Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TRUNG CƯỜNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN AN HÀ

HÀ NỘI, 2018

HÀ NỘI - năm


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dân tộc ta gắn liền với nhiều cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khó để
có được những chiến thắng và đất nước ta được như ngày hôm nay, thì chúng ta
không thể không nói đến những người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh cho sự
nghiệp cách mạng giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta là: “Uống nước nhớ nguồn; Ăn quả
nhớ người trồng cây”; nên ngay từ những ngày đầu thành lập nước trong điều kiện

cản trở cho cả cán bộ công chức thực hiện chính sách và khó khăn cho người được
thụ hưởng chính sách. Ví dụ như việc ban hành văn bản thiếu tính thống nhất, thẩm
quyền ban hành và giải quyết chồng chéo nhau, thủ tục hành chính rườm rà sẽ dẫn
đến việc giải quyết chế độ cho các đối tượng có công gặp nhiều khó khăn.
Hay một lý do khác nữa là do trình độ của cán bộ công chức làm nhiệm vụ
còn hạn chế, công tác tuyên truyền hướng dẫn người dân thực hiện chính sách còn
kém nên trong thực tế nhiều người có công vẫn chưa tiếp cận được với những
chương trình mà họ xứng đáng được hưởng, điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác
quản lý, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nói chung và với chính quyền địa phương
nói riêng.
Từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách về ưu đãi người có công cũng còn
một số tồn tại cần nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện cả về pháp luật quy định đối
với các chế độ ưu đãi lẫn cơ chế thực hiện. Là một công chức với chức trách nhiệm vụ
được giao là theo dõi cơ sở, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi
người có công hiện nay, từ nhận thức lý luận và thực tiễn của bản thân, tôi chọn đề tài
“Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn quận Thanh Xuân
- Thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Văn bản quản lý Nhà nước nói chung và hệ thống văn bản đối với người có công
với cách mạng nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, đề cập. Nhìn chung,
các công trình mới chỉ nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong hoạt động nói chung,
chưa nêu được các nội dung quản lý nhà nước về chính sách đối với người có công
tại một địa phương một cách sâu sắc. Đặc biệt, cũng chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu về thực trạng và việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người
có công tại quận Thanh Xuân-Thành phố Hà Nội. Vì vậy, đề tài nghiên cứu không có
sự trùng lặp đề tài trước.

3


4


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý thuyết về tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công
với cách mạng;
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công
với cách mạng trên địa bàn quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội;
- Đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi
người có công với cách mạng trên địa bàn quận Thanh Xuân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với cách
mạng và thân nhân của họ được quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với
cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 của ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành
một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Người có công với cách mạng và thân nhân của họ đang được phòng Lao động
thương binh xã hội quận Thanh Xuân quản lý và thực hiện chế độ chính sách, giai
đoạn 2013-2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưỏng Hồ Chí Minh, kiến thức các môn học
quản lý Nhà nước về các vấn đề xã hội, chính sách công, hoạch định và phân tích
chính sách công…
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp khoa học cụ thể sau:
1. Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Khái niệm về tổ chức thực hiện chính sách và một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm chính sách, người có công và chính sách người có công
1.1.1.1. Khái niệm chính sách
Nhà nước có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, là chủ thể đại diện cho
quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách công để mưu cầu lợi ích cho xã hội.

6


Hoạt động của nhà nước tác động đến nhiều khu vực và bộ phận nhân dân rộng khắp
trên phạm vi quốc gia. Tác động của Nhà nước trong những thời kỳ phát triển khác
nhau, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp, vì
thế mà quan niệm về chính sách công cũng được tiếp cận từ các góc độ khác nhau.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách, tuy nhiên dù cách tiếp cận
nào thì những tác động của Nhà nước, được coi là chính sách công đều phải có
những nét chung sau:
- Tác động phải mang tính cộng đồng;
- Là những tác động có mục tiêu (dù ngắn hạn hay dài hạn);
- Những hoạt động đó phải mang tính hệ thống, ổn định, phù hợp với quan điểm
chính trị của nhà hoạch định chính sách.
Theo Giáo trình Hoạch định và Phân tích chính sách công của Học viện hành chính
do nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật xuất bản năm 2008[tr.14].
“Khái niệm về chính sách: Là những hành động ứng xử của chủ thể với các
hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Khái niệm chính sách công: Là những hành động ứng xử của nhà nước với
các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức
khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”.
Định hướng đó được thể hiện qua thái độ đối xử với những vấn đề đã, đang

