VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VĂN VĨ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ ANH VŨ
Hà Nội, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân
tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS. Lê Anh Vũ. Các trích dẫn, số liệu trung
thực, chính xác, từ các nguồn thông tin hợp pháp, đảm bảo tính khách quan, khoa
học./.
Trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự sao chép nào. Tôi xin
cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách
nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Vĩ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, được xác định trong Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ ngày 5/8/2008 của
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Không thể có một nước công
nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân có đời sống văn hóa, vật chất thấp.
Việc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội từng bước
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện được nội
dung trên, đòi hỏi nền kinh tế - xã hội phải phát triển bền vững. Một nền kinh tế phát
triển bền vững là cơ sở cho việc thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới.
Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân cư đang
sống ở nông thôn, gần 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân
chiếm hơn 60% lao động xã hội. Các chính sách phát triển nông nghiệp trước đây
thường thiên về thúc đẩy phát triển ngành, có phần xem nhẹ vai trò của nông dân.
Phần lớn các chính sách hầu như chưa thật sự quan tâm xử lý tổng thể và hợp lý
mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong ngành, giữa nông thôn và thành thị
…. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn xác định phát triển nông nghiệp nông
thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc
ổn định kinh tế - xã hội đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng xác định: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công
bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”.
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh,
trong xã hội. Quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, xây dựng các mô
hình phát triển sản xuất đã có sự chuyển biến tích cực về sản xuất hàng hóa tập
trung, quy mô lớn, đặc biệt đã có sự liên kết giữa người dân, nhà khoa học với các
doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; tạo điều kiện cho người dân yên
tâm sản xuất và nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chương trình trên địa bàn huyện vẫn còn
những khó khăn, hạn chế dễ nhận thấy như: kinh tế nông thôn chậm phát triển, mức
2
tăng trưởng thấp, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, làng nghề hoạt
động chưa hiệu quả, việc huy động vốn còn nhiều bất cập... Nguồn lực địa phương
hạn chế, trong khi nguồn vốn hỗ trợ thực hiện của trung ương, tỉnh còn thấp so với
thực tế và phân bổ muộn. Vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại từ các hộ dân về nguồn
vốn ngân sách của nhà nước. Công tác triển khai thực hiện tiêu chí số 1 về Quy
hoạch tại các xã gặp khó khăn do các địa phương chưa bố trí kinh phí thuê đơn vị tư
vấn thực hiện. Nhiều xã lần đầu được phân bổ vốn thực hiện các hạng mục
XDNTM nên việc lập hồ sơ và thực hiện còn gặp khó khăn. Việc tập huấn cho cán
bộ chuyên trách của các xã còn hạn chế…, dẫn đến việc triển khai thực hiện xây
dựng nông thôn mới còn tồn tại những bất cập, không kịp với tiến độ đề ra, năng lực
của các cán bộ chuyên trách một số địa phương không đáp ứng được yêu cầu công
việc. Nhiều địa phương chạy theo thành tích dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản…
Vì những lý do trên cùng với những kiến thức tiếp thu được trong quá trình
nghiên cứu học tập, nên tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới từ thực tiễn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” làm luận văn thạc sĩ ngành
Chính sách công với mong muốn đề tài này góp một phần về định hướng xây dựng
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Dũng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đa số các học giả nghiên cứu về phát triển bền vững nông thôn đều thống
nhất cần có một chiến lược xây dựng tầm nhìn dài hạn về phát triển nông nghiệp và
nông thôn. Sự thống nhất này dựa trên đặc trưng vấn đề phát triển nông thôn đảm
bảo tính bền vững cho các hoạt động canh tác nông nghiệp. Phát triển bền vững
nông thôn bao quát một phạm vi rất rộng lớn: Ngoài các vấn đề kinh tế và môi
trường sinh thái, phạm vi của phát triển bền vững nông thôn còn bao gồm các lĩnh
vực liên quan đến xã hội, văn hóa, con người và thể chế, đó là các vấn đề về dân số,
dân cư, di dân, cấu trúc xã hội nông thôn, xung đột xã hội, tình trạng nghèo đói.....
