Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi từ thực tiễn trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh bà rịa – vũng tàu - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ KIM CHUNG

VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI
GIÀ NEO ĐƠN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI– 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai.
Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Vai trò nhân
viên công tác xã hội trong chăm sóc - nuôi dưỡng người cao tuổi từ thực tiễn
Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” trình bày
trong luận văn này được thu thập từ kết quả hoạt động, kết quả điều tra của một số
cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NUÔI
DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỂN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG
NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU ........................................ 63
3.1. Định hướng phát triển về nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi
gắn với vai trò nhân viên công tác xã hội ................................................................. 63
3.2. Một số giải pháp nâng cao nâng lực cho nhân viên công tác xã hội trong chăm
sóc nuôi dưỡng người cao tuổi ................................................................................. .64
3.3. Khuyến nghị ...................................................................................................... 70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 75
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH

An sinh xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

BRVT

Bà Rịa – Vũng Tàu

NCT



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, người cao tuổi (NCT) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Trong các vấn đề của NCT thì vấn đề chăm sóc
nuôi nưỡng của người cao NCT là một vấn đề đáng quan tâm. Chăm sóc nuôi
dưỡng NCT ở nước ta hiện nay nó vừa mang ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội mà
còn mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc. NCT là một kho tàng kiến thức, kinh
nghiệm sống. NCT góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ,
giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm vào sản xuất,
kinh doanh, giáo dục, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đất nước. Do vậy, họ cần
phải được tôn trọng và ứng xử thích hợp, thể hiện truyền thống nhân ái và thủy
chung mà nền văn hóa Việt Nam luôn luôn đề cao. Tôn trọng và chăm sóc NCT
cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho họ có thể tiếp tục phát huy những kinh nghiệm
sống mà họ tích lũy được góp phần xây dựng xã hội mới trong những hoàn cảnh
thích hợp. Nhằm giải quyết vấn đề sức khoẻ của NCT hiện nay, Việt Nam nói
chung và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng cần phải có những hình thức chăm sóc
nuôi dưỡng NCT phù hợp, khoa học nhằm tạo ổn định cuộc sống của NCT giúp họ
hưởng trọn niềm vui tuổi già và đóng góp cho xã hội một các phù hợp.
Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đối với NCT và coi đây là một
chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, được thể hiện thông qua các Văn
kiện đại hội đảng và các Chỉ thị như: Chỉ thị 59/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương
“Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh
thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội... Trước
hết cần quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng những người cao tuổi có công, cô đơn
không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh”; Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của
Đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi
hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc….
giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”.


đặc điểm, nhu cầu của NCT, nghiên cứu đánh giá thực trạng vai trò nhân viên công
tác xã hội đối với NCT trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Do đó, tác giả chọn đề

2


tài “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi
từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
làm đề tài nghiên cứu. Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng vai trò
nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT hiện nay và đưa ra một
số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt vai trò NV.CTXH đối với NCT tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển kinh
tế - xã hội và an sinh xã hội, các nghiên cứu dân số NCT đã được tiến hành từ
những năm 50 của thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai đoạn
“Già hóa dân số”. Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên cứu
NCT trên nhiều phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của lứa
tuổi. Các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về NCT nhằm mục đích là
chăm sóc NCT nói chung và chăm sóc sức khoẻ NCT nói riêng. [11.tr 02]
Nghiên cứu “Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm 2001:
do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học
và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện. Nghiên cứu được tiến
hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng,
Ninh Thuận và Phú Yên. Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Định nghĩa về tuổi già
và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kế mưa sinh và đóng góp
của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ yếu của người cao tuổi, hệ
thống hỗ trợ người cao tuổi [13].
Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá

tuổi. Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách [31].
Các Hội thảo về thách thức già hóa dân số, tổng kết các mô hình chăm sóc
NCT và chăm sóc NCT tại cộng đồng do các cơ quan Bộ ngành tổ chức hàng năm.
Đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn”
năm 2011 của tác giả Nguyễn Quỳnh Anh tìm hiểu về các đặc trưng của hỗ trợ xã
hội đối với người cao tuổi (sức khỏe, y tế, tinh thần, vật chất), những yếu tố văn
hóa – xã hội của người cao tuổi và làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
thông qua sự trợ giúp về chăm sóc sức khỏe, trò chuyện, sinh hoạt hàng ngày.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng những vấn đề hỗ trợ xã hội cho người

