BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI NINH
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM VÀ
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH NÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI NINH
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM VÀ
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH NÀY
AEC
ASEAN Economic Community
Cộng đồng kinh tế khối ASEAN
ISO
International Organization for Standardization
Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế
QCĐP
Quy chuẩn địa phương
QCVN
Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia
TBT
Technical Barriers to Trade
Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại
TCCS
Tiêu chuẩn Cơ sở
TCVN
Tiêu chuẩn Quốc gia
Nam .................................................................................................................52
Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM....................................................................64
3.1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về rào cản kỹ thuật trong
thương mại ở Việt Nam...................................................................................64
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về rào cản
kỹ thuật trong thương mại ở Việt Nam.......................................................... 68
KẾT LUẬN....................................................................................................72
PHỤ LỤC 1....................................................................................................74
PHỤ LỤC 2....................................................................................................77
PHỤ LỤC 3....................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................80
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Rào cản kỹ thuật đối với thương mại hay các biện pháp kỹ thuật là các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hóa nhập
khẩu và quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó. Các biện pháp kỹ thuật này, về nguyên tắc,
là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khỏe con
người, môi trường, an ninh... Các biện pháp kỹ thuật cũng có thể là những rào
cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được nước nhập
khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm
nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu.
Do trình độ phát triển kinh tế không đồng đều, các nước đều duy trì và
Một trong những nguyên nhân chính làm cho gia tăng nguy cơ không
kiểm soát được hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam là các rào cản kỹ thuật hoạt
động chưa hiệu quả; quy hoạch và đầu tư cho hệ thống phòng thử nghiệm
nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu chưa
đáp ứng được yêu cầu thực tế. Trong tương lai, nếu không có các biện pháp
kịp thời, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm kém chất
lượng, ảnh hưởng xấu đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Để góp phần vào việc nghiên cứu pháp luật về các rào cản kỹ thuật trong
thương mại và nâng cao hiệu quả thi hành các quy định pháp luật này, tác giả
đã chọn vấn đề: “Thực trạng các quy định về rào cản kỹ thuật đối với hàng
hóa nhập khẩu vào Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
việc thi hành các quy định này” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, rào cản kỹ thuật trong thương
mại luôn là đề tài nóng, được nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và cơ
quan quản lý nhà nước quan tâm, nghiên cứu. Đã có rất nhiều đề tài nghiên
cứu về rào cản kỹ thuật trong thương mại được công bố.
3
Tuy vậy, một số đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của nước
ngoài và mới chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để hỗ trợ hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam vào thị trường quốc tế, đặc biệt là vào thị trường các nước phát
triển, như đề tài: “Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và
những giải pháp khắc phục rào cản để xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang thị trường Mỹ trong bối cảnh mới” của Nguyễn Tiến Dũng, luận văn
thạc sỹ kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2012; đề tài “Hàng rào phi thuế quan Nhật Bản đối với xuất khẩu thủy
góc độ pháp luật. Tuy nhiên, luận văn mới chủ yếu phản ánh dưới góc độ
pháp luật quốc tế, mà chủ yếu là các quy định của Hiệp định WTO/TBT.
Có thể thấy các công trình trên chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề
lý luận về rào cản kỹ thuật trong thương mại, hoặc thương mại quốc tế. Chưa
có đề tài mang tính thực tiễn nào về thực trạng các rào cản kỹ thuật đối với
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, về quy trình thiết lập rào cản kỹ thuật mà
cụ thể là quy trình xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Luận
văn của tác giả sẽ chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật trong nước
liên quan đến việc thiết lập rào cản kỹ thuật trong thương mại và đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy định đó.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật, thực tiễn
áp dụng các quy định pháp luật của Việt Nam và của một số nước khác trên
thế giới về các rào cản kỹ thuật trong thương mại, cụ thể là các tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tổng quan về rào cản kỹ thuật trong thương mại ở
Việt Nam, bao gồm các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy
trình đánh giá sự phù hợp. Đây là những quy định có ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.
5
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp lý về rào cản kỹ thuật
trong thương mại và trình bày rõ thực trạng các văn bản pháp luật về các rào
cản kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, tác giả luận văn đề
thuật đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc thi hành các quy định này” tác giả hy vọng có thể đóng góp
vào kho tàng tư liệu pháp lý các quy định về rào cản kỹ thuật trong thương
mại mà cụ thể là các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình
đánh giá sự phù hợp đối với hàng hóa nhập khẩu. Đồng thời, tác giả hy vọng
góp phần nâng cao nhận thức của mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong
việc xây dựng rào cản kỹ thuật đảm bảo phù hợp với pháp luật quốc tế đồng
thời thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật trong nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về rào cản kỹ thuật trong thương mại.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về rào cản kỹ thuật trong thương mại và
thực tiễn thi hành ở Việt Nam.
