1SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________ __________ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2004
(KHOA HỌC – XÃ HỘI – NHÂN VĂN)
TÊN ĐỀ TÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
__________________________________________________
1. NGUYỄN VĂN XÊ, Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và
Xã hội – Chủ nhiệm đề tài.
2. VÕ THỊ BẠCH TUYẾT, Nguyên Giám đốc Sở Lao động-Thương
binh và Xã hội.
3. Ths. HOÀNG VĂN LỄ, Tổng biên tập Tạp chí Sổ tay xây dựng
Đảng.
5
2. Xác đònh đối tượng và phạm vi nghiên cứu ….……………………………………… 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ
CÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ………………………………………… ……
13
I. THỰC TRẠNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG ……………………….………….……… 14
1. Phân tích thực trạng (qua điều tra) …………………………………………….……….…… 14
2. Sự chung sức giúp đỡ của cộng đồng cho người có công ….……………. 24
II. THỰC TRẠNG VỀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG ……….…… 28
1. Thực trạng đời sống vật chất của hộ chính sách ….………………….………… 28
2. Sự quan tâm của gia đình đối với người hưởng chính sách có
công ………………………………………………………………………………………………………………………
36
CHƯƠNG III: HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI CỦA
NHÀ NƯỚC VÀ SỰ HỖ TR CỦA TOÀN XÃ HỘI ……………….….……….
42
I. CÁC CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC ……………………………………………………………………………………………………………….…
42
1. Những chủ trương của Đảng ………………………………………………………………………. 42
2. Những chính sách, qui đònh của Nhà nước …………………………………….…… 44
3. Những bất cập trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi của
Nhà nước đối với người có công ……………………………………………………………….
49
II. QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH ………. 50
65
I. CÁC QUAN ĐIỂM CHUNG VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ………….……… 65
A- Các quan điểm chung …………………………………………………………………………….……… 65
B- Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………………….……………………………… 66
II. ĐỀ XUẤT VIỆC CHỈNH SỬA NHỮNG ĐIỀU CHƯA HP LÝ
HOẶC CHƯA PHÙ HP VỚI HOÀN CẢNH CỤ THỂ TRÊN
ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH …………………………………………………………………….68
1. Mở rộng diện hưởng trợ cấp hàng tháng ………………………………….…………… 68
2. Về chế độ nhà ở, đất ở …………………………………………………………………….…………… 69
5
3. Điều chỉnh kòp thời mức trợ cấp ……………………………………………………………… 69
4. Có chương trình đào tạo, sử dụng nhân tài, thực hiện việc nâng
trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp và tạo việc làm ………….…….
70
III. ĐỀ XUẤT BỔ SUNG MỚI TRONG CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ
CÔNG ………………………………………………………………………………………………………………….
71
1. Sửa đổi chính sách “ưu đãi” thành chính sách “tôn vinh người có
công” ……………………………………………………………………………………………………………………
71
2. Đề xuất bổ sung một số chính sách cơ bản ……….………………….……………… 71
97
BIÊN BẢN HỘI THẢO ĐÓNG GÓP Ý KIẾN CHO ĐỀ TÀI …………….… 105
CÁC SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ MINH HỌA ……………………………………….……….… 110
6
TAØI LIEÄU THAM KHAÛO …………………………………………………… ……………………………… 122
7
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG
Trong lòch sử cận đại của dân tộc ta, cuộc kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc là một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài,
gian khổ, ác liệt… do kẻ thù gây ra. Đã có biết bao đồng bào, đồng chí
anh dũng hy sinh trong chiến đấu, công tác, trong đấu tranh chính trò trực
diện với quân thù, hoặc bò đòch bắt tra tấn tù đày dẫn đến tàn phế tật
nguyền. Hậu quả của cuộc chiến đối với dân tộc ta hết sức nặng nề.
Chăm lo đời sống về vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh
binh, gia đình liệt só và những người có công với cách mạng là một trong
những chính sách đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, ngay
từ những ngày đầu thành lập nước, trong điều kiện đất nước còn nhiều
khó khăn, Chủ tòch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL ngày 16 tháng 2
năm 1947 ban hành chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử só, mở đầu
cho sự ra đời hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng.
