Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG PHƢƠNG LIÊN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

Ngành: Công tác Xã hội
Mã số: 8 76 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tiến Nam.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

HỌC VIÊN

Đặng Phƣơng Liên

cao tuổi thuộc hộ nghèo tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang .......................................48
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC
HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG ...........59
3.1. Quan điểm, chiến lược về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay.................59
3.2. Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo .............................................61
KẾT LUẬN ..................................................................................................................67


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Nội dung

1

CTXH

Công tác xã hội

2

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

3


NCTTHN

Người cao tuổi thuộc Hộ nghèo


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tổng quan khách thể nghiên cứu ..............................................................27
Biểu đồ 2.2. Vấn đề tâm lý của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...................................30
Biểu đồ 2.3. Thực trạng sức khỏe thể chất của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...........31
Biểu đồ 2.4. Thực trạng sức khỏe xã hội của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ..............31
Biểu đồ 2.5. Nhu cầu của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ............................................32
Bảng 2.2. Nội dung tuyên truyền nâng cao nhận thức trong chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi thuộc hộ ngheo .................................................................................................35
Bảng 2.3. Hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức NCTTHN được tiếp cận .........37
Biểu đồ 2.8. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo về dịch vụ tuyên
truyền nâng cao nhận thức .............................................................................................39
Bảng 2.4. Các nội dung dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chính sách người cao tuổi thuộc hộ
ngheo được tiếp cận .......................................................................................................40
Biểu đồ 2.10. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo về dịch vụ hỗ trợ,
giải quyết chế độ chính sách. .........................................................................................43
Biểu đồ 2.11. Các loại dịch vụ tư vấn, tham vấn về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
thuộc hộ nghèo được tiếp cận ........................................................................................44
Biểu đồ 2.12. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo đối với dịch vụ tư
vấn, tham vấn trong chăm sóc sức khỏe ........................................................................46
Biểu đồ 2.13. Yếu tố ảnh hưởng của đặc điểm đối tượng (NCTTHN) đến việc tiếp cận
dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe .........................................................48
Biểu đồ 2.14. Yếu tố ản h hưởng của cơ chế chính sách đến dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo .................................52
Biểu đồ 2.15. Yếu tố ảnh hưởng của ngân sách, cơ sở hạ tầng đến việc cung cấp dịch

Giang nói chung và địa bàn huyện Yên Minh vẫn chưa đồng bộ và kịp thời tới
nhóm NCTTHN. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về CTXH đối với NCT, tuy nhiên
chưa có nghiên cứu về DVCTXH trong CSSK NCTTHN. Hơn nữa DVCTXH là

1


một hoạt động còn khá mới và chưa được triển khai một cách chuyên nghiệp tại địa
bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu được đề cập trên các sách, báo, luận án,
luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề sức khỏe của Người cao tuổi cũng như vấn đề
chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng, như:
2.1. Trên thế giới:
* Nghiên cứu về Sức khỏe Người cao tuổi:
- Annette L. Fitzpatrick, Lawton S.Cooper, Diane G. Ives và John A.Robbins
(Đại học Washington, Đại học Johns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học
California – Davis và Đại học Wake Forest) (1994), “Barriers to Health Care
Access Among the Elderly and Who Perceives Them.
Nghiên cứu này khái quát thực trạng người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe
như thế nào và những khó khăn ngăn cản việc người cao tuổi nhận được sự quan
tâm, chăm sóc tại nước Mỹ. Từ những kết quả được nghiên cứu này có thể áp dụng
để nghiên cứu những khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt
Nam. Điều đó đặt ra sự quan tâm lớn đối với những người làm nghiên cứu nói riêng
và những nhà hoạch định chính sách của nước ta nói chung [26].
- Masoud Pezeshkian (2002), Minister of Health and Medical Education of

* Nghiên cứu về Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi:
- Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen
(2008), “Developing Model of Health Care Management for the Elderly by
Community Participaton in Isan.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp
nghiên cứu định tính. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích sự phát triển của việc chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng ở Isan. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng việc quản lý của các tổ chức cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe

3


người cao tuổi là phương pháp hiệu quả. Tất cả công dân cao tuổi đều đồng ý rằng
việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và
ấm áp hơn. Mô hình này gợi cho chúng ta những bài học kinh nghiệm khi áp dụng
vào Việt Nam trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng [27].
- Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern (2008), “Evaluating a
community – based participatory research project for elderly mental healthcare in
rural America”. Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về
chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi nông thôn Mỹ. Nghiên cứu này
nhằm khám phá bản chất giữa các đối tác trong chương trình chăm sóc sức khỏe
tâm thần cho người người cao tuổi ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu
hết mọi người hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình.
Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những phương pháp để cải thiện hơn nữa các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi tại nông thôn. Mô hình chăm sóc
sức khỏe tâm thần tại cộng đồng của Hoa Kỳ là điều chúng ta cần quan tâm nghiên
cứu để có thể góp phần xây dựng các mô hình cho người cao tuổi phù hợp với nước
ta [28].
- Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi

phương vẫn thiếu công tác truyền thông và các văn bản hướng dẫn cho sự tham gia
của NCT [1].
- Lê Văn Khảm (2014), “Vấn đề về Người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”,
Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra thực trạng tuổi thọ người
Việt Nam ngày càng cao và tỷ lệ dân số già đang tăng nhanh; điều đó phản ánh
thành tực phát triển kinh tế, xã hội, y tế và công tác dân số. Thực tế cho thấy, một
bộ phận người cao tuổi đang đối mặt với khó khăn về thu nhập, những thay đổi về
cấu trúc gia đình và các quan hệ xã hội và đặc biệt là những nguy cơ bất lợi về sức
khỏe [11].
- Phạm Thắng, Đỗ Khánh Hỷ, (2009), “Báo cáo tổng quan về chính sách
chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam”. Nghiên cứu
chỉ ra rằng, NCT sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề tiểm ẩn, bao gồm cả nghèo đói
do phải dành toàn bộ nguồn thu hạn chế của mình cho các dịch vụ chăm sóc nói
chung và chăm sóc sức khỏe nói riêng. Đói nghèo làm tăng độ nhạy của bệnh tật và
ngược lại, bệnh tật là nguyên nhân chính của đói nghèo. Báo cáo cho thấy: Nhu cầu

5


về chăm sóc y tế và xã hội của NCT tại Việt Nam là rất lớn trong khi những điều
kiện tự thân của NCT Việt Nam còn có những đặc trưng rất hạn chế như: Tỷ lệ
NCT sống độc thân tương đối cao ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam – 14,2% dẫn đến
hạn chế cả về hỗ trợ kinh tế, tinh thần từ phái gia đình, người thân và không có trợ
giúp trong sinh hoạt hằng ngày. [21].
* Nghiên cứu về Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi:
Trong bối cảnh nước ta đang gia tăng về tốc độ già hóa dân số thì việc
nghiên cứu thực trạng việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là rất cần thiết và có
vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng cũng như triển khai các chính
sách của Đảng cũng như chủ trương của Nhà nước.

Chính vì vậy, đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang” là đề tài còn khá mới mẻ.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi thuộc hộ nghèo và đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng và
từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc cung cấp dịch vụ công tác xã
hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ Công tác xã hội trong

chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo
-

Khảo sát, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ

Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
-

Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc cung cấp

dịch vụ Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ
thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi thuộc hộ

-

Phương pháp phân tích tài liệu

Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin,
số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài

8


liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.[5]
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, các tài liệu được lựa chọn để thu thập,
phân tích thông tin là những văn bản pháp luật liên quan đến Chính sách về
NCTTHN; Chính sách trợ giúp xã hội đối với NCTTHN; Thông tin về tình hình
kinh tế-chính trị-xã hội tại địa phương; Những thông tin có liên quan đến đề tài
nghiên cứu từ các nguồn tạp chí, internet; Báo cáo tổng kết các năm của phòng Lao
động thương binh và xã hội huyện Yên Minh, Báo cáo của Hội Người cao tuổi
huyện Yên Minh.
-

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua
việc sử dụng một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách
trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi. Điều tra viên thu
lại phiếu và xử lý thông tin.[5]
Trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang hiện có 1 thị trấn và 17 xã. Tất
cả các xã và thị trấn đều có NCTTHN và tổng số NCTTHN là 1988 người. Tác giả
sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn ra 100 mẫu tiến hành
khảo sát. Nội dung bảng hỏi liên quan đến: Đặc điểm tâm lý, sức khỏe và nhu cầu

các yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả cung cấp DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN tại huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những kết quả thu được từ những nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp
những thông tin thiết thực vè thực trạng DVCTXH với NCT nói chung và
DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN nói riêng, cũng như cung cấp thêm thông
tin cho công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách có nội dung liên quan.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu này để đánh giá được thực trạng DVCTXH trong
CSSK đối với NCTTHN từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng cung cấp DVCTXH
trong CSSK đối với NCTTHN, nhằm giúp cho NCT nói chung và NCTTHN nói
riêng đảm bảo sức khỏe tốt, phát huy vai trò, năng lực của họ đối với cộng đồng.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm các phần: Mở đầu, nội dung chính, kết luận và phụ lục.
Trong đó, phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo.

