Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. Hồ Việt Hạnh

HÀ NỘI - 2018



bđó cân trọng tâmhành và thực hiện. Như chúng ta đã biết, đối với người có
công ưu đãi và chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi có vai trò vô
cùng cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtrọng đối với mỗi người. Đối
với những người có công, nhất là những thương, bệnh binh vấn đề này càng
cấp thiết và cần cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtâm nhiều hơn hết.
Tuy nhiên chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi cũng như các khó
khăn còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có
công.
Địa bàn huyện thanh trì nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, Thanh
Trì là một địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Trong
quá trình hình thành và phát triển, Thanh Trì nhiều lần thay đổi về tên gọi và
địa giới, nhưng truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục của người dân Thanh
Trì vẫn ngày càng được bồi đắp thêm, sáng mãi cùng Thủ đô ngàn năm văn
hiến.
Huyện Thanh Trì hiện có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn
Văn Điển và 15 xã: Duyên Hà, Đại Áng, Đông Mỹ, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc
Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Tứ Hiệp, Thanh Liệt, Vạn
Phúc, Vĩnh Quỳnh, Yên Mỹ.
Xuất phát từ mong muốn làm được một việc có ích, là một cán bộ với
nguyện vọng thông qua thực tiễn được tiếp xúc hằng ngày đối với người có
công ưu đãi và từ thực tế bắt nguồn từ nhu cầu chính sách ncc và những khó
khăn, tồn tại trong quá trình thực hiện công tác chính sách ncc trên địa bàn
huyện Thanh Trì, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách ưu đãi đối với
người có công trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khi mà có nhiều đề tài, trong quá trình nghiên cứu chính sách cũng như
sách, báo, tạp chí viết về vấn đề chính sách ncc. Trong các cuốn sách trước tiên

2

3


pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn trên
địa bàn huyện[28]. Thế kỷ đã trôi qua đi kể từ ngày đất nước chúng ta giành
được độc lập tự do sau hai cuộc chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp
và chống đế quốc Mỹ. Nỗi đau và vết thương của chiến tranh đã và đang được
khôi phục lại dần dần đất nước bước vào thời kỳ mới thời kỳ xây dựng và phát
triển. Có được những thành quả đó, dân tộc ta không thể quên ơn những người
con đã cống hiến cả cuộc đời, hy sinh xương máu của mình vì độc lập, tự do
của đất nước. Đối với những người trong số đó là những người bị thương bệnh
binh. Trong chính những người thương bệnh binh và liệt sỹ và đối với người
có công đóng góp với Cách mạng thì đó là một chính sách to lớn đối với Đảng
và Nhà nước. Trong những năm qua thì Đảng và Nhà nước ta đã bđó cân trọng
tâmhành nhiều chính sách và chế độ với đối với người có công ưu đãi và thường
xuyên bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Tới nay thì
điều đó đã hình thành một hệ thống chính sách kinh tế xã hội và liên cuộc sống
cần trọng tâm hơn cân trọng tâm đến đời sống hàng ngày của NCC. Khi đó đã
và đang có nhiều Pháp lệnh và Thông tư cả Nghị định kế hoạch chương trình
đề án đó có Chính phủ và các Sở Bđó cân trọng tâmngành liên cuộc sống cần
trọng tâm hơn cân trọng tâmvề thống kê lẫn khảo sát về chất lượng cuộc sống
của các đối tượng đối với người có công ưu đãi cũng như nhu cầu và đánh giá
mức độ hài lòng của họ với thụ hưởng chính sách ưu đãi theo đó là những
nghiên cứu báo cáo đề xuất chính sách được thực hiện một cách cụ thể chi tiết
nhằm nâng cao hơn hiệu quả của các chính sách ưu đãi xã hội với chính sách
ưu đãi thương bệnh binh nói riêng và đối tượng đối với người có công ưu
đãi. Việc trợ cấp với đối với người có công ưu đãi được thực hiện từ năm 1995
theo quy định của Pháp lệnh trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu
đãi trên địa bàn với cách mạng và một số văn bản pháp quy đơn hành khác của
Chính phủ. Có thể phân ra các loại trợ cấp một lần và trợ cấp thường xuyên