Trong 60 năm qua, hệ thống chính sách ấy đã nhiều lần được bổ
sung, sửa đổi qua từng thời kỳ cách mạng cho phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội và đời sống chung của nhân dân. Ngày 29/8/1994 Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua và ngày 11/9/1994, Chủ tòch
nước đã ký Lệnh số 36/L-CTN công bố: “Pháp lệnh qui đònh danh hiệu
đồng, đến nay Thành phố đã cấp trên 12.000 căn nhà cho đối tượng là
người có công, xây tặng 15.579 căn nhà tình nghóa cho gia đình diện
chính sách. Toàn bộ số thương binh nặng được phường-xã, gia đình đón
về nhà sinh sống; được ưu tiên cấp đất, cấp nhà, hỗ trợ vốn để kinh
doanh, hỗ trợ học tập văn hóa, học nghề, giải quyết việc làm… Các đơn vò
kinh tế, đoàn thể nhận phụng dưỡng suốt đời cho 274 Bà mẹ Việt Nam
anh hùng, nhận đỡ đầu chăm sóc thương binh nặng và cha mẹ liệt só già
yếu neo đơn.
Những nỗ lực trong quá trình triển khai và thực hiện các chính sách
ưu đãi đối với người có công đã mang lại cho đối tượng hưởng chính sách
cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng ổn đònh, tăng thêm niềm tin đối
với Đảng và Nhà nước.
9
1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách đối với
người có công
1.1- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công
với cách mạng
- Thương binh, bệnh binh, liệt só là những người con ưu tú đã vì Tổ
quốc, vì nhân dân, vì cuộc sống hạnh phúc của mỗi chúng ta mà hy sinh
xương máu. Sự hy sinh này là vô giá, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng phải biết ơn, phải báo đáp, phải chăm
sóc với chính sách ưu đãi, đảm bảo cho họ được “yên ổn về vật chất, vui
vẻ về tinh thần”.
- Chính sách ưu đãi đối với người có công phải phù hợp với sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước và hài hòa với các mối quan hệ xã hội
khác. Nhưng trước hết, phải đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của
những người mất hầu như hoàn toàn khả năng lao động, những người có
nhiều cống hiến; đảm bảo việc phục hồi chức năng sinh hoạt, lao động và
nghề nghiệp; đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho người hưởng chính
thương tật) qui đònh điều kiện, tiêu chuẩn và chế độ phụ cấp thương tật
đối với thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bò thương
tật.
- Đònh nghóa liệt só thay cho qui đònh về tử só, theo đó bằng “Tổ
quốc ghi công” do Thủ tướng Chính phủ cấp thay vì bằng “Tổ quốc ghi
ơn” do Bộ Thương binh - Cựu binh hoặc bằng “Tổ quốc ghi công” do Bộ
Quốc phòng cấp.
- Qui đònh tiền tuất một lần và trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt só.
- Qui đònh bổ sung chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt só về
việc làm, khám chữa bệnh, cung cấp phương tiện chuyên dùng, miễn
giảm vé tàu xe…
- Qui đònh về cất bốc, qui tập mộ liệt só, xây dựng nghóa trang.
- Qui đònh ưu đãi thương binh, gia đình liệt só.
1.2.2- Ngày 30 tháng 10 năm 1964, Nghò đònh số 161/CP của Hội
đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời “Về các chế độ đãi ngộ quân
nhân, quân nhân dự bò, dân quân tự vệ ốm đau, bò thương hoặc chết, trong
khi làm nhiệm vu”ï đánh dấu sự ra đời của chính sách thương binh liệt só
thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, với những nội dung chủ yếu là:
11
- Qui đònh chế độ trợ cấp thương tật 8 hạng đối với quân nhân,
quân nhân dự bò, dân quân tự vệ và công nhân viên chức bò thương trong
chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc làm nhiệm vụ và được chia làm 2
loại: loại A (bò thương vì chiến đấu với đòch hoặc anh dũng làm nhiệm vụ
xứng đáng nêu gương cho đơn vò học tập) loại B (bò thương trong luyện
tập quân sự, trong công tác, trong học tập, trong lao động xây dựng và
sản xuất).
- Qui đònh chế độ tiền tuất liệt só (gồm trợ cấp một lần và trợ cấp
hàng tháng).
Các nội dung ưu đãi về hưởng thụ văn hóa, giáo dục và đào tạo,
nhân liệt só (trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng).