10


Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác
xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện
Yên Minh, tỉnh Hà Giang.


đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên [4].
1.1.3. Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về người cao tuổi thuộc hộ

12


nghèo. Tuy nhiên, dựa vào hai khái niệm người cao tuổi và khái niệm hộ nghèo, ta
có thể thấy rằng người cao tuổi thuộc hộ nghèo là những người từ đủ 60 tuổi trở lên
và hiện đang sinh sống trong hộ gia đình có các tiêu chí của hộ nghèo, cụ thể:
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
1.1.4. Sức khỏe
Theo quan điểm của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO) – Tuyên ngôn Alam
Ata, năm 1978 nhận định: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái toàn diện về
thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh tật
hay thương tật”. [12]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức
khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội. Để lĩnh hội được các vấn đề cụ thể hơn, trước hết
chúng ta cần biết những khái niệm sức khoẻ trên là gì.
1.1.5. Chăm sóc sức khỏe

Vậy ta có thể hiểu “Chăm sóc sức khỏe là chuẩn đoán, điều trị và phòng ngừa
bệnh tật, thương tích, các khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, xã hội trong con người”
1.1.6. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Người cao tuổi do những thay đổi về tâm sinh lý và tuổi tác mà sức khỏe
cũng có phần ảnh hưởng. Thường NCT sẽ bị giảm chức năng của thính giác và thị
giác. NCT sẽ không còn nhìn rõ như trước và nghe cũng giảm độ nhạy như khi còn
trẻ. Điều này gây không ít những khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đối
với họ.
Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi
khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: Hướng về quá khứ; chuyển từ

14


trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” và có những biểu hiện tâm lý như:
Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn; cảm thấy bất lực và dễ tủi
thân; nói nhiều hoặc bị trầm cảm; sợ phải đối mặt với cái chết. Trong chu kỳ của
cuộc sống, người cao tuổi thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc vào gia đình như
tuổi ấu thơ được gia đình nuôi dưỡng, chăm sóc. Đó là vì khi tới tuổi cao, khả năng
làm việc của người cao tuổi giảm bớt do cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh
liên hệ tới tuổi già, khiến người cao tuổi mất khả năng tự túc, thậm chí mất cả khả
năng hiểu biết. Địa vị của người cao tuổi phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính
của bản thân họ và gia đình. [18]
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, người cao tuổi thuộc nhóm
nghèo nhất trong các nhóm nghèo. Nghèo là một trong những thách thức lớn nhất
trong cuộc sống của người lớn tuổi. Tình trạng nghèo mà người cao tuổi phải đối
mặt có tác động lớn đến chế độ ăn uống, bệnh tật, nhà ở cũng như việc tiếp cận với
các dịch vụ của xã hội. Một số lượng không nhỏ người cao tuổi phải tiếp tục tham
gia lao động. Đây là cách thức quan trọng để nâng cao điều kiện sống của nhiều
người cao tuổi. Ở tuổi này, có người tỏ ra sức yếu lực tàn, song có người vẫn còn

mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội,
nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành
mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội
tiên tiến. [2]
Như vậy, có thể hiểu rằng: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng
lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội thay đổi về chính sách, nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp các cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm
bảo an sinh xã hội.
 Dịch vụ công tác xã hội:
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt
động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định
nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội. Ngoài ra còn có một số cách hiểu
khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp
nhận dịch vụ. Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của
con người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối
tượng yếu thế. Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và
các vấn đề của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo
lực, tan vỡ gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ NKT, trẻ em và người già. [5]
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): Dịch vụ CTXH có thể được coi là một

16


loại hình DVXH được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH. Việc cung cấp các
DVCTXH không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền
thông và các dịch vụ khác. Chính vì vậy, NVCTXH hội phải có sự nối kết chặt chẽ
với các DVXH khác trong quá trình thực hiện DVCTXH [15].

