Truất quyền hưởng di sản thừa kế một số vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ QUANG THẮNG

ĐỀ TÀI
TRUẤT QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THỪA KẾ,
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ QUANG THẮNG
ĐỀ TÀI
TRUẤT QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THỪA KẾ,
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số:


BLDS 2005

Bộ luật dân sự năm 2005

BLDS 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

LHN&GĐ

Luật Hôn nhân và Gia đình

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

UBTVQH

Ủy ban thường vụ Quốc hội


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................................ 2
4. Mục tiêu nghiên cứu đề tài ............................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài ....................................................................... 3
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của luận văn................................ 3

2.3.2. Giới hạn của việc truất quyền ................................................................... 48
2.4. Hậu quả pháp lý của truất quyền hưởng di sản thừa kế ......................... 52
2.4.1. Không được hưởng di sản của người đã truất......................................... 53
2.4.2. Con của người bị truất không được thế vị người đó để hưởng di sản
của người đã truất. ............................................................................................... 54
Chương 3: BẤT CẬP VÀ HOÀN THIỆN BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRUẤT QUYỀN HƯỞNG DI SẢN... 57
3.1. Một số bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về truất quyền
hưởng di sản. ........................................................................................................ 57
3.1.1. Về việc đồng ý cho lập di chúc .................................................................. 57
3.1.2. Về việc truất quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc ............................................................................................................ 59
3.1.3. Về thời điểm xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc ............................................................................................................ 62
3.1.4. Về hiệu lực của truất quyền....................................................................... 63
3.1.5. Về hậu quả của việc truất quyền hưởng di sản ....................................... 64
3.2. Hướng hoàn thiện pháp luật về truất quyền hưởng di sản ..................... 64


3.2.1. Cần xác định việc truất quyền theo bản chất “dòng chảy xuôi” của
thừa kế ................................................................................................................... 64
3.2.2. Cần ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn cụ thể về việc truất
quyền khi những bất cập chưa được sửa đổi, bổ sung ...................................... 66
3.3. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật Việt Nam liên quan
đến truất quyền hưởng di sản ............................................................................ 67
3.3.1. Sửa đổi Điều 630 BLDS 2015.................................................................... 67
3.3.2. Xác định lại phạm vi những người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc ................................................................................................... 68
3.3.3. Xác định thời điểm được coi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc ................................................................................................... 69

phụ thuộc vào nội dung của di chúc không? Hiệu lực của truất quyền được
xác định như thế nào? Việc truất quyền có hậu quả pháp lý như thế nào? là
những câu hỏi luôn được đặt ra và có nhiều tranh cãi.
Với mong muốn làm rõ những câu hỏi liên quan đến truất quyền hưởng
di sản, tôi chọn đề tài: “Truất quyền hưởng di sản thừa kế - Một số vấn đề lý


2

luận và thực trạng pháp luật” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học. Cũng
với lý do trên, tôi thấy việc nghiên cứu đề tài này mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế đã được nghiên cứu nhiều với các cấp độ, công trình khác nhau,
đã có nhiều cuốn sách nghiên cứu về thừa kế như: Pháp luật về thừa kế và
thực tiễn giải quyết tranh chấp của Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang, Một
số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam của Nguyễn Ngọc Điện,
Pháp luật về thừa kế của Việt nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
Nguyễn Minh Tuấn, Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng
của Phạm Văn Tuyết, Luật Thừa kế Việt Nam của Phùng Trung Tập nhưng là
những công trình nghiên cứu chung về thừa kế và hầu như không có mục
riêng để nghiên cứu về truất quyền hưởng di sản. Một số công trình nghiên
cứu ở cấp luận văn nghiên cứu về vấn đề riêng nhưng chưa có một công trình
nào nghiên cứu riêng về truất quyền hưởng di sản. Về bài viết đăng tạp chí,
tác giả Phạm Văn Tuyết có bài: Cần hiểu đúng bản chất của truất quyền
hưởng di sản.
Có thể khẳng định rằng cho đến thời điểm luận văn này được thực hiện
và hoàn thành, chưa có bất kỳ công trình khoa học nào nghiên cứu về truất
quyền hưởng di sản một cách hệ thống và đầy đủ. Vì thế, luận văn là một
công trình hoàn toàn độc lập và phù hợp với mã ngành Dân sự và Tố tụng dân
sự.

không được quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật với không được
hưởng di sản theo di chúc.
- Xác định rõ về hiệu lực của truất quyền; hậu quả của việc truất quyền.
7. Kết cấu của luận văn