ánh trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng thông qua các chế độ đãi ngộ đặc biệt
để ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công và bù đắp phần
nào đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.
1.1.2. Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với
cách mạng
Theo Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công của Học viện hành
chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2013[tr.77] thì “Tổ
chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính
sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng”.
Như vậy: Tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng có
ý nghĩa vô cùng quan trọng, đây là quá trình đưa chính sách ưu đãi đối với người có công
với cách mạng vào thực tế, giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội trong việc giải quyết

8


chế độ đối với người có công với cách mạng; quá trình tổ chức thực hiện chính sách góp
phần hoàn chỉnh bổ sung chính sách đối với người có công với cách mạng.
1.2. Khái quát khuôn khổ chính sách pháp luật hiện hành của nước ta về
người có công với cách mạng
Ngày 16/02/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL (sau đó
được sửa đổi, bổ sung bằng sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948) quy định về “hưu
bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sỹ”. Từ đó đến nay đã có nhiều văn
bản hướng dẫn thi hành chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng cho
phù hợp với tình hình thực tế từng thời kỳ.
Các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công với
cách mạng giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Công tác ưu đãi người có công và các chính sách liên quan được Đảng và
Nhà nước cùng toàn xã hội hết sức quan tâm. Trong giai đoạn này có hàng loạt các
chính sách quan trọng được ban hành, điều chỉnh.

+ Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12/7/2018 của Chính phủ quy định về
mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng (Nghị định có
hiệu lực từ ngày 27/8/2018).
Các chính sách đối với người có công với cách mạng:
+ Chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi: Là khoản tiền ưu đãi cho người có công
hoặc thân nhân của họ nhằm ổn định và nâng cao đời sống vật chất cho người được ưu đãi;
+ Chế độ ưu đãi về Y tế: Chế độ bảo hiểm y tế, chế độ điều trị hàng năm,
trang cấp dụng cụ chỉnh hình, điều dưỡng;
+ Chế độ ưu đãi trong giáo dục - đào tạo: Nhà nước quy định cụ thể những
đối tượng thuộc diện hưởng chế độ ưu đãi trong giáo dục, đào tạo;
+ Chế độ ưu đãi việc làm và đảm bảo việc làm: Ưu tiên, ưu đãi đối với người
có công và thân nhân của họ trong lĩnh vực tuyển chọn lao động, đảm bảo việc làm,
hướng nghiệp, vay vốn hỗ trợ việc làm, đi xuất khẩu lao động;
+ Chế độ ưu đãi khác: Hỗ trợ nhà ở, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, trợ cấp đột xuất
khi người có công với cách mạng và thân nhân của họ gặp khó khăn, hoạn nạn, mua

10


báo nhân dân cho người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19/8/1945; trợ
cấp mai táng phí; trợ cấp lễ báo tử liệt sỹ; bảo hiểm y tế; tàu xe khám chữa bệnh,
giám định thương tật, làm dụng cụ chỉnh hình, phí giám định y khoa cho thương binh,
bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh và người có công với cách mạng
theo quyết định của cấp có thẩm quyền; tặng quà của Chủ tịch nước và thăm thêm
ngày lễ, tết; hỗ trợ thương binh, bệnh binh nặng về an dưỡng tại gia đình; hỗ trợ
công tác mộ, nghĩa trang liệt sỹ...
1.3. Nội dung tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với
cách mạng
1.3.1. Các bước tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với
cách mạng.