4


cao tuổi, đề tài đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho
người cao tuổi. Đề tài tiến hành nghiên cứu quá trình sống của 130 người cao tuổi
ở 3 khu vực (khu vực 1, 3, 8) của phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định [1].
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt
Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô trên
phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung tâm chăm
sóc sức khỏe NCT Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội để đánh giá chất lượng
chăm sóc NCT. Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chăm sóc, chất lượng
chăm sóc NCT và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NCT, nghiên
cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm sóc
NCT. Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam [16].
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) trong nghiên cứu về phát triển mạng lưới
dịch vụ công tác xã hội tại Việt Nam dành cho đối tượng dễ bị tổn thương trong
đó có NCT đã chỉ ra, đại đa số NCT có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc trong
cơ sở nuôi dưỡng cũng như ở cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn. Nhóm NCT có

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt vai trò NVCTXH trong chăm
sóc nuôi dưỡng NCT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò nhân viên Công tác xã hội trong chăm sóc NCT từ thực tiễn Trung
tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nhân viên CTXH thực hiện vai trò trong chăm sóc
nuôi dưỡng người cao tuổi có nhiều vai trò, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác
giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vai trò cơ bản saun vai trò người tham vấn; vai

6


trò người điều phối – vai trò kết nối dịch vụ; vai trò người giáo dục; vai trò người
biện hộ; vai trò người quản lý trường hợp
- Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 45 người cao tuổi đang được chăm
sóc tại trung tâm còn khả năng giao tiếp và 32 cán bộ lãnh đạo, nhân viên đang làm
việc tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng vấn đề từ 2012 đến nay
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già
neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của NCT, thực trạng vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng
cao hiệu quả vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT trên địa bàn Tỉnh.
- Nghiên cứu vấn đề mang tính hệ thống: nghiên cứu các vấn đề trong mối

* Các phương pháp xử lý thông tin:
Tổng hợp thống kê các nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) được quan sát,
các nghiên cứu tài liệu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về vai trò NVCTXH trong chăm
sóc nuôi dưỡng NCT nói riêng và lý luận về công tác xã hội trong chăm sóc nuôi
dưỡng NCT nói chung. Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu
tham khảo cho các nghiên cứu đào tạo và hoạch định chính sách liên quan đến vai
trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Từ những kết quả nghiên cứu thực tế, tác giả nghiên cứu đề tài sẽ phát hiện
ra được những đểm mạnh, điểm yếu đạt được trong nghiên cứu thực trạng công tác
chăm sóc nuôi dưỡng và những nhu cầu cần được hỡ trợ của NCT tại Trung tâm.

8


Giúp cho các nhân viên làm công tác với NCT có những biện pháp thiết thực thúc
đẩy công tác chăm sóc nuôi dưỡng NCT ngày càng tốt hơn. Đề xuất vai trò
NVCTXH trong việc trợ giúp NCT và kiến nghị cho Ban Lãnh đạo Trung tâm, lãnh
đạo các cấp nhằm thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại đơn vị.
Thông qua các vai trò, hoạt động của NVCTXH đang được thực hiện dưới sự
lãnh đạo chỉ đạo của Ban Giám đốc, các trưởng phòng nghiệm vụ và các tổ chức
đoàn thể trong việc chăm sóc dưỡng NCT tác giả mong muốn giúp những
NVCTXH hiểu và thực hiện được các vai trò của mình khi làm việc với NCT để đạt
được kết quả.
- Nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá hệu quả về vai trò của NVCTXH
trong CSND NCT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn nhằm bổ sung thêm

dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [04, tr.01].
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc
suy giảm các chức năng của cơ thể [08, tr.08].
Một số nước phát triển quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở
lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế,
chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao.
Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi
của các nước đó cũng khác nhau [08, tr08].
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người từ
60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính
trọng, động viên hơn so với cụm từ "người già". Trong những năm gần đây khái
niệm NCT được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của Công
tác xã hội như sau: “Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên là một trong nhóm
đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp do sự thay đổi về tuổi tác làm NCT