cơ bản như: Khái niệm Pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công

5


ưu đãi trên địa bàn. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này. Thực
trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện
pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn. Tạ
Vân Thiều, Cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực đối với người có công ưu đãi
ở ngành Lao động Thương binh và xã hội, Luận án cao học Luật, Viện
Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 1997 Nguyễn Đình Liêu, Cơ sở khoa học
để hoạch định chính sách giáo dục đào tạo con thương binh, liệt sỹ, Luận án
Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hoài, Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước Việt Nam đối với Thương binh, liệt sỹ và đối với người có công ưu đãi
với cách mạng. Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể những chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng đối với người có công ưu đãi
từ năm 1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo
của Nhà nước cũng những chủ trương chính sách ưu đãi cho phù hợp với tình
hình mới trong giai đoạn 1996 đến 2010. Các trong quá trình nghiên cứu chính
sách cũng như các sách, tạp chí trên đã góp phần cơ bản về lý luận cho việc
trong đó thục hiện công tác chính sách ưu đãi cho người có công. Quá trình xây
dựng công việc rất cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtrọng cho trong
quá trình triển khai, bổ sung và hoàn chỉnh pháp luật trong quá trình ưu đãi đối
với người có công ưu đãi trên địa bàn với cách mạng nói chung và với đối tượng
thương binh, bệnh binh nói riêng. Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Ưu đãi
xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”
hoàn toàn không phải là một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như
trong khoa học nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm nhấn của luận văn chính là tìm
hiểu, đánh giá công tác ưu đãi thương binh, bệnh binh thông qua việc thực hiện
chính sách ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Thanh Trì hiện nay; từ đó đề xuất

lực chăm đối với người có công ưu đãithì có 36,9% ý kiến cho rằng bác sĩ, y
tá, thiếu trách nhiệm, 13,8% là có cán bộ tôn trọng bệnh nhân. Tác giả cũng chỉ
ra hầu hết đối với người có công ưu đãi cách mạng ở huyện Thanh trì, thành

7


phố Hà Nội và đang được chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãitheo
chính sách của Đảng và Nhà nước. Bài viết đã nghiên cứu được đa số đối với
người có công ưu đãi cách mạng ở huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội có nhu
cầu cao về chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi nhưng chất lượng
và hiệu quả của công tác con có cần nhìn nhận do rất nhiều khó khăn mang lại,
nhất là thiếu thốn về tài chính, về đội ngũ y, bác sĩ, cơ sở vật chất nghèo nàn,
lạc hậu. Từ đó tác giả cũng đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu
quả chính sách ưu đãi đối với người có công
Năm 2011, Vũ Thị Thanh Nga đã có nghiên cứu về “Vai trò của công
tác xã hội trong việc nâng cao hiệu quả của công tác chính sách ưu đãi đối với
người có công ưu đãi người cao tuổi ở huyện Lạng Giang, Bắc Giang” [26].
Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng công tác chính sách ưu đãi đối với
người có công ưu đãi người cao tuổi. Trong khi đó vai trò ưu đãi chính sách ưu
đãi đối với người cao tuổi tại địa phương, 48,7% thuộc về gia đình, 43,2% mà
thực tế chính sách đó của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi, 41,2% là
vai trò của Hội người cao tuổi và 34,1% là vai trò cộng đồng địa phương . Khi
nghiên cứu nói cũng nhìn nhận ra được nguyên nhân từ việc chính sách ưu đãi
đối với đối với người có công ưu đãi của địa phương và nêu được vai trò nhân
viên công tác xã hội trong nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại
huyện.
Tác giả hệ thống một cách khái lược những cuộc sống cần trọng tâm hơn
cân trọng tâmđiểm, mà chính sách của Đảng và nhà nước đối với công tác
thương binh, liệt sỹ từ năm 1986 đến năm 2012; đánh giá những mặt tích cực

9


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố tác động tới ưu đãi chính sách
bảo vệ ưu đãi với đối với người có công ưu đãi trên cơ sở đó đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao chính sách ưu đãi đối với người có công.
3.2.

