ tăng lên. Sự gia tăng tiền lương trong nền kinh tế
sẽ dẫn tới sụt giảm cầu về lao động do vậy dẫn tới đường cung dịch sang trái do vậy
mà dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế tăng lên.
Trong khi Blinder (2002) một người đại diện cho trường phái thứ hai, một nhà
trích bởi Frish (1990) thì lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi đường tổng cung dịch sang
trái do chi phí sản xuất tăng nhanh hơn năng suất lao động điều này đồng nghĩa với
việc tiền lương tăng trước trong khi chưa tăng năng suất lao động hay mức giá chung.
Nhà Kinh tế học nổi tiếng nhất mà phê phán trường phái Keynes là Lucas,
người mà tranh cãi rằng chính sự kỳ vọng duy lý đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế do bởi nó tác động đến hành vi của các cá nhân trong nền kinh tế. Cụ thể,
người tiêu dùng sẽ quyết định sản lượng tiêu thụ của mình phụ thuộc vào kỳ vọng
thu nhập tương lai của họ và công ty quyết định sẽ đầu tư bao nhiêu tiền dựa trên sự
kỳ vọng vào tương lai. Và một sự dịch chuyển nào đó trong kỳ vọng của người tiêu
dùng sẽ dẫn tới sự thay đổi trong nhu cầu hàng hóa và do vậy mà có thể dẫn tới sự
gia tăng mức giá chung trong nền kinh tế. Đồng thời, ông cũng lập luận rằng chính
Trang 13
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
sự kỳ vọng duy lý sẽ đánh bại chính sách tài khóa và tiền tệ (Lucas, 1976, trích bởi
Mohamad Rahimi và ctg, 2009). Cụ thể nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái
thì nhà sản xuất sẽ nhanh chóng nhận ra điều này và điều chỉnh hành vi của mình
nhằm thu hút khách hàng do vậy mà thị trường sẽ nhanh chóng hồi phục bất chấp có
sự can thiệp của chính phủ hay không. Các nhà Kinh tế học theo trường phái hậu
Keynes giả định rằng người tiêu dùng và hộ gia đình cũng có sự kỳ vọng duy lý tuy
nhiên do bởi tồn tại sự cạnh tranh không hoàn hảo trong việc xác định giá và lương
điều này giải thích lý do vì sao giá và lương trở nên cứng nhắc và do vậy mà chúng
sẽ không thể điều chỉnh nhanh chóng theo các điều kiện kinh tế. Chính điều này và
những sự thất bại thị trường khác trong mô hình hậu Keynes là nguyên nhân giải
thích tại sao mà nền kinh tế không chỉ thất bại trong việc đạt được trạng thái toàn
dụng lao động mà còn tồn tại tình trạng lạm phát. Do vậy mà theo các nhà kinh tế
ủng hộ cao nhất của dân cư và đường cong bàng quan của chính phủ thể hiện những
sự kết hợp lạm phát và thu nhập mà tại đó chính phủ nhận được cùng một sự ủng hộ
của người dân. Nếu ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ thì họ sẽ kiểm soát
cung tiền do lo sợ lạm phát và vì vậy mà lạm phát được kiểm soát một cách ổn định.
Tuy nhiên nếu ngân hàng trung ương phụ thuộc chính phủ thì họ sẽ tìm mọi cách gia
tăng tổng cầu để chính phủ nhận được sự ủng hộ của người dân do đó mà lạm phát
sẽ gia tăng. Chúng ta có thể hình dung điều này thông qua trò chơi như sau: Đây là
trò chơi giữa chính phủ và tổ chức công đoàn. Chính phủ luôn luôn muốn có được
số phiếu bầu cao nhất còn các tổ chức công đoàn luôn luôn muốn tăng lương. Tuy
nhiên ở trò chơi này các tổ chức công đoàn sẽ là những người chơi trước vì họ với
sức mạnh sẽ tổ chức các cuộc bãi công, đình công và buộc chính phủ phải là người
chơi theo trò chơi của họ. Nếu chính phủ không tăng lương cho công nhân thì họ chỉ
nhận được 38% phiếu bầu còn nếu thực hiện thì họ nhận được 42%. Do vậy họ sẽ
chấp nhận yêu sách đó do đó mà sản lượng không đổi mà lạm phát thì tăng lên.
Trang 15
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
HVTH: Nguyễn Quốc Dũng
Hình 3: Lạm phát và mức độ độc lập của NHTW
(Nguồn M.Gärtner, 2009)
Hình 4: Trò chơi giữa chính phủ và Liên đoàn Lao động
(Nguồn M.Gärtner, 2009)