Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội còn lớn, sự không ngang bằng
trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa… và đặc biệt là tiếp cận
với các dịch vụ pháp lý còn có khoảng cách đáng kể. Bởi vậy, một số trường hợp
người dân không được hỗ trợ pháp lý hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại dẫn đến việc họ dễ bị thiệt thòi trước pháp
luật. Bởi vậy, nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý
cho công dân, nhất là cho người nghèo nhằm tạo điều kiện để người nghèo, người
có công với cách mạng và một số đối tượng yếu thế khác có cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của Nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện
công bằng xã hội.
Ở huyện Thăng Bình, tỷ lệ người nghèo còn khá cao, công tác hỗ trợ pháp lý
nói chung và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nói riêng thường xuyên nhận được sự
quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy và UBND huyện, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn
và tạo điều kiện của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh, cấp ủy và chính quyền các xã,
thị trấn phối hợp thực hiện tốt hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Bên cạnh đó, những
người thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý như trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng
tác viên… luôn nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn trong việc tổ chức thực hiện
chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nhất là hoạt động trợ giúp pháp lý lưu
động.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động
thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện còn những
khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhất định như: Hoạt động chính sách hỗ trợ pháp lý
cho người nghèo dàn trải theo nhiều hình thức, chưa đảm bảo đúng trọng tâm là
cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo vụ việc, nhất là vụ việc tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo; Hệ thống tổ chức thực hiện
chính sách hỗ trợ pháp lý nói chung và cho người nghèo nói riêng chưa phù hợp và

1


thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, đối với người nghèo.

3


- Phân tích vai trò của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo.
- Đánh giá về thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa
bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2017. Trong đó tập trung
phân tích, đánh giá những ưu điểm, những khó khăn, hạn chế trong hoạt động thực
hiện hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn và rút ra các nguyên nhân của
những thành tựu, hạn chế.
- Luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo
trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của
pháp luật và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, vai trò, ý nghĩa của trợ
giúp pháp lý đối với người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ ngành chính sách công
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến năm 2017
Chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đi vào cuộc sống bằng nhiều hình
thức, trong đó có thể chế hóa vào pháp luật, nhất là Luật trợ giúp pháp lý. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ chính sách công học viên chủ yếu nghiên cứu việc thực
hiện Luật trợ giúp pháp lý.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, tư tưởng

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương chính sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho
người nghèo

5


Chương 2. Thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo tại
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ pháp
lý cho người nghèo tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO
1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chính sách hỗ trợ pháp lý cho người
nghèo
1.1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho người nghèo
Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” xuất phát từ tiếng Anh là Legal aid. Theo từ
điển Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1997 thì
“Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác
dịch “Legal aid” là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”… Có
rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này nhưng xuất phát từ bản chất và hình
thức hoạt động “legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam
trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là “Trợ giúp pháp lý” đang
được sử dụng chính thức trong các văn bản và sách báo ở Việt Nam hiện nay. Như
vậy, trong luận văn này, học viên coi “hỗ trợ pháp lý” là “Trợ giúp pháp lý” cho
phù hợp với cách gọi của pháp luật nước ta về vấn đề đang nghiên cứu.
Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái
niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [34, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về

họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp luật;
về xã hội hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là
luôn có sự tham gia đông đảo của các lực luợng trong xã hội trong việc phổ biến
pháp luật, tạo điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp
luật; về nhân đạo trợ giúp pháp lý đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn
sâu sắc.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trong
trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành
lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo đó
thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách

7


báo và tạp chí. Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học
nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên cơ sở tham khảo khái niệm "trợ giúp pháp lý"
của một số nước trên thế giới và các quan niệm về "trợ giúp pháp lý" ở Việt Nam để
đưa ra một số khái niệm về "trợ giúp pháp lý". Theo đó khái niệm "trợ giúp pháp
lý" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ
pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng
chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định. Bằng các hoạt
động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia
thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng
trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp
lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và
người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện,
bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục
pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp

Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam,
việc phân hóa giàu nghèo là rất khó tránh khỏi. Nguyên nhân dẫn đến nghèo, về
khách quan, có thể từ tình trạng thiếu việc làm ở quy mô lớn, điều kiện thiên nhiên
khắc nghiệt tác động đến năng suất lao động, những khó khăn chung của tình hình
kinh tế, xã hội, môi trường, vị trí địa lý. Về chủ quan, có thể do năng lực tự thân,
điều kiện sức khỏe, sự cố gắng, nhận thức, kiến thức, kỹ năng lao động của từng
người cụ thể bị hạn chế... Mặc dù đã ở vào vị thế của các nước đang phát triển,
nhưng số người nghèo ở Việt Nam là không nhỏ và theo tiêu chuẩn của Liên Hợp
Quốc, thì số người nghèo ở Việt Nam đang có sự gia tăng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn có
mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, có chính sách giúp đỡ người nghèo,
những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống để người nghèo có điều kiện
phát triển toàn diện và có thể tự làm chủ được cuộc sống vật chất, tinh thần của
mình. Một trong những chính sách đó là chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ
giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giúp họ có thể tham gia các quan hệ pháp

9


luật, thực hiện nghĩa vụ công dân như mọi người khác để bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp, sự bình đẳng trước pháp luật cũng như bảo đảm trật tự chung của xã hội.
Về địa vị pháp lý của người nghèo, Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số
07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định: người nghèo là người
thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo do Thủ tướng chính phủ quy định
trong từng giai đoạn.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm thực hiện chính sách hỗ trợ
pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo như sau: Đó là việc đưa
chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo ra thực hiện trên thực tế bằng cách từ
quy định của pháp luật cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo theo

giúp pháp lý là người nghèo sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
Chính vì vậy, để chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho
người nghèo đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tăng cường và
đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức tuyên truyền
phong phú để đưa pháp luật đến với Nhân dân nói chung, người nghèo nói riêng.
Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người
nghèo góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo.
Thông qua việc thực hiện trợ giúp pháp lý đã bảo đảm thực hiện chính sách
nhất quán của Đảng ta là đặc biệt quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn,
người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính
đáng của họ.
Hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo có vai trò
quan trọng là bảo vệ sự công bằng, tự do, nhân đạo, niềm tin của người dân vào lẽ
phải. Từ vai trò đó của hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý đã tạo thêm
nguồn lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Các vụ việc được các tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp
pháp lý cho người nghèo tiến hành như: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện
ngoài tố tụng, hoạt động trợ giúp lý khác… với các cơ quan Nhà nước có thẩm

11


quyền được xem xét và giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Thông qua
hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng được trợ
giúp pháp lý hiểu được các thủ tục về hành chính tối thiểu, hạn chế đi lại nhiều lần
gây tốn kém công sức và tiền bạc của Nhân dân. Hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ
giúp pháp lý giúp chính quyền các cấp tháo gỡ khó khăn trong việc giải quyết công