Nhiệm vụ nghên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận chính sách ưu đãi đối với người có công
- Phân tích thực trạng ưu đãi chính sách bảo vệ ưu đãi với đối với người
có công ưu đãi (các hoạt động ưu đãi, các yếu tố tác động tới thực trạng hoạt
động ưu đãi, các yếu tố tác động như: cộng đồng, xã hội, gia đình….).
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc chính sách ưu đãi đối với
người có công ưu đãi đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

Khi thục hiện tổ chức thực hiện thực, hiện chính sách ncc; quy trình thực
hiện chính sách ưu đãi cho vệc thực hiện mục tiêu thuộc diện thụ hưởng chính
sách theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa
bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn huyện Thanh
Trì, thành phố Hà Nội.
Bảng 1.1: Mô tả khách thể điều tra
Đối tượng

Số lượng (người)

Thương binh, bệnh binh

80

Cán bộ Lao động TB và XH

05

Lãnh đạo phòng Lao động TB và XH

03

Gia đình, người thân thương, bệnh binh

06

* Phương pháp cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmsát:
- Cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmsát là phương pháp thu thập
thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp và ghi
chép lại những nhân tố có liên cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmđến đối

11



CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1. Một vài cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmđiểm chính
sách ưu đãi đối với người có công
Dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do
của Tổ quốc và trong những cuộc đấu tranh đó đã có biết bao nhiêu người hy
sinh xương máu, của cải và cả tính mạng của mình cho nền độc lập tự do ấy,
họ luôn được nhân dân, Tổ quốc đời đời ghi nhớ và biết ơn. Từ năm 1986 đến
nay, trong vấn đề ưu đãi đối với người có công, hệ thống pháp luật nước ta đã
có những thay đổi cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm trọng để phù
hợp với tình hình kinh tế - xã hội của thời kỳ đổi mới. Nhà nước đã đề ra nhiều
văn bản luật ưu đãi xã hội đối với người có công, trong đó nổi bật nhất là việc
bđó cân trọng tâmhành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ
và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người
có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 (Pháp lệnh ưu đãi năm 1994) và Pháp
lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm
1994. Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992,
đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có
công, cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai pháp lệnh này
tạo thành hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công. Năm 1998 và năm 2000,
Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 lại được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và
quá trình cải cách hành chính. Cơ cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng
tâmhành chính với tư cách là cơ cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng

13




khỏe mạnh phải là một người có đầy đủ đối với người có công ưu đãi về thể
chất, tinh thần và có các mối cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm hệ xã
hội tốt đẹp. Nên cụ thể: Trong một người được xem là có đối với người có
công ưu đãi thể chất không những không có thương tật, bệnh tật mà các hoạt
động về thể lực cũng như tất cả các hoạt động sống đều ở trạng thái tốt nhất và
phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, lứa tuổi...;
Được một cơ thể khỏe mạnh là mơ ước, mục tiêu, mục đích mà mọi
người hướng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái
ngưỡng đó. Mối cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm hệ hữu cơ với
nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếu một trong các
thành tố trên sẽ không làm nên đối với người có công ưu đãi con người. Từ
nhận định nghĩa trên đã chỉ cho chúng ta thấy rõ trạng thái đối với người có
công ưu đãi cần đạt được để từ đó mỗi cá nhân hướng đến và vạch ra mục tiêu,
phương pháp để đạt được. Định nghĩa trên cũng gặp phải hạn chế là chưa đưa
ra được mục tiêu, phương pháp, kế hoạch thực hiện cho các lực lượng tham gia
vào quá trình chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi.
Chính sách ưu đãi và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ đối với người có công
ưu đãi rước hết phải do chính bản thân mỗi cá nhân thực hiện. Tục ngữ cũng
đã dạy như “Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức
khoẻ là của chính mình”.
Việc đầu tư chính sách ưu đãi đối với sức khoẻ là phải đầu tư chính sách
ưu đãi đối với ngay khi còn đang khoẻ mạnh, khi chưa thành bệnh mới là đầu
tư chính sách ưu đãi đối với có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nhiều khái niệm khác nhau về chính sách ưu đãi đối với người có công.
Tuy nhiên chính sách ưu đãi đối với đối với người có công ưu đãi là những hoạt
động nhằm nâng cao đối với người có công ưu đãi của con người.
Trong cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm hệ xã hội: Là một