Chương 3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về rào cản kỹ thuật
trong thương mại và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về rào cản kỹ
thuật trong thương mại ở Việt Nam.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI
1.1. Rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại là gì?
Rào cản kỹ thuật trong thương mại (technical barriers to trade) thực
chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng
hóa nhập khẩu và quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối
với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Theo điều tra của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
sự đối với thương mại quốc tế, đi ngược lại các nguyên tắc của thương mại tự
do mà WTO đề ra và cần được loại bỏ.
1.2. Sự cần thiết của việc thiết lập rào cản kỹ thuật trong thƣơng
mại
Trong những năm gần đây, nhiều tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
được các nước chấp nhận đã tăng lên đáng kể. Các chính sách tăng cường
quản lý song hành với mức sống ngày một cao hơn, nhu cầu của người tiêu
dùng mong muốn có những sản phẩm chất lượng cao và an toàn. Việc gia
tăng về ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đã thúc đẩy các xã hội hiện
đại tăng cường sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Việc
thông qua Hiệp định về các rào cản kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định
TBT – Agreement on Technical Barriers to Trade) trong khuôn khổ WTO là
nhằm thừa nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật, đồng thời kiểm
soát các biện pháp này sao cho chúng được các nước thành viên WTO sử
dụng đúng mục đích và không trở thành công cụ bảo hộ. Hiệp định TBT đưa
ra các nguyên tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ
khi ban hành và áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hay các quy trình
đánh giá hợp chuẩn, hợp quy của hàng hoá.
Để có một sự đánh giá chính xác về tác động của sự cần thiết phải
tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài khác nhau đối
với thương mại quốc tế, các nhà sản xuất và xuất khẩu đã phải dành một
khoản chi phí đáng kể cho vấn đề này. Nhìn chung, các chi phí này phát
9
sinh do phải dịch các quy chuẩn nước ngoài, thuê các chuyên gia kỹ thuật
để giải thích các quy chuẩn nước ngoài và điều chỉnh thiết bị sản xuất để
phù hợp với các yêu cầu trong quy chuẩn. Ngoài ra, còn cần phải chứng
minh rằng sản phẩm xuất khẩu đáp ứng các quy chuẩn nước ngoài đó. Chi
Liên đoàn Viễn thông Quốc tế (ITU); Hay các tổ chức tiêu chuẩn hóa khu vực
như: Ủy ban Châu Âu về Tiêu chuẩn hóa (CEN); Viện Tiêu chuẩn Viễn thông
Châu Âu (ETSI); Ủy ban Tiêu chuẩn liên Mỹ (COPANT).
Về Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO): ISO được thành lập năm
1946 tại London, là tập hợp của các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia và là tổ
chức tiêu chuẩn hoá lớn nhất thế giới hiện nay. Thành viên của ISO là cơ
quan tiêu chuẩn hóa quốc gia và mỗi quốc gia chỉ có một cơ quan/tổ chức
đại diện tham gia. Mục tiêu của ISO là thúc đẩy sự phát triển của công tác
tiêu chuẩn hoá và các hoạt động có liên quan nhằm tạo thuận lợi cho việc
trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới cũng như góp phần
vào việc phát triển sự hợp tác trong lĩnh vực trí tuệ, khoa học, công nghệ và
kinh tế. Kết quả của các hoạt động kỹ thuật của ISO là các tiêu chuẩn quốc
tế ISO. Phạm vi hoạt động của ISO bao gồm tất cả các lĩnh vực, trừ điện và
điện tử thuộc phạm vi trách nhiệm của Ủy ban Điện Quốc tế (IEC).
1.3.1. Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại của Mỹ
Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ (ANSI) phối hợp với các tổ chức, cá nhân
có liên quan xây dựng chiến lược tiêu chuẩn quốc gia của Mỹ nhằm tăng năng
lực cạnh tranh ở nước ngoài, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ cho thị trường nội địa.
ANSI đại diện cho Mỹ (như Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc
Bộ Khoa học và Công nghệ đại diện cho Việt Nam) trong các hoạt động tiêu
chuẩn hóa quốc tế, thông qua việc bảo vệ chính sách và quan điểm kỹ thuật
của Mỹ trong các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và khu vực.
Ngoài ANSI, ở Mỹ có đến 400 tổ chức xây dựng tiêu chuẩn khác nhau
hoạt động. Trong đó có tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận.
Hệ thống tiêu chuẩn hóa ở Mỹ luôn thể hiện là một hệ thống phi tập
trung, phân nhiệm một cách tự nhiên theo lĩnh vực và bao gồm rất nhiều các
11
ngày
truy
cập
12
- SAE); Hiệp hội Phòng cháy, chữa cháy Quốc gia (National fire Protection
Association - NFPA); Hiệp hội Công nghiệp Hàng không - Vũ trụ Mỹ
(Aerospace Industries Association of America - AIA); Hiệp hội Đường sắt
Mỹ (Association of American Railroads – AAR); Hiệp hội kỹ thuật ngành
Giấy và Các-tông (Technical Association of the Pulp and Paper Industry –
TAPPI); Viện Kỹ sư Điện-Điện tử (Institute of Electrical and Electronics
Engineers - IEEE); Quỹ Quốc gia cho các hệ thống vệ sinh (National
Sanitation Foundation - NSF),...
Nhìn chung, hệ thống tiêu chuẩn hóa ở Mỹ là một hệ thống mềm dẻo,
linh hoạt, bao gồm các tổ chức hoạt động độc lập với nhau. Hệ thống này phù
hợp với bản chất của nền kinh tế Mỹ: định hướng thị trường, đa dạng về nhu
cầu và sự phát triển, sáng tạo trong bối cảnh không có sự kiểm soát mà chỉ có
sự tham gia từ phía Chính phủ. Tiêu chuẩn được xây dựng để đáp ứng các nhu
cầu cụ thể của các ngành công nghiệp, cơ quan chính phủ và người tiêu dùng.
Tính tự nguyện của hệ thống tiêu chuẩn hóa ở Mỹ được thể hiện cả trong hoạt
động xây dựng tiêu chuẩn lẫn áp dụng tiêu chuẩn và được định hướng bởi nhu
cầu của các bên liên quan. Các chủ thể xây dựng tiêu chuẩn chính là các SDO
và các tập đoàn (consortia), trong đó các SDO thường xây dựng các tiêu
chuẩn đồng thuận, tự nguyện áp dụng theo phương pháp ban kỹ thuật
(Committee method) còn các tập đoàn thường xây dựng các tiêu chuẩn của
bang, bang, địa phương hoặc cơ quan kiểm tra độc lập do người sản xuất hay
người nhập khẩu thực hiện. Đặc biệt, việc đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn
ở Mỹ căn cứ chủ yếu vào sự tự khai của người sản xuất hay người nhập khẩu
(Luật Trách nhiệm đối với sản phẩm).
1.3.2. Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại của Canada
Hội đồng Tiêu chuẩn Canada (SCC) là cơ quan đầu mối về vấn đề tiêu
chuẩn hóa và đánh giá hợp chuẩn ở Canada. Hệ thống tiêu chuẩn của Canada
gồm: tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn địa phương. Canada luôn cố gắng tạo
lập sự hài hòa giữa các hệ tiêu chuẩn nhưng các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu
chuẩn vẫn có sự khác nhau giữa các địa phương.
14
Theo Luật Môi trường Dược phẩm, sản phẩm sinh vật sống phải được
phân loại và thông báo các số liệu kiểm tra về tính chất sinh hóa, tác động môi
trường, tỉ lệ độc tố trong sản phẩm. Luật cũng cấm các sản phẩm có nhãn hiệu
ghi thông tin sai lệch hoặc lừa dối. Những nhà cung cấp có quá trình tuân thủ
tốt quy định của Cục Kiểm tra Thực phẩm Canada sẽ được liệt vào danh sách
A, những nhà cung cấp này sẽ ít bị kiểm tra hơn. Còn nếu nhà cung cấp không
đáp ứng được yêu cầu thì sẽ bị đưa vào danh mục cảnh báo nhập khẩu, các
chuyến hàng của nhà cung cấp thuộc danh mục này đều sẽ bị kiểm tra.
Hàng hóa được nhập khẩu vào Canada chủ yếu qua đường biển. Các kiện
hàng phải được dán nhãn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp với đầy đủ các thông
tin về tên, loại sản phẩm, trọng lượng, số lượng, tên và địa chỉ nhà sản xuất
hay xuất khẩu, ngày tháng đóng gói, nước và vùng xuất xứ, mã vạch,...
Các loại nhuyễn thể hai mảnh đông lạnh hoặc tươi sống như sò, trai chỉ
được phép nhập khẩu từ các nước có chương trình kiểm soát vệ sinh dịch tễ
của Cục Kiểm tra Thực phẩm. Giấy chứng nhận có đóng dấu của Trung tâm
Dịch vụ Nhập khẩu thuộc Cục Kiểm tra Thực phẩm là điều kiện bắt buộc.
Cụ thể, Trung Quốc áp dụng hệ thống chứng nhận bắt buộc vào danh
sách những mặt hàng liên quan có hiệu lực từ ngày 01/5/2002 để hạn chế
nhập khẩu. Ngày 01/5/2003, một số loại hàng nhập khẩu phải ghi dấu CCC
(China Compulsory Certification) trên sản phẩm khi lưu thông trên thị trường.
Hệ thống CCC không chấp nhận bất cứ giấy chứng nhận nào được cấp ở nước
ngoài, kể cả có phù hợp với tiêu chuẩn Trung Quốc. Hàng nhập khẩu phải đưa
vào phòng thí nghiệm ở Trung Quốc để kiểm tra.
Nếu như ở Việt Nam chỉ có hai cấp tiêu chuẩn là tiêu chuẩn quốc gia và
tiêu chuẩn cơ sở thì ở Trung Quốc áp dụng 4 loại tiêu chuẩn là: tiêu chuẩn
quốc gia, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn địa phương và tiêu chuẩn doanh
nghiệp.
1.3.4. Việt Nam và Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại
Từ ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) và bắt đầu thực hiện các cam kết gia nhập
16
của mình, bao gồm việc mở cửa thị trường, giảm dần các rào cản thuế quan và
rào cản phi thuế quan, trong đó có rào cản kỹ thuật được WTO đề cập trong
Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định TBT).
Cam kết trong việc hạn chế và tiến tới xóa bỏ các rào cản kỹ thuật không
cần thiết trong thương mại khi gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam điều chỉnh hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về kỹ thuật, các tiêu chuẩn và các quy
trình đánh giá sự phù hợp theo các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT
như: không phân biệt đối xử, không cản trở thương mại và công khai minh
bạch hóa trong quá trình xây dựng và thực thi các biện pháp kỹ thuật.
Để thực hiện các cam kết đối với Hiệp định TBT, ngay từ khi chưa phải
là thành viên của WTO, ngày 26/5/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 444/QĐ-TTg phê duyệt đề án triển khai thực hiện Hiệp định
Việt Nam đã ký kết tham gia các Hiệp định thương mại tự do đa phương,
song phương như: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định
thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Việt Nam - Liên minh
Á Âu, Hiệp định Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Nhật Bản..., trong đó đưa
ra các quy định về loại bỏ rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) theo
hướng nới lỏng hơn, mở hơn so với các cam kết, quy định trong các hiệp định
trước đây về tiêu chuẩn, quy chuẩn và đánh giá sự phù hợp. Để các hiệp định
hoạt động có hiệu quả, cần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, thứ bậc của
toàn bộ hệ thống văn bản luật và dưới luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;
loại bỏ các điều khoản không còn phù hợp với thực tế, tránh chồng chéo, mâu
thuẫn giữa các điều khoản.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng giống hầu hết các quốc gia trong khối
ASEAN, tiêu chuẩn quốc gia do một cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia ban
hành. Các cơ quan này chịu trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn quốc gia và đại
diện trong các tổ chức quốc tế và khu vực về tiêu chuẩn hóa. Ví dụ: Tại Thái
Lan là Viện Tiêu chuẩn công nghiệp Thái Lan (TISI) thuộc Bộ Công nghiệp;
tại Malaysia là Tổng cục Tiêu chuẩn Malaysia (DSM) thuộc Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường; tại Singapore là Cơ quan tiêu chuẩn (PSB); tại
18
Indonesia là Cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia thuộc Chính phủ (BSN); còn ở
Việt Nam là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học
và Công nghệ (STAMEQ). Hệ thống tiêu chuẩn hóa ở Việt Nam giống một số
nước đang phát triển như Thái Lan, Malaysia, Indonesia,… tổ chức tiêu chuẩn
hóa quốc gia là cơ quan thuộc Chính phủ, còn các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ hay các nước Châu Âu thì tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc gia là
các cơ quan phi chính phủ, hiệp hội, tổ chức cá nhân. Nhưng điểm chung là
dù ở hình thức nào thì Chính phủ vẫn có vai trò quan trọng trong việc phối
rộng và lên kế hoạch thực hiện sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan đến rào cản kỹ thuật trong thương mại để đảm bảo không vi
phạm các nguyên tắc của Hiệp định WTO/TBT.
Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về rào cản kỹ thuật trong
thương mại bao gồm các văn bản sau:
- Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn và kỹ thuật năm 2006;
- Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007;
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
- Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 về nhãn hàng hóa, bắt
đầu có hiệu lực từ ngày 1/6/2017 (thay thế Nghị định số 89/2006/NĐ-CP về
nhãn hàng hóa);
- Quyết định số 444/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
triển khai thực hiện Hiệp định TBT;
- Quyết định số 114/2005/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành Quy
chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp
của Việt Nam về TBT;
- Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN ngày 28/9/2007 của Bộ Khoa học và
Công nghệ hướng dẫn về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn;
- Thông tư số 23/2007/TT-BKHCN ngày 28/9/2007 của Bộ Khoa học và
20
Công nghệ hướng dẫn xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật.
- Hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Về mức độ tương thích của hệ thống văn bản pháp luật về rào cản kỹ
thuật theo các nguyên tắc chủ yếu của Hiệp định TBT, bao gồm: không phân