Trợ giúp pháp lý - một hình thức dịch vụ pháp lý mà Nhà nước cung ứng cho
người nghèo để giúp họ bình đẳng trong tiếp cận công lý với các đối tượng khác, để
họ sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền khi bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm
phạm. Qua hoạt động này, người nghèo được nâng cao hiểu biết pháp luật, khuyến
nghị có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, tăng khả năng ứng xử tích cực với
pháp luật (tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật), giúp bảo vệ được các quyền và
lợi ích hợp pháp của chính bản thân họ. Qua thực tiễn hoạt động của các tổ chức trợ
giúp pháp lý cho thấy, mặc dù pháp luật được ban hành nhiều, Nhà nước đã có
nhiều loại hình phổ biến, giáo dục pháp luật nhưng người dân nói chung và người
nghèo nói riêng vẫn “đói” luật, vẫn không nhận thức và hiểu rằng pháp luật bảo vệ
họ chứ không phải để trừng trị họ. Không thể phủ nhận rằng, ghi nhận các quyền
con người, quyền công dân trong các đạo luật là một bước tiến dài về lập pháp và là
biện pháp rất quan trọng bảo đảm quyền con người, quyền công dân nhưng chỉ vậy
thôi thì chưa đủ. Điều quan trọng là phải được biết và hiểu về các quyền đó (biết rõ
về từng quyền, có những quyền gì, làm thế nào để thực hiện được…), người dân
phải biết kiến nghị để Nhà nước có giải pháp giúp họ được biết về quyền và biết đề
nghị ở đâu để bảo vệ quyền, đề nghị như thế nào, kiến nghị đến ai để có hiệu quả?...
Bên cạnh đó, hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý trực tiếp tham gia
vào vụ việc theo thủ tục luật định về tranh tụng (hình sự, hành chính, dân sự…) để
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo. Tổ chức trợ giúp pháp lý
thực hiện trợ giúp pháp lý là một kênh giám sát công vụ trong yêu cầu thực thi
nghiêm chỉnh và thống nhất các quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng, bình
đẳng cho mọi công dân trước các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết các công
việc của dân. Thông qua từng vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể cho thấy những khiếm
khuyết của nền công vụ, đặc biệt là trách nhiệm phục vụ công dân một cách nhanh
chóng, thuận tiện, đúng pháp luật của các công chức Nhà nước đang được xem xét
và đánh giá khách quan, các khiếm khuyết và sai sót đều bị kiến nghị và yêu cầu

13



14


quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, hình thức trợ giúp pháp lý, phạm vi, thủ tục trợ
giúp pháp lý. Luật trợ giúp pháp lý, phạm vi điều chỉnh bao gồm các vấn đề như:
người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ
giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vi các đối tượng thuộc diện được hưởng lợi
ích từ chính sách trợ giúp pháp lý. So với các quy định của pháp luật hiện hành,
Luật Trợ giúp pháp lý đã có những thay đổi phạm vi diện người được trợ giúp pháp
lý. Nếu như trước đây chỉ người nghèo, đối tượng chính sách và một số đối tượng
khác mới được trợ giúp pháp lý thì Luật Trợ giúp pháp lý đã bổ sung thêm đối
tượng là người già cô đơn, người tàn tật và một số đối tượng thuộc diện có công với
cách mạng. Quy định mới này, một mặt là cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về
bảo đảm quyền cho một số đối tượng cần được Nhà nước và xã hội quan tâm, giúp
đỡ, mặt khác khẳng định sự nhất quán trong các chính sách xã hội của Đảng và Nhà
nước ta, đặc biệt là chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có
công với cách mạng, chính sách dân tộc, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở Việt Nam. Luật Trợ
giúp pháp lý xác định tương đối rõ các vấn đề về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
và người thực hiện trợ giúp pháp lý, Điều 10 Luật quy định các tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia
trợ giúp pháp lý. Trong đó các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý gồm có: Tổ chức
hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức
chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham
gia trợ giúp pháp lý. Tại Điều 17 Luật quy định người thực hiện trợ giúp pháp lý là
trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý là cộng tác viên của Trung
tâm; Luật sư, tư vấn viên pháp luật làm việc trong các tổ chức tư vấn pháp luật
thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội
nghề nghiệp. Để phù hợp với bản chất của trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý

trợ giúp pháp lý nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn
pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế tại
địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Quán triệt quan điểm xã hội hoá hoạt động trợ