15

16


tại Đại học Columbia. Maslow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Brooklyn
College. Trong suốt thời giđó cân trọng tâmnày ông đã gặp gỡ nhiều nhà tâm
lý học hàng đầu Châu Âu như Alfred Adler và Erich Fromm. Năm 1951,
Maslow trở thành Ttrưởng khoa Tâm lý học tại Brandeis University, nơi mà
ông bắt đầu với công tác nghiên cứu học thuyết của mình. Ông đã gặp Kurt
Goldstein, người đã giới thiệu ông ta về ý tưởng của sự tự nhận thức về nhu
cầu.
Ông về hưu tại California. Chết vì đau tim năm 1979, thọ 62, sau nhiều
năm sức khoẻ kém.
Nội dung cơ bản của thuyết nhu cầu
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu
cầu của con người vào những năm 1950. Trong điều đó con người có cơ bản
nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu
những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được. Điều đó khi đối
với trẻ thì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ
các nhu cầu cơ bản này. Ông cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm nniệm
rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy
trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa.
Nhu cầu về tính chất cân trọng tâmtâm hoặc cân trọng tâmninh:
Đó cân trọng tâm ninh và tính chất đó cân trọng tâm tâm có nghĩa là một
môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của
con người.
Trong nhu càu trật tụ thì: Tính chất đó cân trọng tâm sinh mạng Trong
điều đó con người có cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như tính chất
đó cân trọng tâm tâm lao động, tính chất cân trọng tâmtâm môi trường, tính chất
cân trọng tâmtâm nghề nghiệp, tính chất đó cân trọng tâm tâm kinh tế, tính chất



18


– Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại:
Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng.
+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có
năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự
biểu hiện và tự hoàn thiện.
+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín,
được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự… Tôn trọng là được
người khác coi trọng, ngưỡng mộ.
Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công
việc được giao…
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây Trong điều đó con người
có cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông.
Trong đề tài này, tác giả đã vận dụng thuyết vai trò trong ưu đãi chính
sách với thương, bệnh binh để phân tích những vai trò để đó cân trọng tâm
thiệp, hỗ trợ gia đình vượt qua những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống,
đó cân trọng tâmthiệp để giúp mỗi người giải quyết vấn đề tốt hơn. Thuyết vai
trò, người nghiên cứu cũng có thẻ biết được ai là người có uy tín trong gia đình
cũng như trong cộng đồng, tác động vào những thành viên uy tín để xây dựng
hoạt động cho thương, bệnh binh.

19


Tiểu kết chương 1
Phát huy truyền thống Uống nước nhờ nguồn và Đền ơn đáp nghĩa, trong
những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã bđó cân trọng tâm hành nhiều chính

2.1. Khái quát tình hình trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội
Huyện thanh trì nằm ở phía Nam của thành phố của Thủ đô, Thanh Trì là
một địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Trong quá trình
hình thành và phát triển, Thanh Trì nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới, nhưng
truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục của người dân Thanh Trì vẫn ngày càng
được bồi đắp thêm, sáng mãi cùng Thủ đô ngàn năm văn hiến.
- Huyện Thanh Trì hiện có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn
Văn Điển và 15 xã: Duyên Hà, Đại Áng, Đông Mỹ, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc
Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Tứ Hiệp, Thanh Liệt, Vạn
Phúc, Vĩnh Quỳnh, Yên Mỹ.
- Về địa lý, Thanh Trì nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, phía
Tây Bắc giáp quận Thanh Xuân; phía Bắc giáp quận Hoàng Mai; phía Tây giáp
quận Hà Đông; phía Nam giáp huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín; phía
Đông giáp huyện Gia Lâm và huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên với Sông Hồng
là ranh giới tự nhiên. Địa bàn huyện thanh trì nằm gần sông Hồng, địa thế thấp
dần về phía Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng, trên địa bàn
huyện có đoạn cuối của sông Tô Lịch chảy qua nối với sông Nhuệ ở phía Tây
và giáp phía nam.
2.1.1. Một số đặc điểm chung người có công trên địa bàn huyện
Ở phần này, tác giả mô tả đối với người có công ưu đãi ở xã Ngọc Hồi,
huyện Thanh Trì theo những khía cạnh sau: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn,
mức độ thương tật. Dưới đây là những nghiên cứu và phân tích lần lượt các
khía cạnh, đặc điểm của người có công.