1.2.3- Sau ngày 30/4/1975, cùng với các chính sách xã hội khác,
chính sách thương binh liệt só đã có sự kế thừa, phát triển và thành hệ
thống hoàn chỉnh được thực hiện trong cả nước:
- Ở các tỉnh phía Nam thực hiện chính sách thương binh, liệt só theo
Nghò đònh số 08/NĐ-76 ngày 17/6/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, trong đó qui đònh đối
tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh liệt só, chế độ trợ cấp và các chế
độ ưu đãi đối với những người tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến
đãø bò thương hoặc hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ.
- Ở các tỉnh phía Bắc, Nhà nước chủ trương tiếp tục giải quyết một
số vấn đề chưa hợp lý về chính sách thương binh liệt só do lòch sử để lại,
như điều chỉnh một số trường hợp là thương binh, thân nhân liệt só thuộc
diện hưởng trợ cấp một lần trước đây sang hưởng trợ cấp hàng tháng,
thống nhất chế độ tiền tuất liệt só đối với thân nhân liệt só các thời kỳ
(Thông tư số 24/TBXH ngày 19/3/1984 của Bộ Thương binh và Xã hội),
thực hiện chế độ trợ cấp đối với thân nhân của nhiều liệt só (Thông tư số
17/TBXH ngày 7/11/1983 của Bộ Thương binh và Xã hội).
- Ban hành Quyết đònh bổ sung đối với người có công giúp đỡ cách
mạng (Quyết đònh số 208/CP ngày 20/7/1977 của Hội đồng Chính phủ,
chế độ đối với bệnh binh; Quyết đònh số 78/CP ngày 13/4/1978 của Hội
đồng Chính phủ).
13
- Qui đònh đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt só trong
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghóa vụ quốc tế (Quyết
đònh số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ).
- Bổ sung, sửa đổi về xác đònh đối tượng, căn cứ hưởng trợ cấp, …
và thực hiện thống nhất chính sách thương binh liệt só trong cả nước (Nghò
Để ghi nhớ công ơn của những người con quê hương hy sinh vì độc
lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và cuộc sống yên bình của mọi
người, nhiều xã-phường đã lập nhà bia ghi tên liệt só. Nhà bia ghi tên liệt
só được đặt tại các trung tâm văn hóa của xã-phường hoặc trong khuôn
viên di tích… Nhiều đòa phương xây dựng bia, tượng, phù điêu ghi nhớ
những sự kiện lòch sử oai hùng.
Vào các ngày lễ-tết, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và nhân
dân đòa phương tới đây để thắp hương tưởng niệm các liệt só. Nguồn kinh
phí xây dựng nhà bia là do ngân sách và nhân dân trong xã-phường đóng
góp.
Do đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân và nguyện vọng chính
đáng của các gia đình liệt só, nên việc xây dựng nhà bia ghi tên liệt só đã
nhanh chóng phát triển ở các đòa phương và trở thành công trình văn hóa
lòch sử của đất nước. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay cả nước đã có
2.108 nhà bia được xây dựng ở cấp xã-phường, trong đó một số tỉnh xây
dựng được nhiều nhà bia như: Thanh Hóa (350 nhà bia), Hà Tónh (174
nhà bia), Hà Tây (158 nhà bia), Nghệ An (117 nhà bia), Thái Nguyên
(107 nhà bia)…
Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6 năm 2006, đã có 57 nhà
bia ghi danh liệt só. Đây là một trong những công trình trọng điểm của
thành phố để chào mừng ngày lễ lớn của dân tộc. Đặc biệt, thành phố Hồ
Chí Minh đã xây dựng Đền Bến Dược tại huyện Củ Chi (là một trong
những vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng trong thời Kháng chiến chống
Mỹ), nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức uống nước nhớ
nguồn cho thế hệ mai sau. Đây thực sự đãø trở thành một đòa điểm thiêng
liêng và nổi tiếng, là điểm đến của nhiều đoàn khách tham quan trong và
ngoài nước khi đến thành phố.
1.3- Trách nhiệm xã hội đối với người có công
15
16
Hiện nay, thành phố có 172.696 người hưởng chế độ ưu đãi đối với
người có công, trong đó có 47.132 người hưởng trợ cấp hàng tháng. Trong
chuyên đề nghiên cứu này chỉ tập trung vào 5 đối tượng chính sách có
công mang tính tiêu biểu phổ biến (số người chiếm tỷ lệ lớn) bao gồm:
- Thân nhân liệt só đang hưởng trợ cấp hàng tháng : 10,15%.
- Người có công giúp đỡ cách mạng : 7,06%.
- Người hoạt động kháng chiến đã hưởng trợ cấp : 37,42%.