cơ quan Nhà nước thực hiện. Công tác này giúp cho các đối tượng thực hiện chính
sách thấy những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ xung, hoàn thiện nhằm nâng
cao hiệu quả của chính sách.
Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm, đây là khâu được tiến hành liên
tục trong thời gian duy trì chính sách.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách đối với
người có công với cách mạng.
1.3.2.1. yếu tố khách quan:
Là những yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực hiện chính sách từ
bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý.
Những yếu tố khách quan chủ yếu gồm:
+ Tính chất của vấn đề chính sách gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi
hay khó khăn. Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng mang ý
nghĩa chính trị, xã hội vô cùng quan trọng, đối tượng chính sách người có công đa
dạng về hoàn cảnh và điều kiện sống, phân bố trên khắp cả nước, ở nhiều vùng
miền, dân tộc, nhiều thành phần, giai cấp, tôn giáo, lứa tuổi khác nhau, do đó đặc tính
của đối tượng chính sách này cũng rất đa dạng và phức tạp. Đây được coi là vấn đề
ưu tiên và cấp bách liên quan trực tiếp đến đời sống về vật chất và tinh thần của
những người đã hy sinh xương máu để giành độc lập dân tộc.

12


+ Môi trường thực hiện chính sách là yếu tố liên quan đến hoạt động kinh tế,
xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng của từng địa phương, của đất nước và
quốc tế, các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên
nó độc lập với quá trình thực hiện chính sách.
Đường lối chính sách của Đảng về công tác thương binh liệt sỹ và người có
công với cách mạng từ trước tới nay là nhất quán, song trong mỗi điều kiện, hoàn

Đây có thể coi là vấn đề tiên quyết cho việc đẩy nhanh tiến độ giải quyết
chính sách đối với người có công với cách mạng. Việc hướng dẫn và công khai quy
trình, thủ tục thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng liên quan
trực tiếp đến thời gian đưa chính sách vào cuộc sống, đến đối tượng người có công
với cách mạng và thân nhân của họ.
+ Năng lực của cán bộ - công chức đóng vai trò quyết định đến kết quả tổ
chức thực hiện chính sách. Như vậy, năng lực của cán bộ công chức thực hiện chính
sách đối với người có công với cách mạng giữ vị trí vô cùng quan trọng, nếu năng lực
của cán bộ công chức đảm nhiệm, giải quyết chính sách đáp ứng được yêu cầu của
công việc sẽ giúp cho việc giải quyết chế độ chính sách đạt kết quả cao, đúng quy
định và ngược lại sẽ gây phiền hà, sách nhiễu trong giải quyết chế độ, gây mất lòng tin
của nhân dân và người có công với cách mạng.
Hiện nay, năng lực cán bộ công chức thực hiện chính sách đối với người có
công cũng không đồng đều, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở còn nhiều yếu kém, bất cập
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức thực hiện chính sách đối với người có
công với cách mạng.
+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách là yếu tố ngày càng
quan trọng. Cơ quan Nhà nước sẽ khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến
với đối tượng một cách thường xuyên nếu thiếu điều kiện vật chất, kỹ thuật.
Công tác thương binh liệt sỹ là công tác rất quan trọng của Đảng và Nhà nước,
mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển do chịu hậu
quả nặng nề của hai cuộc chiến tranh để lại nên không phải một sớm một chiều có
thể chăm sóc chu đáo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với
cách mạng nhất là trên phương diện sử dụng ngân sách Nhà nước; do đó, xã hội hóa
công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với
cách mạng là sự lựa chọn đúng đắn, bởi thông qua xã hội hóa công tác chăm sóc