10


thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội khiến NCT sẽ gặp
nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống”.
1.1.2. Đặc điểm và nhu cầu của người cao tuổi
* Đặc điểm về sức khỏe thể chất
Sức khỏe là rất quan trọng với mọi người nhất là đối với NCT. Cùng với tuổi
đời tăng cao, các chứng bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu,
thoái hóa xương khớp, giảm tưới máu não mạn tính thường diễn ra khá phổ biến.
Khoảng 3/4 số người 80 tuổi có ít nhất một bệnh mạn tính. Về mặt lão hóa của hệ
thần kinh, thường thấy giảm khứu giác, thị giác, thính giác và vị giác. Một số
trường hợp bị rối loạn tiểu tiện và có khi nhất thời kết hợp với rối loạn đại tiện.

động vui chơi – giải trí, các hoạt động xã hội tại địa phương.
* Đặc điểm về tâm lý xã hội
Đặc điểm tâm lý nổi bật của NCT là nuối tiếc tuổi trẻ, hay hoài cổ. Họ
thường nhắc đến quá khứ nhiều hơn hiện tại, rất tự hào về kinh nghiệm sống đã qua
của mình. Họ nhạy bén với cái mới, cái hiện đại, với sự biến động của lịch sử các sự
kiện diễn ra hàng ngày. Nhiều cán bộ viên chức sau khi về nghỉ hưu, từ chỗ hết sức
bận rộn với công việc nay lại rỗi rãi, không có việc gì làm, bị hụt hẫng, đồng thời lại
thấy mình mất vị trí, quyền lực trong xã hội. Họ cảm thấy không còn được kính nể,
trọng vọng như trước đây, từ đó nảy sinh stress tâm lý. Cùng với sự suy giảm về sức
khoẻ, NCT suy nghĩ mình trở thành người thừa đối với gia đình và xã hội, mình
không còn vai trò hữu ích nữa, không ai cần mình nữa. Vì vậy họ cảm thấy bị bỏ
rơi, cô đơn, nên sinh tủi phận, buồn bã.
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao
tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu
chiến binh... Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng
như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và
nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè)
sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái
tiêu cực xả hơi. Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống
mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”.
Những biểu hiện tâm lý khác có thể tấy ở NCT như sau:

12


Cảm giác cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu
thường bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị
lãng quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn
được người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người

để các cụ lúc nào cũng nghĩ mình khỏe để các cụ sống thọ hơn với con cháu.
* Nhu cầu của người cao tuổi

Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow

(Nguồn:Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model)

Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, những nhu cầu của con người được liệt
kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
- Tầng 1: Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và tâm lý như thức ăn, nước
uống, bài tiết, hơi thở, thể dục, nghỉ ngơi.
- Tầng 2: Khi Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và tâm lý được đảm bảo thì
sẽ nãy sinh ra các nhu cầu được an toàn, được cảm giác yên tâm, được đảm bảo an
toàn về thân thể, việc làm, gia đình, sưc khỏe, tài sản.
- Tầng 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn được
trong một nhóm cộng đồng, muốn được gia đình êm ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.

14


Tầng 4: Nhu cầu được người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành
quả, thành công của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân, tự trọng và
sự tự tin.
- Tầng 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, muốn được sáng tạo, được thể
hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là
thành đạt.
Qua 05 nhu cầu trên của Maslow’s, nhu cầu về thể chất và sinh lý cho thấy
NCT họ rất cần bổ sung các chất dinh dưỡng cho bữa ăn hàng ngày, do đó phải có
chế độ ăn uống phù hợp với từng lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của NCT nhằm hạn
chế các bệnh tật tuổi già, bên cạnh đó vấn đề sinh lý đối với NCT thì họ cũng có