- Thương binh : 10,42%.
- Bệnh binh : 1,25%.
Đây là 5 diện lớn mang tính tiêu biểu, đại diện cho các diện chính
sách khác trên đòa bàn Thành phố.
17
2.2- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trên một số phường-xã có tính
tiêu biểu: là vùng căn cứ kháng chiến cũ, có nhiều diện chính sách; là
vùng sâu, vùng xa nơi mà đời sống diện chính sách còn gặp khó khăn.
Nhóm tác giả thực hiện việc điều tra sâu tại 11 phường-xã của 7 quận-
huyện với tổng số 600 hộ diện chính sách, chia ra như sau:
- Phường Phú Hữu, quận 9 : 50 phiếu.
- Phường Long Trường, quận 9 : 50 phiếu.
- Phường Long Phước, quận 9 : 50 phiếu.
- Phường An Phú Đông, quận 12 : 50 phiếu.
- Xã Vónh Lộc A, huyện Bình Chánh : 100 phiếu.
- Xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi : 100 phiếu.
- Xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè : 50 phiếu.
- Xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè : 50 phiếu.
- Phường 11, quận 6 : 25 phiếu.
lệnh ưu đãi người có công đã khắc phục được một số bất hợp lý về tương
quan giữa các mức trợ cấp hàng tháng, như sự khác biệt giữa mức trợ cấp
thương binh hưởng lương và thương binh hưởng sinh hoạt phí, giữa thương
binh đang công tác và thương binh về gia đình.
Tuy nhiên, phong trào chăm sóc người có công với cách mạng còn
chưa đồng đều do phụ thuộc chủ yếu vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan
tâm của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể của mỗi đòa phương.
Nguồn hỗ trợ huy động từ cộng đồng xã hội, tuy đã rất cố gắng nhưng
không thể đảm bảo về vật chất cho số lượng lớn người có công, đặc biệt
là ở các đòa phương có đông đối tượng chính sách, các vùng sâu vùng xa,
19
vùng căn cứ cách mạng. Mặt khác, chế độ trợ cấp chính sách ở mức thấp
không thực sự là nguồn hỗ trợ cơ bản của những người có công (hầu hết
bò hạn chế về sức khỏe, kiến thức làm ăn, về việc làm và học hành cho
con em mình). Chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng vẫn chưa theo kòp những
thay đổi với mức chung của xã hội.
I. THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG
1. Phân tích thực trạng (qua điều tra)
Để có cơ sở phân tích hiện trạng đời sống thực tế của những người
có công đang hưởng chính sách có công trên đòa bàn thành phố, nhóm
nghiên cứu đề tài khoa học đã tổ chức thực hiện cuộc điều tra ở 600 hộ
gia đình có công, mà đại diện là:
- Gia đình liệt sỹ : 211 hộ.
- Gia đình có công cách mạng : 142 hộ.
- Gia đình có người hoạt động kháng chiến : 67 hộ.
- Gia đình có người là thương binh : 108 hộ.
- Gia đình có người là bệnh binh : 48 hộ.
- Gia đình có công khác : 24 hộ.
Cụ thể ở khu vực nội thành là 50 hộ thuộc hai phường 11 và 12
- Nhà tình thương 04 1,14
1.2.3- Chất lượng nhà ở
Đơn vò tính: %
Chất lượng nhà ở Nội thành Khu đô thò mới Ngoại thành
- Nhà bò dột 24 3,5 5,42
- Nhà hư hỏng 12 20 8,28
- Nhà trong diện giải tỏa 08 0,5 0,28
1.1.4- Diện tích sử dụng của các căn hộ gia đình có công
Đơn vò tính: %
Diện tích nhà ở Nội thành Khu đô thò mới Ngoại thành
- Dưới 30 m
2
18 5,5 10,57
- Dưới 50 m
2
28 32,5 27,14
21
- Dưới 100 m
2
40 37 42,18
- Trên 100 m
2
14 25 20
Số liệu trên cho chúng ta có nhận đònh rằng: Đại bộ phận người có
công đều có nhà cửa ổn đònh, trong khu vực nội thành và khu đô thò mới
tỷ lệ nhà kiên cố trên 30%, riêng khu vực ngoại thành số nhà bán kiên cố
chiếm tỷ lệ cao 79,14% so với tổng số hộ điều tra ở khu vực ngoại thành.