14





Các yếu tố chủ quan, khách quan đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
việc tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng.
1.3.3. Những yêu cầu cơ bản trong việc tổ chức thực hiện chính sách ưu
đãi đối với người có công với cách mạng.
- Yêu cầu thực hiện mục tiêu: Yêu cầu của thực hiện mục tiêu chính sách là
cụ thể, rõ ràng, chính xác.
Với tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng thì
yêu cầu thực hiện mục tiêu là đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho đối
tượng người có công với cách mạng và thân nhân của họ là mục tiêu tiên quyết góp
phần đưa đời sống của người có công với cách mạng bằng hoặc cao hơn mức sống
của nhân dân nơi cư trú.
- Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống: Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo
tính khoa học, hợp lý và pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách công.
Bởi vậy tính khoa học của quá trình tổ chức thực hiện chính sách phải thể hiện
được sức sống để tồn tại trong thực tế như: Mục tiêu cụ thể của chính sách phải phù
hợp với mục tiêu phát triển của địa phương trong từng thời kỳ; các biện pháp thực
hiện mục tiêu chính sách phải tương ứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của
vùng hay địa phương.
Tính pháp lý là việc chấp hành các chế định về thực hiện chính sách như: Trách
nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực hiện chính sách, thủ tục
giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chính sách, cưỡng chế thực hiện chính
sách trong những trường hợp cần thiết.
- Yêu cầu đảm bảo lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng:
Các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang từng bước được
hoàn thiện và nâng lên đáp ứng yêu cầu thực tế và khả năng của đất nước, lợi ích của
người có công với cách mạng được Nhà nước bảo đảm thực hiện và có các chế tài xử
phạt đối với những trường hợp lợi dụng và vi pháp đảm bảo lòng tin của nhân dân
vào chính sách của nhà nước.

ra sự tập trung, thống nhất cao độ trong quá trình thực hiện chính sách công.
Dù cho Nhà nước thống nhất lợi ích với đa số nhân dân thì vẫn cứ tồn tại
những nhóm lợi ích mâu thuẫn với Nhà nước và xã hội. Không chỉ có vậy, các cán

17


bộ, công chức tham gia tổ chức thực hiện chính sách không hoàn toàn đồng nhất với
các đối tượng chính sách. Họ ở các vị trí thực hiện khác nhau, nên yêu cầu nhiệm vụ
và cách thức hoạt động không giống nhau, vì thế giữa họ có khoảng cách.
- Hình thức thực hiện từ dưới lên: Tiến hành theo hình thức này, chính quyền
địa phương các cấp chủ động triển khai đưa chính sách vào cuộc sống theo yêu cầu
phát triển của địa phương. Các bước tổ chức thực hiện được tiến hành khoa học từ
xây dựng kế hoạch thực hiện đến đánh giá tổng kết thực hiện chính sách. Theo hình
thức này, các địa phương chủ động triển khai thực hiện chính sách theo những điều
kiện hiện có, nhằm đạt được mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ. Bằng cách đó
các địa phương chủ động tìm kiếm các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách có
hiệu quả nhất. Chính sách do chính quyền địa phương chủ động triển khai thực hiện
thường mang lại lợi ích thiết thực hơn cho các đối tượng chính sách, vì ngoài nỗ lực
của các đối tượng, còn có sự bảo vệ mang tính cục bộ của chính quyền địa phương
trước cơ quan Trung ương.
- Hình thức hỗn hợp: Là sự kết hợp của hai hình thức thực hiện từ trên xuống
và hình thức thực hiện từ dưới lên.
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện theo mô hình hỗn hợp, căn cứ vào quy
định của Đảng và Nhà nước về chính sách đối với người có công thì tùy từng điều kiện
cụ thể của từng địa phương, các địa phương có thể vận dụng vào tình hình kinh tế,
xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng của địa phương mình mà tổ chức thực hiện
chính sách đối với người có công hiệu quả, thiết thực (ví dụ như mức kinh phí hỗ trợ
làm nhà ở, tặng quà lễ tết..)
1.3.5. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công

tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện,
bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và
chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là
lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà
nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước
của Bộ.
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Là cơ quan chuyên môn thuộc ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tham mưu, giúp việc ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản !ý Nhà