16


giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý đã thiết lập cơ chế tham gia trợ giúp pháp lý
của các tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật. Như vậy, cùng với
việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý đã mở rộng
hơn diện tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, cho phép tổ chức hành nghề luật sư và
Luật sư, Trung tâm tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nguyên
tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải và từng bước xã hội hoá trợ giúp pháp lý, giảm
gánh nặng cho Nhà nước về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Luật trợ giúp
pháp lý đã xác định người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đáp ứng đầy đủ những
điều kiện, tiêu chuẩn nhất định; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ trợ giúp viên
pháp lý và đội ngũ cộng tác viên, đồng thời huy động các luật sư, tư vấn viên pháp
luật tham gia trợ giúp pháp lý. Đa dạng hoá người thực hiện trợ giúp pháp lý và phù
hợp với nguồn lực hiện có của Việt Nam.
Về các đảm bảo để công tác trợ giúp pháp lý phát triển ổn định và vững chắc:
Về nội dung này, ngoài vấn đề bảo đảm về tổ chức, cán bộ, Luật Trợ giúp pháp lý
đã xác định một cơ chế đồng bộ về chỉ đạo điều hành để Luật Trợ giúp pháp lý đi
vào cuộc sống. Luật đã xác định trách nhiệm và nội dung quản lý nhà nước về trợ
giúp pháp lý, trách nhiệm của Chính phủ, trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ và cơ
quan ngang bộ trong phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý. Xác
định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc quản lý nhà nước, bảo đảm biên
chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế. Nguồn tài chính của quỹ

Nhìn chung, sau nhiều triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg của Thủ
tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác trợ giúp pháp lý đã
đạt được những kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý đã được hình
thành từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư
pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
các Chi nhánh, tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện, cấp xã và từng bước được củng cố,
kiện toàn. Một số Trung tâm đã được bố trí trụ sở làm việc riêng, được cấp phương
tiện, trang thiết bị làm việc và kinh phí hoạt động. Đội ngũ cán bộ thực hiện trợ giúp
pháp lý đã từng bước được củng cố và tăng cường, được cập nhật kiến thức pháp
luật mới và bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp. Đội ngũ cộng tác viên không

18


ngừng phát triển về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý phong
phú, đa dạng của nhân dân.
Thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian qua đã chứng minh chủ
trương của Đảng về việc thành lập và phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý ở nước
ta là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân
dân. Các tổ chức trợ giúp pháp lý đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong
việc giúp đỡ pháp lý cho đông đảo người nghèo, các đối tượng chính sách và một số
đối tượng khác, đồng thời trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống
pháp luật của xã hội. Hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý đã góp phần đưa
chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội của
Đảng và Nhà nước vào cuộc sống; giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ
quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách chính xác, khách quan, công
bằng và đúng pháp luật; góp phần giải toả những vướng mắc pháp luật của nhân
dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; góp phần ổn định chính
trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tạo lập cơ chế thực hiện nguyên tắc Hiến định:
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội; góp phần

lý của đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên hình thức đại diện pháp lý - hình
thức tổ chức trợ giúp pháp lý cử người đại diện bào chữa, bảo vệ cho người được
trợ giúp pháp lý trước cơ quan tiến hành tố tụng là hình thức cơ bản nhất, được quy
định trong chế định trợ giúp pháp lý của nhiều nước. Nhìn chung các nước đều cho
phép thực hiện đại diện cho đối tượng ở mọi giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, phạm vi
đại diện và việc bảo đảm đại diện có thể khác nhau tùy theo pháp luật tố tụng của
từng nước. Ở Phần Lan, bên cạnh hình thức đại diện pháp lý, hình thức trợ giúp
pháp lý chủ yếu là tư vấn, thu thập tài liệu. Hình thức tư vấn pháp luật là dịch vụ
pháp lý nhằm giải thích pháp luật và hướng dẫn việc thực hiện pháp luật cho người
được trợ giúp pháp lý thông qua lời nói hoặc văn bản, trực tiếp hoặc gián tiếp.
Ngoài ra, ở Anh, Ấn Độ, Mỹ, ngoài hình thức đại diện pháp lý và tư vấn pháp luật,
hình thức hòa giải cũng thường xuyên được áp dụng. Trong quá trình thụ lý vụ việc
trợ giúp pháp lý, nếu thấy vụ việc có thể hòa giải được thì tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý cử người thực hiện hòa giải. Như vậy, tựu chung lại, mỗi nước đều có