cái không nên coi những người già là người vô dụng, vì ai trong chúng ta cũng phải
già đó là quy luật của cuộc sống. Những người thân trong gia đình nên gần gũi nhau
nhiều hơn để tạo sự gắn kết chặt chẽ. Ngoài tình yêu thương thì cần phải hiếu kính
với cha mẹ. Khi tạo được sự gắn kết và chia sẻ với những NCT đồng nghĩa với việc
các cụ sẽ phấn chấn, sức khoẻ cũng tốt lên và có thể tự chăm lo được cho bản thân,
con cái cũng yên tâm công tác. Nên tôn trọng nếp sống của người già, người già
sức khoẻ suy kiệt nhiều cụ bị nhiều bệnh nặng, bệnh mãn tính. Tính nết cũng không
còn được như thời trẻ nên những gia đình có NCT bị bệnh nhất là bị bệnh về thần
kinh rất cần được chăm sóc đặc biệt và phải thông cảm, động viên. Việc bệnh nặng
hơn hay nhanh khỏi phần nhiều ở tâm lý người cao tuổi. Nếu các cụ được sống
trong tình yêu, sự kính trọng của người thân trong gia đình thì các cụ sẽ bớt đi tâm
lý mình là gánh nặng của con cái và có nghị lực để vượt qua bệnh tật nhiều hơn, bác
sĩ An khẳng định.
Nhu cầu được thể hiện bản thân, với NCT thì nhu cầu giao lưu ngày nhiều
hơn. Vì càng viề già họ càng thấy cô đơn, con cháu xa lánh không được đi đâu, bà
cảm thấy rất buồn chán tù túng, NCT cũng rất thích tham gia các câu lạc bộ dành
cho người già, có thế chúng tôi mới vui và quên đi bệnh tật. Ngoài việc được chăm
sóc về thể chất, đời sống tinh thần của NCT phong phú sẽ tăng cường sức khoẻ, tuổi
thọ cũng tăng.
Thông qua thuyết nhu cầu của Maslow, các hoạt động cung cấp dịch vụ
CTXH cho NCT được khái quát và tổng hợp tương tự như các bậc thang trên, đó là
dịch vụ về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai trò của NCT. Chất lượng

16


dịch vụ cho NCT cũng phát triển để đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao và ngày
càng phát triển của NCT. Khi nền kinh tế còn kém phat triển thì việc đáp ứng nhu
cầu của NCT chỉ dừng lại ở cơm ăn, áo mặc, lao động kiếm sống và quan hệ chan
hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đống. Khi điều kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc

CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề”
Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa: CTXH là một nghề nhằm tăng
cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động
tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người
và môi trường có hiệu quả. Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi năng lực đã
bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức
năng xã hội. Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng
đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội, qua đó giúp họ bảo đảm
chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong xã hội [17, tr.2].
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính
tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá
nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi,
hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [20,tr.26]
CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về
hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và
thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới
bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp
phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những
nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã
hội của mình. [13, tr.17]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa khái niệm về CTXH như sau:
CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia
đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã

18


hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ

có khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm để giúp đỡ thân chủ của mình vượt
qua khó khăn, tự vươn lên trong cuộc sống [24,tr.66]
- Khái niệm vai trò NVCTXH và các vai trò NVCTXH đảm nhiệm
Vai trò NVCTXH được gắn với chức năng, nhiệm vụ mà NVCTXH đảm
nhiệm ở vị trí nào đó khi thực thi công việc chuyên môn CTXH. Khi NVCTXH ở
những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau.
Song họ cũng có thể có nhiều vai trò trong cùng một ví trí công việc.
Theo quan điểm của Feyerico (1973) người NVCTXH có những vai trò sau:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân,
gia đình, cộng đồng...) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn
đề. Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ
thụật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm...
- Vai trò là người điều phối - kết nối dịch vụ (còn gọi là trung gian):
NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới
thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá
nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ
thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề.
- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ
được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những
trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.
- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức
các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền.
- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan
tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay
cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình
nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần
giải quyết.

20





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status