4

Với phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu đã được xác định trước,
ngoài mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu theo ba chương với các mục sau:
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUẤT QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
THỪA KẾ
1.1. Khái niệm về truất quyền hưởng di sản
1.2. Cơ sở lý luận của truất quyền hưởng di sản thừa kế
1.3. Cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc truất quyền
1.4. Người bị truất quyền hưởng di sản là một trong các trường hợp
không được quyền hưởng di sản
1.5. Phân biệt người bị truất quyền hưởng di sản với người không được
hưởng di sản theo di chúc.
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRUẤT QUYỀN
HƯỞNG DI SẢN
2.1. Người truất quyền hưởng di sản và hiệu lực của truất quyền
2.2. Người bị truất quyền hưởng di sản
2.3. Quyền và giới hạn của việc truất quyền hưởng di sản
2.4. Hậu quả pháp lý của truất quyền hưởng di sản thừa kế
Chương 3
BẤT CẬP VÀ HOÀN THIỆN BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRUẤT QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

quyết định cho người con thứ hai hưởng toàn bộ di sản. Người để lại di sản
chỉ truất quyền hưởng di sản của người thừa kế vì một lý do tế nhị nào đó (về
mặt tình cảm), và cũng vì lý do truất quyền hưởng di sản là tế nhị nên luật

1

Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (1998),– Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh Hóa, Tr 1261.


6

không bắt buộc người truất quyền hưởng di sản thừa kế phải nêu lý do. Tuy
nhiên, người thừa kế theo luật chỉ bị coi là đã bị truất quyền hưởng di sản (bị
phế truất tư cách người thừa kế) nếu họ đã bị người để lại di sản tuyên bố
“truất” quyền hưởng di sản.
Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam quy định về truất quyền hưởng di sản
chỉ ở góc độ là xác định về quyền của người lập di chúc. Trong phần IV –
Thừa kế theo di chúc, Thông tư 81-TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án
nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (từ đây xin
được gọi tắt là Thông tư 81) chỉ quy định: “Người lập di chúc phải dành lại
một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc (nếu có). Những người
thừa kế bắt buộc gồm: vợ góa, chồng góa, con chưa thành niên hoặc tuy đã
thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu.
Phần di sản dành lại cho những người thừa kế bắt buộc, ít nhất là 2/3 của
mỗi suất thừa kế theo luật. Nếu di chúc truất quyền truất quyền thừa kế của
người thừa kế bắt buộc hoặc phần dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít
hơn 2/3 suất thì phải chia cho đủ 2/3.”. Tại Điều 11 thuộc Chương 2 – Thừa
kế theo di chúc trong Pháp lệnh về thừa kế ngày 30/8/1990 chỉ quy định:
“Truất quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật
mà không nhất thiết phải nêu lý do.” Tiếp theo đó, các Bộ luật dân sự Việt

1.2. Cơ sở lý luận của truất quyền hưởng di sản thừa kế
Từ khái niệm về truất quyền hưởng di sản được xác định ở phần trước, ta
thấy rằng, truất quyền thừa kế dựa trên các cơ sở lý luận sau đây:
1.2.1. Tôn trọng ý chí đơn phương của người để lại di sản
Truất quyền hưởng di sản thừa kế bao giờ cũng được thể hiện trong di
chúc mà người chết để lại, trong khi, việc lập di chúc là một hành vi pháp lý
đơn phương. Di chúc phải được thừa nhận và thực hiện nếu di chúc đó đã đáp
ứng đầy đủ các điều kiện để được coi là hợp pháp theo quy định của pháp
luật. Theo đó truất quyền hưởng di sản cũng phải được thực hiện theo ý chí


8

của người lập di chúc mà không phụ thuộc vào ý chí của người thừa kế bị
truất quyền. Khi một người chết thì quan hệ thừa kế giữa họ (người để lại di
sản) với những người thừa kế theo pháp luật của họ đương nhiên sẽ hình
thành nếu như người để lại di sản không tuyên bố truất quyền hưởng di sản và
trong trường hợp này, người thừa kế có quyền lựa chọn nhận hay từ chối nhận
di sản. Ngay cả khi, người thừa kế là người hưởng di sản theo di chúc (người
thừa kế theo di chúc) thì ý chí của họ về việc quyết định nhận hay không nhận
di sản vẫn được pháp luật tôn trọng: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di
sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài
sản của mình đối với người khác. Việc từ chối nhận di sản phải được lập
thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác,
người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Việc từ chối nhận di sản
phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”2 nhưng một khi người
để lại di sản tuyên bố truất quyền hưởng di sản của một người thừa kế nào đó
thì ý chí đơn phương này được tôn trọng tuyệt đối, trừ khi luật có quy định
khác.
1.2.2. Tôn trong tự do ý chí của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài

Với thuyết này, pháp luật ghi nhận cho các chủ thể được bằng ý chí của
mình thực hiện các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình, đặc biệt là
quyền định đoạt tài sản. Việc lập di chúc để định đoạt tài sản (di sản) cho ai
sau khi mình chết, không cho ai hưởng di sản, truất quyền hưởng di sản của ai
đó là quyền của người lập di chúc được hình thành trên cơ sở tôn trọng quyền
định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, cũng từ thuyết này thì quyền tự
lựa chọn, định đoạt của người để lại di sản (trong đó có quyền truất quyền
hưởng di sản của người thừa kế) sẽ bị hạn chế nếu việc thực hiện quyền đó lại
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế.
1.3. Cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc truất quyền hưởng di sản
thừa kế

3

Phạm Văn Tuyết (2007), Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, NXB Chính trị Quốc gia,
Tr 5.


10

Bộ luật dân sự Việt Nam quy định truất quyền hưởng di sản thừa kế là
một trong các quyền của người lập di chúc. (BLDS 1995 quy định trong Điều
651 về quyền của người lập di chúc: “Chỉ định người thừa kế; truất quyền
hưởng di sản của người thừa kế”. Quy định này được giữ nguyên trong Điều
648, BLDS 2005 và Điều 626, BLDS 2015). Theo khoản 1, Điều 626 thì
người lập di chúc có quyền: “… truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”
nên được hiểu rằng: Quan hệ thừa kế được hình thành giữa người truất quyền
với người bị truất quyền là quan hệ thừa kế theo pháp luật. Nghĩa là người bị
truất quyền bao giờ cũng là người có một trong ba mối quan hệ với người
truất quyền, hoặc là quan hệ hôn nhân (vợ hoặc chồng của người truất quyền);

việc người để lại di sản truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Thực tế
đời sống cho thấy rằng, giữa những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống
hoặc nuôi dưỡng với nhau có thể phát sinh mâu thuẫn bởi nhiều lý do, trong
đó, có thể có những lý do hết sức tế nhị nên yếu tố tình cảm giữa họ không
còn. Để lại thừa kế theo di chúc giống với hợp đồng tặng cho ở chỗ được xác
lập trên cơ sở yếu tố tình cảm. Vì thế, khi không còn tình cảm, có thể người
để lại di sản sẽ phế truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, không cho
người thừa kế đó hưởng di sản của mình.
1.4. Người bị truất quyền hưởng di sản là một trong các trường hợp
không được quyền hưởng di sản
Các văn bản pháp luật về thừa kế của nhà nước ta từ trước đến nay (bao
gồm các thông tư, pháp lệnh và các bộ luật dân sự) đều chỉ quy định về người
không được quyền hưởng di sản và người bị truất quyền hưởng di sản. Cho
đến Bộ luật dân sự hiện hành (BLDS 2015) khi quy định về các trường hợp
do người thừa kế có những hành vi trái pháp luật, đạo đức xã hội nên bị tước
bỏ quyền hưởng di sản vẫn sử dụng cụm từ: “Người không được quyền hưởng
di sản” (Điều 621).
Tôi cho rằng, về mặt lý luận thì người không được quyền hưởng di sản
không chỉ là những người thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 1


12

của điều luật trên. Có thể nói rằng, người thừa kế không thuộc các trường hợp
quy định tại khoản 1 của điều 621 của Bộ luật dân sự hiện hành vẫn có thể là
người không được quyền hưởng di sản nếu họ đã bị người để lại di sản truất
quyền hưởng di sản. Vì thế, nếu dùng cụm từ trên để đặt tên cho Điều 621,
đồng thời Bộ luật lại không quy định về hậu quả pháp lý của việc truất quyền
sẽ dễ bị hiểu rằng chỉ những người trong trường hợp quy định tại khoản 1 của
điều này mới không được quyền hưởng di sản. Mặt khác, người không được

những người đáng lẽ được hưởng di sản vì họ là người thừa kế theo pháp luật
của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng di sản
theo di chúc nhưng người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị
tước đi quyền hưởng di sản theo pháp luật cũng như theo di chúc.
Người bị tước quyền hưởng di sản bao gồm những trường hợp sau đây:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ
hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
Căn cứ pháp lý để tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế khi
họ có những hành vi nói trên là bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật bởi dù
người thừa kế có hành vi nói trên nhưng không bị kết án thì họ vẫn được
hưởng di sản hoặc đã bị kết án nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì
cũng chưa có căn cứ để tước bỏ quyền hưởng di sản của họ. Một bản án chỉ
được thi hành khi đã có hiệu lực pháp luật bởi nó có thể bị sai sót và có thể bị
một cấp xét xử khác sửa đổi hoặc huỷ bỏ.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam đã xác định nghĩa vụ chăm sóc,
nuôi dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Vì vậy, người thừa
kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản nếu
họ là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản theo quy định của
Luật Hôn nhân và Gia đình nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó.