20


những hình thức trợ giúp pháp lý được sử dụng khác nhau nhưng chủ yếu là hình
thức đại diện và tư vấn pháp luật.
Ở Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng 4 hình thức: tư
vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng (Điều 27, Luật Trợ giúp pháp
lý). Là một đối tượng được trợ giúp pháp lý, các hình thức trợ giúp pháp lý cho
người nghèo cũng được áp dụng theo quy định trên, cụ thể:
Tư vấn pháp luật: là hình thức người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn pháp
luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn
thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn
giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc.
Tham gia tố tụng: là hình thức Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ
giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ

hiện trợ giúp pháp lý lưu động. Đặc biệt đối với người nghèo, hoạt động trợ giúp
pháp lý lưu động được đánh giá là một hình thức trợ giúp pháp lý hiệu quả vì tạo
điều kiện thuận lợi cho người nghèo - đối tượng không có khả năng về kinh tế,
phương tiện đi lại để giảm bớt thời gian và chi phí. Qua đó, góp phần tuyên truyền
phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo được sự
tin cậy cho người dân trong việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề khúc mắc về mặt
pháp luật.
1.6. Chủ thể thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo
1.6.1. Chủ thể thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Chủ thể thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý
cho người nghèo gồm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp
pháp lý.
1.6.1.1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
Trên thế giới, tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý
ở hầu hết các nước đều có hệ thống trợ giúp pháp lý của Nhà nước và các tổ chức
trợ giúp pháp lý phi Chính phủ (trợ giúp pháp lý xã hội). Hệ thống trợ giúp pháp lý
của Nhà nước được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, có nhiệm vụ thực hiện
trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng nhất định mà chủ yếu là người nghèo.
Ví dụ, ở Philippine là Văn phòng luật sư công (hiện nay là Cục luật sư công) - giữ
vai trò nòng cốt, các Văn phòng khu vực, Văn phòng cấp quận và các Văn phòng

22


cấp dưới trực thuộc, ngoài ra còn có Ủy ban trợ giúp pháp lý về đất đai thuộc Bộ
Cải cách ruộng đất. Ở Canada và Hàn Quốc, tổ chức trợ giúp pháp lý được gọi là
Cục trợ giúp pháp lý.
Ở Việt Nam, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nói chung và cho người nghèo
nói riêng gồm Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia trợ
giúp pháp lý (Điều 10, Luật Trợ giúp pháp lý).

nghèo.
1.6.1.2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý
Nhìn chung trên thế giới hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu được thực hiện
bởi đội ngũ luật sư chuyên nghiệp. Ngoài ra, một số nhóm người khác như sinh
viên, cán bộ pháp luật Nhà nước, người có kiến thức pháp luật được thu hút khuyến
khích làm trợ giúp pháp lý.
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ
giúp pháp lý cũng phải là người có kiến thức pháp luật sâu rộng, cụ thể bao gồm:
Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư và Tư vấn viên pháp luật (Điều 17,
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017).
Trợ giúp viên pháp lý theo quy định phải là công dân Việt Nam thường trú tại
Việt Nam và có đủ các tiêu chuẩn sau: có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử
nhận luật trở lên; Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật
sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; Có sức
khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý; Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ
luật. Trợ giúp viên pháp lý là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước,
được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên
pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.
Cộng tác viên là những người đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý
có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý, bao gồm: trợ giúp viên pháp lý;
thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm
sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm
công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước được quy định tại Điều 24 của Luật Trợ
giúp pháp lý thì được Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đề nghị Giám
đốc Sở Tư pháp cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

24



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status