Những nghiên cứu về các yếu tố tác động đến phát triển nông thôn
Trước hết, hầu hết các hộ nông nghiệp thiếu nguồn lực, đặc biệt là đất đai khi
chỉ sở hữu một diện tích đất nhỏ. Họ cũng thiếu vốn cần thiết để mở rộng sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, chất lượng lao động cũng
kém do thiếu thốn về y tế và giáo dục. Các điều kiện về nhân khẩu như mật độ dân số
và tỷ suất sinh cao, trong nhiều trường hợp làm trầm trọng thêm những khó khăn này.
Những điều trên dẫn đến năng suất lao động và thu nhập thấp.
Công trình nghiên cứu: “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát
triển nông nghiệp Việt Nam” là một dự án nghiên cứu tập thể do TS. Nguyễn Từ phụ
4
trách. Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích các liên kết kinh tế
quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh giá chính sách phát triển
nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến
nghị những giải pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt các tác giả đã tập trung phân tích những
quy định của WTO về chính sách nông nghiệp của các nước đang phát triển và nêu
những hướng bổ sung, sửa đổi chính sách nông nghiệp của Việt Nam để hội nhập
thành công [20].
Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát triển
Trong đó nhấn mạnh tới sự tham gia thực sự của nông dân trong quản lý và sử dụng
tài nguyên cũng như vấn đề lồng ghép việc bảo tồn thiên nhiên trong tăng cường
nguồn lực sản xuất. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với việc tìm kiếm hệ thống yếu
tố đầu vào bên ngoài thấp, hiệu quả, năng suất và có tính kinh tế thay cho các
phương pháp công nghiệp [14].
* Nghiên cứu nội dung xây dựng nông thôn mới
Trong bài “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của
Đảng và nhân dân ta” do tác giả Hồ Xuân Hùng đề cập đến nội dung, chức năng
nông thôn mới XHCN Việt Nam; chỉ rõ những nội dung cần có quyết tâm, nguồn
lực và thời gian để thực hiện: Xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, chuyển dịch cơ
cấu lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, tổ chức lại sản xuất [5]...
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước luận văn đã nêu
trên, là cơ sở quí báu để học viên định hướng nghiên cứu. Tuy đã có nhiều công
trình nghiên cứu về chính sách xây dựng nông thôn mới, nhưng chưa có đề tài nào
nghiên cứu cụ thể nội dung này trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong
khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018 định hướng năm 2020. Do đó, học
viên chọn phạm vi nghiên cứu cụ thể như trên để cung cấp những thực tiễn mới về
chính sách xây dựng nông thôn mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Về mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới; thực trạng thực hiện chính sách tại huyện Yên Dũng, từ đó đưa ra các
quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn
mới.
- Về nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách
xây dựng nông thôn mới.
6
dung phân tích. Qua đó tổng hợp lại sẽ đưa ra những kết luận để chỉ rõ bản chất của
các dữ liệu thu thập được nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cho các kết quả nghiên
7
cứu. Ngoài các phương pháp trên luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu
liên ngành, đa ngành với khoa học chính sách công như: xã hội học, quản trị học...
- Phương pháp so sánh: So sánh số liệu thu thập từ các báo cáo đánh giá kết quả
qua quá trình triển khai, rút ra những nhận định, khẳng định và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê mô tả: để mô tả, diễn đạt cụ thể về quá trình thực
hiện xây dựng nông thôn mới và những chính sách xây dựng nông thôn mới tại
huyện cũng như những kết quả đạt được nhằm giúp người đọc có thể hiểu rõ về vấn
đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại huyện Yên Dũng
qua đó góp phần bổ sung thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công.
Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn
đề khoa học và thực tiễn chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Dũng
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện
Yên Dũng chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực
thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạọ huyên Yên Dũng,
các bộ phận liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực
tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách xây
dựng nông thôn mới ở huyện Yên Dũng một cách hiệu quả hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn còn được bố trí theo 3
một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa
mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp,
nông thôn [16].
Đến nay, khái niệm nông thôn được trình bày trong Thông tư số 54/2009/TTBNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể:
"Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [2].
1.1.2. Phát triển nông thôn
Với một nước có bề dày truyền thống trong phát triển kinh tế nông nghiệp, ở
Việt Nam hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Địa
9
Luận văn đủ ở file: Luận văn full