19


nước về các lĩnh vực: Tiền lương, tiền công; việc làm, dạy nghề; bảo hiểm xã hội;
an toàn lao động; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; đặc biệt
là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
về các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Sở và thực hiện một số
nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương và theo quy định của pháp luật; Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận, huyện: Là cơ quan chuyên
môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về Lao động - Thương binh và Xã hội, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ
chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân dân quận, huyện đồng thời chịu sự chỉ
đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
- UBND cấp xã, phường, thị trấn và cán bộ Lao động - Thương binh và xã
hội cấp, xã, phường, thị trấn: Trong việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi của

hội quận, xây dựng kế hoạch công tác chính sách người có công, tháng, quý, năm tổ
chức thực hiện;
+ Thống kê số lượng, tổng hợp tình hình đối tượng thương binh, bệnh binh,
gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng để có biện pháp trợ giúp nhằm ổn
định đời sống vật chất, tinh thần cho đối tượng. Đồng thời phối hợp với các tổ chức,
đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân giúp đỡ, chăm sóc đối tượng người có công
với cách mạng;
+ Thực hiện chi trả trợ cấp, phụ cấp cho các đối tượng người có công với cách mạng;
+ Quản lý Nghĩa trang liệt sỹ và công trình ghi công liệt sỹ của xã, phường, thị trấn.
1.3.6.2. Vai trò của tổ chức xã hội các cấp trong hoạt động tổ chức thực hiện
chính sách ưu đãi người có công
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Mặt trận Tổ quốc có chức năng tham chỉnh,
tham nghị và giám sát; đoàn kết nhân dân, chăm lo đời sống, lợi ích của các thành
viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân,
thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

21


Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng và
người có công với cách mạng thông qua hoạt động vận động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp đã được xã hội hóa ngày càng cao và đạt hiệu quả thiết thực. Hoạt
động này đã trở thành chủ trương và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta,
là việc làm mang tính truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc chăm sóc
thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng thông qua hoạt động
của phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam với Chính phủ, các ngành, đoàn thể và địa phương; phát huy sức mạnh
của thế “kiềng ba chân” Đối tượng - Nhà nước - Cộng đồng.
Nội dung trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” thực sự đã trở thành ý

hiện đảm bảo đúng chính sách, đúng đối tượng; các chủ trương, chính sách đối với
người có công được triển khai rộng khắp đến cơ sở bằng nhiều hình thức như tổ chức
vận động Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa...
góp phần nâng cao mức sống hộ gia đình chính sách bằng hoặc cao hơn nơi cư trú.
Một số hạn chế, vướng mắc, bất cập:
+ Hiện nay mức trợ cấp một lần đối với người hoạt động kháng chiến vẫn còn
thấp, bằng mức trợ cấp một lần của năm 1994 (120.000 đồng/năm), cần có văn bản
điều chỉnh để phù hợp với điều kiện phát triển, kinh tế xã hội hiện tại của người dân.
+ Cán bộ làm công tác Thương binh và Xã hội hiện nay ở cấp phường phần
lớn còn kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực khác nhau nên đôi lúc giải quyết công việc còn
chậm, chưa làm tốt vai trò tham mưu cho các cấp ủy Đảng, Chính quyền cấp phường
trong việc quản lý chặt chẽ người có công, thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi
người có công.
- Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội:
Theo báo cáo số 118/BC-UBND ngày 06/4/2018 tổng kết 05 năm thi hành
Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng của UBND quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội: Đã thực hiện đúng, đủ và kịp thời các chính sách của Nhà nước đối với
người có công. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để xem xét, giải quyết
dứt điểm không để hồ sơ tồn đọng. Đặc biệt việc thực hiện công tác “Đền ơn đáp nghĩa’’
đã trở thành phong trào quần chúng, sâu rộng, thu hút được đông đảo các đơn vị, cơ
quan, doanh nghiệp, đoàn thể, tổ chức xã hội và nhân dân quận tham gia hưởng ứng
và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Thực hiện tốt chế độ điều dưỡng đối với người có
công. 05 năm qua quận Cầu Giấy đã đề nghị Nhà nước phong tặng và truy tặng cho
37 mẹ (trong đó truy tặng 33 mẹ và phong tặng 04 mẹ, hiện còn sống 04 mẹ). Đặc

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status