21


2.1.2. Độ tuổi
Qua nghiên cứu, khảo sát về độ tuổi tại phường Tiền an, huyện Thanh
Trì thì độ tuổi của họ chủ yếu nằm trong nhóm tuổi từ 60 tuổi – 80 tuổi.


80

100,0

Tổng

(Số liệu khảo sát của tác giả tháng 12 năm 2017)
Bảng số liệu trên đã cho thấy, trong tổng số 80 NCC thì độ tuổi 60 – 70
tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất (43, 75%), đây là độ tuổi phổ biến của Người có
công. 15/80 người được hỏi nằm trong độ tuổi 70 – 80 tuổi chiếm 18, 75%; độ
tuổi dưới 60 tuổi chiếm 25% và có 10 người trên 80 tuổi chiếm 12,5%.
Đối với người có công ưu đãi đa số đều là những người đã có tuổi, nhóm
tuổi 60 – 70 tuổi là nhóm tuổi có số lượng nhiều nhất so với các nhóm tuổi
khác. Nguyên nhân ở đây là do ở độ tuổi này nhìn chung đối với người có công
ưu đãi vẫn tương đối tốt, niềm vui bên con cháu gia đình giúp họ vẫn sống vui,
sống khỏe. Các hoạt động tập thể: thể dục thể thao tuổi già, tham gia đều đặn
các câu lạc bộ dưỡng sinh giúp họ khỏe mạnh hơn.
Giữa độ tuổi 60 - 70 và trên 80 có sự chênh lệch nhau nhất nhiều. Di
chứng để lại trong mỗi con người (đối với người có công ưu đãivới cách mạng)
là rất khác nhau, tùy vào tình trạng đối với người có công ưu đãi mà mỗi con
người ấy có thể sống lâu hơn. Ít người có thể sống đến trên 80 tuổi, độ tuổi phổ
biến từ 60 - 70 chiếm đại đa số.

22


2.1.3. Giới tính
Vì những đặc thù đối với người có công ưu đãicũng như thể chất khác
nhau mà đối với người có công ưu đãilà nam giới có tỷ lệ cao hơn nữ giới, điều

khá nhiều điều này có thể dễ hiểu vì hai cuộc kháng chiến, hầu hết con trai là
người ra trận, trực tiếp đấu tranh với quân thù, chỉ có một số ít các bác gái là
đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu còn lại chủ yếu ở nhà làm hậu phương cho
tiền tuyến, tham gia lao động sản xuất tại địa phương.
Ưu đãi và thể lực của nam giới bền bỉ và dẻo dai hơn nữ giới, nam giới
ra chiến trường nhiều hơn nữ giới không có nghĩa là nữ giới không biết chiến
đấu chống quân xâm lược bảo vệ Tổ quốc. Đằng sau mỗi trận chiến luôn có
bóng dáng của nữ giới, họ âm thầm lặng lẽ tiếp lương thực, tiếp sức mạnh, tiếp
thêm tinh thần và là hậu phương vững chắc.
Nam giới có sức mạnh phi thường của họ. Ở nam giới dễ nhận thấy sự
khỏe mạnh không chân yếu tay mềm giống như nữ giới, nam giới có những
quyết đoán nhanh gọn, chính xác mà ở nữ giới không phải ai cũng có được.
Là nam giới phải làm những công việc nặng nhọc, to lớn, gánh vác trách
nhiệm nặng nhọc trên đôi vai, những người đàn ông của gia đình của đất nước

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status