14

Theo quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2014 thì
người thừa kế được xác định là người có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại
thừa kế trong những trường hợp sau đây:
+ Người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ:
Tại khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã quy định: "Con

lại không thực hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản
theo di chúc của người cháu.
Những người được xác định là có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di
sản đã liệt kê trên đây chỉ không được quyền hưởng di sản thừa kế khi sự vi
phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng bị coi là nghiêm trọng. Toà án có thể tước bỏ
quyền hưởng di sản của người thừa kế đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi
dưỡng người để lại thừa kế dù hành vi đó không bị kết án. Vì thế, chính Toà
án giải quyết việc thừa kế là người có thẩm quyền xác định sự vi phạm nghĩa
vụ của người đó có nghiêm trọng hay không? BLDS không quy định cụ thể,
đồng thời cũng chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn để xác định như thế nào
thì bị coi là nghiêm trọng nhưng có thể thấy rằng, có những trường hợp người
thừa kế không nuôi dưỡng người để lại di sản làm cho người này lâm vào tình
trạng khổ sở và nguy hiểm đến tính mạng nhưng cũng không bị coi sự vi
phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng của họ là nghiêm trọng nếu bản thân họ quá khó
khăn, không có khả năng để nuôi dưỡng. Vì vậy, cần có văn bản pháp luật
hướng dẫn cụ thể để có sự thống nhất giữa các Toà án trong việc đánh giá tính
nghiêm trọng của sự vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng người thừa
kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó
có quyền hưởng.
Chỉ có thể tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế trong trường
hợp này khi hành vi “xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác” của họ là
hành vi cố ý và đã bị Toà án kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.


17

Trong trường hợp này, người thừa kế phạm tội chỉ bị tước quyền hưởng di sản
nếu hành vi phạm tội của họ chứa đựng động cơ là nhằm để hưởng phần di
sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng.

tên trong di chúc được lập do lừa dối thì Toà án chỉ cần tuyên bố di chúc vô
hiệu và di sản chia cho người thừa kế theo luật của người để lại di sản.
+ Hành vi cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di
chúc
Người thực hiện hành vi này nhằm tác động đến tâm lý, tinh thần của
người để lại di sản buộc họ phải lập một di chúc để định đoạt di sản trái với ý
nguyện đích thực của họ. Cũng giống với trường hợp trên, hành vi cưỡng ép
ngăn cản người để lại di sản cũng có thể do người thừa kế theo pháp luật hoặc
do người ngoài diện thừa kế theo pháp luật thực hiện. Vì vậy hậu quả pháp lý
cũng được xác định giống trường hợp trên.
+ Hành vi giả mạo di chúc
Di chúc giả mạo được hiểu là di chúc do người khác lập ra (không phải là
người để lại di sản) nhằm làm cho người khác tin rằng đó là di chúc do người
chết để lại và di sản được chia theo di chúc sẽ có lợi cho một hoặc một số người
nhất định trong việc hưởng di sản mà việc hưởng lợi này hoàn toàn trái với ý chí
của người đã để lại di sản. Trong trường hợp đã xác định là di chúc giả mạo thì
di sản sẽ được chia theo luật và nếu người giả mạo di chúc là người thừa kế theo
luật của người để lại di sản sẽ bị tước quyền hưởng di sản.
+ Hành vi sửa chữa di chúc của người để lại di sản
Do muốn được hưởng phần di sản nhiều hơn so với phần di sản mà
người lập di chúc đã định đoạt cho mình hoặc nhằm hưởng toàn bộ di sản của
người lập di chúc nên dù đã có tên trong di chúc nhưng người thừa kế đã sửa
chữa di chúc hoặc người không có tên trong di chúc sửa di chúc để mình được
hưởng di sản theo di chúc đó. Hành vi của những người này xâm phạm đến ý
chí tự nguyện của người lập di chúc và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status