17


Như vậy, DVCTXH trong chăm sóc sức khỏe đối với NCTTHN là hoạt động
có chủ đích được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH. Trong quá trình cung cấp,
điều phối các DVCTXH, NVCTXH tham gia trong e kip để CSSK NCTTHN.
Chính vì vậy, để chuyên nghiệp hóa DVCTXH trong chăm sóc sức khỏe đối với
NCTTHN thì cần phải có một đội ngũ nhân viên hoặc cộng tác viên được đào tạo
bài bản về CTXH.
1.2.2. Vai trò của các dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Trong điều kiện kinh tế, xã hội đang ở nước ta ngày càng có sự biến đổi
mạnh mẽ và nhanh chóng theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều đó
đã đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết đối với công tác an sinh xã hội nói chung và đối
với công tác chăm sóc người cao tuổi nói riêng. Tốc độ già hóa dân số ở nước ta
đang có xu hướng ngày càng nhanh hơn trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại
đang có xu hướng chững lại. Hậu quả là ở nước ta sẽ có một số lượng lớn người cao
tuổi cần được chăm sóc trong ít năm tới trong khi tiềm lực về kinh tế của đất nước
còn hạn chế; hệ thống các chính sách bảo hiểm còn nhiều bất cập; mạng lưới các cơ
sở trợ giúp xã hội còn chưa nhiều. Trong bối cảnh đó vai trò của các dịch vụ CTXH
trong chăm sóc sức khỏe NCTTHN càng trở nên quan trọng và được thể hiện qua
những tác động cụ thể như sau:
Một là, giúp cho NCTTHN cơ hội giảm thiểu các nguy cơ các vấn đề sức
khỏe có thể gặp phải của người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
Hai là, nâng cao tính độc lập của NCTTHN khi họ được tiếp cận với các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của các cơ sở cung cấp dịch vụ, từ đó làm giảm sự phụ thuộc
của người cao tuổi vào gia đình, người thân và cộng đồng;
Ba là, góp phần cải thiện các mối quan hệ của NCTTHN với người thân và
các mối quan hệ xã hội khác của người cao tuổi, giúp cho NCTTHN tránh được
cảm giác cô đơn, lạc lõng và tạo ra mối liên hệ bền chặt hơn giữa người cao tuổi với

phối hợp với nhân viên y tế, cán bộ lao động xã hội, cán bộ thôn, bản hỗ trợ
NCTTHN thông qua vai trò là người giáo dục. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của
NCTTHN về các vấn đề sức khỏe không phải là công việc một sớm một chiều. Bên
cạnh việc nắm vững kiến thức chuyên môn thì yêu cầu phải nắm vững các kỹ năng
tuyên truyền, vận động của mỗi cá nhân trong nhóm hành động xã hội sẽ hỗ trợ giải

19


quyết vấn đề để NCTTHN giảm bớt những khó khăn, nguy hiểm khi tuổi già đến.
- Dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chế độ chính sách:
+ Vai trò của dịch vụ này:
Một trong những vấn đề mà NCTTHN quan tâm hiện nay bên cạnh vấn đề
kinh tế thì đó là vấn đề sức khỏe. Chính vì vậy, dịch vụ này sẽ giúp cho NCTTHN
có thể nắm bắt và hiểu được các chính sách hỗ trợ của nhà nước mà mình được
hưởng bao gồm: Khám sức khỏe định kỳ; Cấp thẻ bảo hiểm y tế đầy đủ, kịp thời;
Được theo dõi tình trạng sức khỏe thường xuyên; Được chăm lo và đảm bảo quyền
lợi về sức khỏe và cập nhật kịp thời các chế độ chính sách cũng như hỗ trợ giải
quyết chế độ chính sách như: lập hồ sơ khi NCTTHN đủ điều kiện nhận trợ cấp của
Nhà nước, được theo dõi và giám sát thường xuyên trong việc nhận và sử dụng trợ
cấp, được thông báo và vận động khám, chữa bệnh kịp thời.
+ Vai trò của NVCTXH trong dịch vụ này:
Trong dịch vụ này, NVCTXH đóng vai trò hỗ trợ cán bộ y tế trong công tác
khám chữa bệnh và theo dõi quá trình thay đổi, tiến triển sức khỏe của NCTTHN.
Hỗ trợ các cán bộ cơ quan, đoàn thể liên quan trong việc giải quyết chế độ, chính
sách cho NCTTHN như hỗ trợ tiếp nhận thông tin, đánh giá nhu cầu của NCTTHN
về CSSK: NVCTXH đánh giá tình hình của NCTTHN về các vấn đề sức khỏe mà
NCTTHN đang gặp phải. Từ đó dựa vào chức năng và nhiệm vụ để hỗ trợ kịp thời
cho NCTTHN tránh gặp phải những khó khăn trong việc tiếp cận chính sách trong
CSSK và đảm bảo việc khám, chữa bệnh được diễn ra thường xuyên, đúng quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status