Số nhà tạm bợ tuy chiếm tỷ lệ thấp, ở nội thành chiếm tỷ lệ 8%, khu vực
đô thò mới chiếm tỷ lệ 3,5%, ngoại thành chiếm tỷ lệ 2,85% trong tổng số
dưỡng, nhất là đối với những nhà tình nghóa, nhà tình thương do chất
lượng xây dựng kém vì kinh phí có hạn. Theo kết quả điều tra, ở nội
thành có đến 35%, khu đô thò mới chiếm 23,5% và ngoại thành có trên
13% nhà diện có công được điều tra bò hư hỏng cần phải có sự giúp đỡ
của nhà nước để sửa chữa lại. Trong nhiều năm qua, phong trào vận động
xây dựng quỹ đền ơn đáp nghóa đã được các tổ chức, cá nhân trên đòa bàn
thành phố tích cực hưởng ứng. Từ nguồn quỹ này, các quận-huyện đã
dành một phần lớn cho việc sửa chữa, chống dột nhà ở của các gia đình
có công. Tuy nhiên, việc sửa chữa chống dột được tổ chức làm đại trà cho
các gia đình chính sách có công, neo đơn, nên hiệu quả không cao. (Nhân
kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, lãnh đạo thành phố đã chỉ
đạo rà soát nhà tình nghóa hư hỏng và đã sửa chữa toàn bộ nhà hư hỏng
do quận-huyện đề nghò với kinh phí: 8.513.395.000 đồng).
Trong thời gian tới, cần có giải pháp cụ thể hơn, nên điều tra khảo
sát cụ thể về tình trạng nhà ở của các diện chính sách người có công; tập
trung nguồn lực giúp đỡ cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chưa
có chỗ ở ổn đònh hoặc nhà bò hư hỏng nặng, nhất là những gia đình chính
sách neo đơn, có khó khăn về tài chính…
1.2- Tiện nghi sinh hoạt
1.2.1- Điện sinh hoạt
Đơn vò tính: %
Điện sinh hoạt Nội thành Khu đô thò mới Ngoại thành
- Đường điện riêng 92 94 86,28
- Câu nhờ 8 5,5 13,42
- Không có điện 0,5 0,28
23
Ngành điện chưa có chính sách riêng trong việc cung cấp điện sinh
hoạt cho các gia đình có công cách mạng, một số hôï vẫn còn câu nhờ
điện qua hộ khác, từ đó họ phải trả tiền điện với giá cao, một số hộ
Điều kiện SXKD Nội thành Khu đô thò mới Ngoại thành
- Diện tích đất bình
quân
90,61 89,33
- Diện tích ruộng b/q 1.231 2.290
- Diện tích vườn b/q 475,59 471,6
- Diện tích ao, hồ b/q 774 65,71
Khu vực nội thành, đại bộ phận các gia đình có công đều không có
điều kiện để cho các hộ tự tổ chức sản xuất kinh doanh vì không có đất,
chỉ có một số ít diện chính sách có nhà ở mặt tiền cho thuê nhà để kinh
doanh, có thêm thu nhập cho gia đình.
Đối với các hộ gia đình có công ở khu vực đô thò mới và ngoại
thành, một số hộ có đất, có ruộng-vườn nên có điều kiện để cải thiện
thêm cuộc sống, như tổ chức sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và trồng
trọt. Tuy nhiên, với số diện tích đất, ruộng, vườn, ao hồ bình quân cho
mỗi hộ gia đình ở khu đô thò mới và ngoại thành thì người lao động chỉ
trồng trọt là chính, số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất
thấp; thống kê ở 500 hộ ngoại thành và khu đô thò mới, các gia đình có
công chỉ có 37 trâu, đàn bò thòt chỉ có 125 con, 60 con bò sữa. Về phương
tiện sản xuất tiểu thủ công nghiệp chỉ có 30 máy may, 3 máy vắt sổ. Điều
này cho thấy các hộ gia đình có công phần đông tham gia làm việc trong
khu vực nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp.
1.4- Về lao động, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ
Căn cứ số liệu của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố
đến cuối tháng 12/2005, các đối tượng chính sách người có công do
Thành phố quản lý có 172.696 người chiếm tỷ lệ khoảng 3% dân số thành
phố. Phân tích các số liệu cho thấy những đặc điểm về lao động, trình độ
văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ của những người có công tại thành
phố như sau:
nghiệp vụ của những người có công trong tuổi lao động, chỉ có khoảng
20% đã qua đào tạo (tỷ lệ này thấp so với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo