BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN NGỌC CHUNG
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI -2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN NGỌC CHUNG
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Vƣơng Thanh Thúy
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TNHS
Trách nhiệm hình sự
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài............................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................................1
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài ..................................2
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài ............................................................3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................................3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn .....................................................3
7. Kết cấu của Luận văn ...........................................................................................4
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT TRONG
HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN ....................................................................................5
1.1. Khái quát chung về Hợp đồng vay tài sản .......................................................5
1.1.1. Khái niệm Hợp đồng vay tài sản .....................................................................5
1.1.2. Đặc điểm của Hợp đồng vay tài sản ................................................................8
1.2. Khái quát chung về lãi suất trong Hợp đồng vay tài sản .............................11
1.2.1. Khái niệm lãi suất ..........................................................................................11
1.2.2. Đặc điểm của lãi suất .....................................................................................14
1.2.3. Phân loại lãi suất............................................................................................16
1.2.3.1. Phân loại lãi suất theo ý chí của các chủ thể có liên quan ..........................16
1.2.3.2. Phân loại theo tình trạng pháp lý của việc áp dụng lãi suất .......................17
1.2.3.3. Phân loại dưới góc độ lãi suất tín dụng Ngân hàng ....................................17
3.1.3. Hiện tượng vay lãi suất cao dưới vỏ bọc của “lãi suất 0%” trong các Hợp
đồng vay trả góp khiến người vay phải gánh chịu nghĩa vụ nặng nề ...................55
3.1.4. Hoạt động cho vay tín chấp với lãi suất cao của các Tổ chức tín dụng ngày
càng phổ biến, rủi ro thuộc về cả hai bên ...............................................................56
3.1.5. Lãi suất cao trong Hợp đồng vay tài sản tại các cửa hàng cầm đồ, khó xử lý
...................................................................................................................................58
3.1.6. Điều khoản lãi suất trong các Hợp đồng vay tín dụng rất phức tạp, gánh
nặng nghĩa vụ thuộc về bên vay ..............................................................................61
3.1.7. Khoảng trống pháp luật trong chế tài xử lý hành vi cho vay với lãi suất cao
...................................................................................................................................62
3.1.8. Lãi suất trong trường hợp Hợp đồng vay tài sản giả tạo chưa có cơ chế giải
quyết thống nhất .......................................................................................................64
3.1.9. Hiện tượng thỏa thuận lại lãi suất trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay
tài sản rất phổ biến, phức tạp và gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp của
Tòa án .......................................................................................................................65
3.1.10. Thỏa thuận nhập lãi vào nợ gốc rất phổ biến.............................................69
3.1.11. Nhiều trường hợp Tòa án không can thiệp vào thỏa thuận lãi suất trái
pháp luật ...................................................................................................................70
3.1.12. Lãi suất trong hui, họ, biêu, phường đôi khi là cho vay nặng lãi..............71
3.2. Kiến nghị hoàn thiện các vấn đề pháp lý liên quan đến lãi suất trong Hợp
đồng vay tài sản .......................................................................................................72
Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................................78
KẾT LUẬN ..............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................1
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lãi suất trong HĐVTS là một vấn đề quan trọng trong chế định HĐVTS.
Tuy nhiên, từ trước tới nay chỉ có một số ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu
2
về đề tài này như: “Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản theo pháp luật dân sự Việt
Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Tiến Thành, Đại học quốc gia Hà
Nội – Khoa Luật năm 2011; “Lãi suất trong hợp đồng vay tiền và tác động của nó
tới nền kinh tế hiện nay”, cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường của
Dương Thu Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009.
Rộng hơn, khi nhắc tới HĐVTS, các nhà nghiên cứu thường chủ yếu nghiên
cứu một cách bao quát về cả chế định HĐVTS như: “Hợp đồng vay tài sản – một số
vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hữu Chính,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; “Hợp đồng vay tài sản trong luật dân sự Việt
Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Kim Hiếu, Trường Đại học Luât Hà Nội,
2007; “Hợp đồng vay tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội của Nguyễn Hương Lan,
2010…
Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên được nghiên cứu ở thời
điểm trước khi Quốc hội thông qua BLDS năm 2015 nên chủ yếu đề cập tới việc
đánh giá thực trạng và hoàn thiện các quy định về HĐVTS, lãi, lãi suất trong
HĐVTS theo quy định của BLDS năm 1995 và 2005. Các nội dung mới của BLDS
2015, những thực thiễn sâu sắc trong áp dụng pháp luật về lãi suất trong HĐVTS,
những kiến nghị sát thực nhất ở thời điểm hiện tại về lãi suất trong HĐVTS như đề
cập trong phần Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ở trên thì chưa có công
trình nào được công bố. Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu toàn diện và trọng
tâm về lãi suất trong HĐVTS cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn và mang tính cấp
thiết cao.
- Phân tích, so sánh quy định của pháp luật về lãi suất trong HĐVTS, đánh
giá mức độ hoàn thiện của các quy định về lãi suất trong HĐVTS của BLDS 2015;
- Nêu và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về lãi suất trong HĐVTS,
từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về
lãi suất trong HĐVTS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả
còn sử dụng và kết hợp một cách hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học
khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng
minh, phương pháp so sánh, phương pháp suy diễn logic, phương pháp hệ thống…
để lập luận cho những luận điểm, luận cứ và luận chứng được trình bày.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa về mặt khoa học:
- Luận văn là công trình khoa học giúp người đọc nhận thức lại, nhận thức
sâu sắc hơn và nhận thức toàn diện về các vấn đề lý luận liên quan tới lãi suất trong
4
HĐVTS, không dàn trải về lãi suất nói chung, không đi sâu về HĐVTS mà lược bỏ
những thứ không cần thiết và bổ sung những điểm lý luận còn thiếu;
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên phân tích, đánh giá toàn diện
các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam mà trọng tâm là BLDS 2015 mới có
hiệu lực về lãi suất trong HĐVTS.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn giúp người đọc nhận thức đúng đắn về các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về lãi suất trong HĐVTS để từ đó vận dụng vào thực hiện các
giao dịch vay nợ trong cuộc sống;
- Qua đánh giá thực tiễn, Luận văn đưa ra được những kiến nghị sâu sắc, sát
đề đặt ra lúc này là nhu cầu giao lưu vốn xuất hiện dưới góc độ kinh tế. Từ đó, xuất
hiện một hiện tượng gọi là hiện tượng “cho vay”.
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội
loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Về chủ thể, việc cho
vay bao giờ cũng có ít nhất hai bên chủ thể tham gia, bao gồm bên vay và bên cho
vay. Bên cho vay là người có khoản tài sản chưa dùng đến, muốn cho người khác sử
dụng để thoả mãn lợi ích của mình, có thể là lợi ích vất chất hoặc tinh thần. Còn bên
vay chính là người đang cần sử dụng số tài sản đó để thoả mãn nhu cầu về kinh
doanh hoặc tiêu dùng. Sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi
ứng trước và hành vi hoàn trả một số tài sản nhất định. Hành vi ứng trước tài sản do
người cho vay thực hiện, còn hành vi hoàn trả lại được người vay thực hiện sau đó
một khoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa các bên.
Dưới góc độ pháp lý, sự xuất hiện của quan hệ vay tài sản kéo theo sự ra đời
của chế định “Hợp đồng vay tài sản” - đây là phương tiện pháp lý giúp các chủ thể
thỏa mãn nhu cầu về vốn của mình. Nó là công cụ mà nhờ đó những cam kết vay tài
sản được ghi nhận, thực hiện và tôn trọng.
Khi xem xét quan hệ vay tài sản dưới góc độ của ngành khoa học pháp lý
dân sự, khái niệm HĐVTS được nhìn ở nhiều phương diện khác nhau: (i) Theo
phương diện khách quan, HĐVTS được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ vay tài
sản phát sinh giữa các chủ thể với nhau trong giao dịch dân sự. (ii) Theo phương
diện chủ quan, HĐVTS là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý
chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và
6
nghĩa vụ dân sự nhất định.
Giao dịch vay tài sản là một trong những giao dịch phổ biến và có lịch sử
hình thành lâu đời, tồn tại, phát triển song song với sự tồn tại và phát triển của các
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật La Mã, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 129.
7
mặc dầu đồ vật ấy có tăng giá hay hụt giá”. Tuy nhiện, các nhà lập pháp chưa đề
cập yếu tố thỏa thuận của các bên khi thiết lập khế ước vay nợ.
Đến thời kỳ đổi mới, với sự ra đời của Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991,
khái niệm hợp đồng dân sự đã được ghi nhận ngay tại Điều 1 của Pháp lệnh: “Hợp
đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản;
làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một
hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Mặc dù định nghĩa đó
chỉ đưa ra giới hạn về mục đích của hợp đồng và mang nặng tính chất liệt kê, nhưng
Pháp lệnh hợp đồng dân sự đã ghi nhận một vấn đề mang tính bản chất của bất kỳ
một hợp đồng dân sự nào, đó chính là “sự thỏa thuận”.
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm về HĐVTS được quy định
tại Điều 463 của BLDS 2015, Luật số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015
:“HĐVTS là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho
bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại
theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp
luật có quy định.”.
Qua những phân tích trên, có thể nhận thấy HĐVTS là loại hợp đồng có mục
đích chuyển giao quyền sở hữu. Đây là dấu hiệu để phân biệt HĐVTS với các hợp
đồng dân sự thông dụng khác như: hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng thuê tài sản vì
trong hai hợp đồng này, người mượn và người thuê tài sản không trở thành chủ sở
hữu tài sản mượn và thuê, mà chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đã mượn,
thuê trong một thời gian nhất định do hai bên thoả thuận. Khi hết hạn, bên mượn,
bên thuê phải trả đúng tài sản đã mượn, thuê cho bên cho mượn, bên cho thuê tài
- Thứ nhất, HĐVTS là một hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cho rằng: "HĐVTS phát sinh hiệu lực kể từ thời
điểm mà ý chí của các bên giao kết được ghi nhận theo hình thức do luật quy định
(bằng lời nói hoặc bằng văn bản), nếu không có thoả thuận khác hoặc pháp luật
không có quy định khác". Và "vay tài sản trong Luật dân sự Việt Nam không phải là
một hợp đồng thực tế. Do đó người cho vay có nghĩa vụ giao tài sản cho người vay
và người vay có nghĩa vụ nhận tài sản vay dù Luật không nói rõ"2. Tiến sĩ Nguyễn
Ngọc Điện đã khẳng định HĐVTS là một hợp đồng ưng thuận và lý giải rằng quyền
lợi và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi thoả thuận giao kết hợp đồng
xong. Từ thời điểm này, nếu bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tài sản thì
bên vay có quyền kiện dưới góc độ là vi phạm nghĩa vụ được cam kết trong
HĐVTS. Do vậy, HĐVTS là hợp đồng ưng thuận.
2
Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP.
Hồ Chí Minh, tr. 235.
9
Tuy nhiên, việc coi HĐVTS là hợp đồng thực tế lại được thừa nhận từ lâu
trong pháp luật La Mã và pháp luật dân sự của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan… Trong
luật của Pháp, hợp đồng được giao kết bằng cách chuyển giao tài sản từ người cho
vay sang người vay. Cho đến khi chuyển giao tài sản, các thoả thuận đạt được giữa
hai bên về việc cho vay chỉ mang tính chất của một “lời hứa” cho vay.
Theo tác giả, HĐVTS có thể chia làm hai trường hợp:
+ Hợp đồng vay là hợp đồng thực tế: đây là những trường hợp phát sinh hiệu
lực hợp đồng khi có sự kiện chuyển giao tài sản vay. Hình thức của hợp đồng
thường bằng lời nói: bên cho vay chuyển giao tài sản vay ngay sau khi bên vay hỏi
không cùng lúc mà nghĩa vụ của bên vay phát sinh sau một khoảng thời gian. Nhìn
chung, việc xác định HĐVTS là đơn vụ hay song vụ phụ thuộc vào việc xác định
HĐVTS là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực tế.
Nếu HĐVTS là hợp đồng thực tế thì thời điểm có hiệu lực của HĐVTS được
xác định là thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay. Từ thời điểm
này trở đi, người cho vay có quyền yêu cầu người vay sử dụng tài sản vay đúng mục
đích (nếu có thoả thuận), có quyền yêu cầu người vay hoàn trả lại tài sản đã vay
cùng loại, theo đúng số lượng, chất lượng và một khoản lãi (nếu có) khi đến hạn,
còn người vay không có quyền gì đối với người cho vay. Chính vì vậy, HĐVTS
được xem là hợp đồng đơn vụ.
Nếu HĐVTS là hợp đồng ưng thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
là thời điểm các bên thỏa thuận xong về các điều khoản cơ bản của hợp đồng. Theo
đó, bên vay có quyền yêu cầu bên cho vay chuyển giao tài sản vay cho mình theo
đúng chất lượng, số lượng và thời gian, địa điểm như đã thỏa thuận, nếu không thực
hiện đúng, bên cho vay hoàn toàn có thể bị khởi kiện. Ngược lại, quyền yêu cầu bên
vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho mình của bên cho vay là quyền đương nhiên
không phải cãi. Do vậy, khi HĐVTS là hợp đồng ưng thuận thì cả bên vay và bên
cho vay đều có quyền và nghĩa vụ, đặc biệt là quyền của bên vay lại là nghĩa vụ của
bên cho vay và ngược lại. Vì thế, HĐVTS là hợp đồng song vụ. Tác giả đồng ý với
quan điểm này vì tác giả cho rằng HĐVTS là hợp đồng ưng thuận.
- Thứ ba, HĐVTS là hợp đồng có tính đền bù hoặc không có tính đền bù
HĐVTS là hợp đồng có tính đền bù khi mà một bên sau khi đã thực hiện cho
bên kia một lợi ích sẽ nhận lại một lợi ích tương ứng. HĐVTS có tính đền bù được
áp dụng bắt buộc trong hoạt động tín dụng. Các tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay
tiền đều có quy định lãi suất. Hoặc trong trường hợp bên này cho bên kia vay và có
thỏa thuận là vay có lãi thì tới thời hạn trả nợ, bên vay không những phải trả nợ gốc
mà còn phải trả số tiền lãi mà các bên đã thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy
định của pháp luật.
HĐVTS là hợp đồng không có tính đền bù là trường hợp cho vay không có
lãi. Khi đến hạn trả nợ, bên vay chỉ có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ một lượng tài sản
của tiền tệ theo thời gian. Vì vậy, lãi được coi là một trong những vấn đề được quan
tâm nhất của các bên trong các HĐVTS và được pháp luật quy định cụ thể.
Khi xây dựng các quy định của BLDS nói chung và nhóm các quy định về
HĐVTS nói riêng, BLDS 2015 chỉ quy định về việc trả “lãi” của bên vay cho bên
cho vay khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định mà không đưa ra khái
niệm về “lãi”. Có lẽ, các nhà làm luật cho rằng “lãi” là một trong những thuật ngữ
thông dụng, dễ hiểu nên đã sử dụng trong bản “Hiến pháp luật tư” (văn bản có giá
trị pháp lý chung nhất, cao nhất điều chỉnh các mối quan hệ có tính chất tư) mà
12
không cần sự giải thích. Tuy nhiên, không khó để tìm ra khái niệm lãi trong khoa
học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng và nội hàm của khái niệm lãi dưới các
góc độ khác nhau cũng không khác nhau nhiều về bản chất. Cụ thể:
Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng do tác giả Phạm Lê Liên chủ biên mới
được Nhà xuất bản Hồng Đức cho xuất bản năm 2016 đã giải thích: “Lãi là thu
vượt chi sau một quá trình kinh doanh hay sản suất nào đó”. Như vậy, tác giả Phạm
Lê Liên đã tiếp cận lãi dưới góc độ hoạt động kinh doanh mà không phải dưới góc
độ hợp đồng vay tài sản. Ví dụ: Mua một sản phẩm 1 triệu, bán lại được 1,5 triệu thì
số tiền 500 000 được coi là tiền lãi.
Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý: “Lãi là phần giá trị lớn
hơn, thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ so với giá thành và chi phí
tiêu thụ sản phẩm”. Lãi ở đây tương tự cách hiểu trong Từ điển tiếng Việt đều là lãi
kinh doanh chứ không phải lãi vay.
Còn theo quy định tại Điều 2 Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu,
trả lãi của NHNN Việt Nam và các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số
652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Thống đốc NHNN thì: “Lãi là khoản tiền
bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền
hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi
cho người sở hữu vốn.
Theo Từ điển Luật học thì: “Lãi suất là tỉ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư
để xác định lãi của người đầu tư.”. Lãi suất chính là tỉ lệ khoản tiền hoặc lơi ích vật
chất khác mà bên vay trả thêm ngoài số tiền hoặc vật chất đã vay để có thể sử dụng
tài sản vay của bên cho vay. Đây có thể xem là sự tăng trưởng tự nhiên của tài sản.
Nó chính là “giá cả” trong HĐVTS có đền bù hay có lấy lãi. Căn cứ vào lãi suất số
tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định. Số tiền này tỉ lệ
thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay.
- Dưới góc độ kinh tế: Nhà kinh tế Marshall (1890) trong tác phẩm
“Principles of Economis” (Những nguyên lí kinh tế học) đã viết: “Lãi suất chỉ giá
phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trường bất kì…”, trích trong tài liệu:
“Ngô Lan Anh (2012), Lãi trong hợp đồng vay tài sản, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Ngoài ra, còn có có thể hiểu: “Lãi suất còn
gọi là tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời
gian (ngày, tuần, tháng, quý năm…) với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời
gian đó” (Trong tác phẩm Tư bản, tập thứ 3, phần 1 của Các Mác có đề cập: “Có
thể định nghĩa tỉ suất lợi tức là một số tiền tính theo tỉ lệ mà người cho vay vui lòng
nhận và người đi vay trả về việc sử dụng một số tư bản tiền tệ nhất định trong một
năm hay trong bất cứ một khoảng thời gian nào khác dài hơn hoặc ngắn hơn”).4
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật La Mã, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 130.
4
Lê Văn Tư (2004), Tiền tệ, Ngân hàng, thị trường tài chính, Nxb. Tài chính, Hà Nội, tr. 407.
14
hạn nhất định, do đó, phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn
vay. Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở để
tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn
15
trong hợp đồng vay thì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả
thuận hoặc do pháp luật quy định.
- Thứ hai, lãi suất là điều khoản tùy nghi trong HĐVTS
Điều khoản tùy nghi là điều khoản do các bên tự thỏa thuận. Điều khoản tùy
nghi là điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản
mà pháp luật đã quy định trước. Khi tiến hành giao kết hợp đồng các bên còn có thể
thoả thuận để cụ thể thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp
đồng được đầy đủ, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình
thực hiện hợp đồng. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa
chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi
mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia. Trong giao dịch dân sự, yếu tố
thỏa thuận giữa các bên luôn được tôn trọng. Khi giao kết HĐVTS, dù có kỳ hạn
hay không có kỳ hạn, bên cho vay đều có quyền yêu cầu bên vay phải trả lãi theo
mức lãi suất nhất định, hoặc không tính lãi.
- Thứ ba, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh do
thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc
Bản chất của lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho
vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định. Do đó, sẽ không thể có tỉ
lệ đó nếu như không tồn tại số tài sản vay gốc mà các bên thoả thuận được trong
HĐVTS.
- Thứ tư, lãi suất được tính dựa trên thời hạn vay, còn đối với các hợp đồng
vay mà các bên không thỏa thuận về lãi thì hợp đồng này được xác định là hợp
đồng vay không lãi
- Lãi suất do luật định: Đây là loại lãi suất được pháp luật ấn định theo lãi
suất cơ bản (LSCB), lãi suất sàn huy động vốn, lãi suất trần cấp tín dụng hay lãi
suất trên nợ gốc. Loại lãi suất này được áp dụng khi: (i) Các bên không có thỏa
thuận cụ thể về lãi suất và có tranh chấp về lãi suất; (ii) Các bên có thỏa thuận về lãi
suất nhưng sự thỏa thuận bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần do trái quy định của
pháp luật; (iii) Lãi suất hoàn toàn theo ý chí của Nhà nước trong một số trường hợp
đặc biệt.
- Lãi suất theo quyết định của Tòa án: Trong một số trường hợp, Tòa án vận
dụng linh hoạt pháp luật, căn cứ vào quy định của pháp luật, căn cứ vào hoàn cảnh
cụ thể của các bên tranh chấp, căn cứ vào bối cảnh kinh tế - xã hội, căn cứ vào công
lý, lẽ công bằng mà Tòa án có thể ấn định mức lãi suất cho từng vụ việc cụ thể để
dung hòa lãi suất theo thỏa thuận và lãi suất theo luật định.
Đặc biệt, loại lãi suất này hoàn toàn có thể xuất hiện khi BLDS 2015 quy
định về thực hiện hợp đồng khi “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” tại Điều 420 BLDS
5
http://www.bidv.com.vn/Tra-cuu-lai-suat.aspx.
17
2015. Chẳng hạn, khi Công ty A vay tín dụng của Ngân hàng B để kinh doanh.
Công ty A đang làm ăn rất phát đạt thì bị pháp luật của nước C áp dụng “phá giá”
đối với hàng hóa của Công ty A xuất khẩu sang C. Đây là điều các bên không thể
dự liệu trước khiến A mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng B. Rõ ràng, đây là
trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản thỏa mãn quy định tại Khoản 1 Điều 420
BLDS 2015 và nếu đương sự có yêu cầu, Tòa án có quyền can thiệp vào HĐTD của
A và B để giải quyết vấn đề của cả hai bên, chẳng hạn Tòa án hoàn toàn có thể can
thiệp vào điều khoản lãi suất trong hợp đồng.
1.2.3.2. Phân loại theo tình trạng pháp lý của việc áp dụng lãi suất
hàng mình (Mỹ, Anh, Úc) và đó là mức lãi suất được áp dụng cho các Ngân hàng có
mức rủi ro thấp nhất; hoặc căn cứ vào mức LSCB của một số Ngân hàng đứng đầu,
của các Ngân hàng khác… cộng, trừ (±) biên độ dao động theo một tỷ lệ phần trăm
(%) nhất định để hình thành LSCB của mình (Malaysia). Một số nước lại sử dụng
lãi suất liên Ngân hàng làm LSCB (Singapore, Pháp) vì thực chất LSCB của các
Ngân hàng rất gần với mức lãi suất thị trường liên Ngân hàng, nếu không như vậy,
hoạt động Arbitrage (buôn chứng khoán) về lãi suất sẽ diễn ra. Mặc dù khác nhau,
nhưng LSCB của hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là
mức lãi suất tối thiểu để bù đắp được chi phí và có một mức lợi nhuận bình quân
cho phép.
Ở Việt Nam, Luật NHNN số 06/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy
định: “LSCB là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất
kinh doanh.”. Hiện nay, mặc dù Luật NHNN không định nghĩa về LSCB nữa nhưng
vẫn liệt kê: “1. NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, LSCB và các loại lãi suất khác
để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.” (Khoản 1 Điều 12 Luật
NHNN năm 2010). Như vậy, LSCB được xác định dựa trên cơ sở tham khảo lãi
suất cho vay thương mại tốt nhất của một nhóm Ngân hàng (chiếm phần lớn thị
phần tín dụng) do thống đốc NHNN quy định. LSCB hiện hành được ghi nhận tại
Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN năm 2010 về mức LSCB bằng đồng Việt Nam
do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2010 là 9%/năm
(0,75%./tháng).
Mặc dù LSCB là một loại lãi suất trong tín dụng Ngân hàng do Thống đốc
NHNN Việt Nam ban hành, nhưng với tính chất “cơ bản” của nó thì loại lãi suất
này còn được vận dụng ngay trong các HĐVTS thuần túy dân sự giữa các cá nhân,
pháp nhân với nhau và là một trong những loại lãi suất được ghi nhận và áp dụng
phổ biến trong quy định của pháp luật dân sự, quy định về HĐVTS trong một thời
gian dài có hiệu lực của BLDS 2005.
- Lãi suất kinh doanh: Là lãi suất trong các hoạt động ngân hàng của TCTD
như huy động vốn, cấp tính dụng, chẳng hạn: Lãi suất tiền gửi (lãi suất huy động
vốn), Lãi suất tiền vay (lãi suất cấp tín dụng), Lãi suất chiết khấu; Lãi suất tái chiết
tranh chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng vay nợ trong xã hội.
6
Dương Thu Phương (2009), Lãi suất trong hợp đồng vay tiền và tác động của nó tới nền kinh tế hiện nay,
Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15.