MỤC LỤC
A. Lời mở đầu
Một người khi qua đời không thể mang theo được những tài sản mà họ
sở hữu lúc còn sống. Khi đó sẽ phát sinh sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu
của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người
thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật để có thể trở
thành chủ sở hữu của tài sản, đó chính là việc thừa kế di sản theo quan hệ pháp
luật dân sự. Theo nguyên tắc thì tài sản đó sẽ được chia cho những người được
hưởng thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống,
nuôi dưỡng với người để lại di sản hoặc những cá nhân, tổ chức theo ý chí mà
người để lại di sản mong muốn. Nhưng trên thực tế, căn cứ theo quy định của
pháp luật sẽ có nhiều người là người có thể được thừa kế nhưng không được
quyền hưởng di sản. Để có thêm những hiểu biết về vấn đề này, hiểu tại sao lại
có những người không được quyền hưởng di sản mặc dù ý chí của người chết
trong di chúc là muốn họ được hưởng di sản, những người thuộc diện thừa kế
theo pháp luật nhưng khi chia di sản thì họ cũng không được quyền hưởng di
sản, và trên thực tiễn việc áp dụng pháp luật về vấn đề này như thế nào em đã
tìm hiểu và xin trình bày một số những hiểu biết của mình về đề tài “Người
không được quyền hưởng di sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
I. Một số vấn đề chung về thừa kế.
1. Khái niệm thừa kế.
1
Thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội
nói chung và lịch sử nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và
phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản.
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài
sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có
quyền hưởng thừa kế; người trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di
chúc hoặc theo pháp luật. Cho dù tài sản do người chết để lại là của cá nhân hay
tổ chức được hưởng thừa kế…thì nó vẫn tồn tại chung cho xã hội, vì khi tài sản
này lại được sử dụng, khai thác hợp lý cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ
hoặc lập di chúc cho người khác hưởng tài sản của mình sau khi chết. Trường
hợp công dân có tài sản thuộc quyền sở hữu riêng, không lập di chúc sau khi
chết, tài sản này sẽ chia theo quy định của pháp luật.
Đối với pháp nhân, tổ chức được thành lập với những mục đích và
nhiệm vụ khác nhau. Tài sản của pháp nhân, tổ chức để duy trì các hoạt động của
chính mình. Không cá nhân nào có quyền định đoạt tài sản của pháp nhân, tổ
chức. Khi pháp nhân, tổ chức đình chỉ hoạt động của mình (giải thể, phá sản…).
Tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật. Pháp nhân, tổ chức tham
gia vào quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng di sản theo di chúc.
b. Người thừa kế
Người thừa kế là người được thừa hưởng di sản thừa kế theo di chúc
hoặc theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc do người lập di chúc chỉ định,
định đoạt nên có thể là bất kì ai, có thể là cá nhân hoặc tổ chức Nhà nước. Người
thừa kế theo pháp luật là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế do
pháp luật quy định. Những người này phải thuộc diện thừa kế và phải ở hàng
thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và
phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để
3
lại di sản. Những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết
để lại.
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước
khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ
quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Quyền của người thừa kế được quy định ở Điều 642 BLDS. Theo nguyên
tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo
pháp luật. Ngoài ra, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp
việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiên nghĩ vụ tài sản của mình với người
khác. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải
báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản.
người đó. Những người bị tòa án kết án về tội giết người theo Điều 93 BLHS, tội
cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS. Trường hợp này, lỗi của người phạm
tội là lỗi cố ý, nhằm mục đích tước đoạt sự sống hoặc sức khỏe của người để lại
di sản. Động cơ của người phạm tội và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành
hay chưa hoàn thành không ảnh hưởng đến nội dung của quy định trên.
Pháp luật luôn bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mọi công dân,
những công dân có các hành vi trái pháp luật thì tư cách chủ thể của cá nhân
trong một số quan hệ bị hạn chế hoặc đình chỉ theo luật định.
Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản đã
bị kết án về một trong số các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế di sản của
người đã bị ngược đãi hành hạ sau khi người đó chết. Hành vi ngược đãi là hành
vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ với người thân của mình trái với đạo đức luân lý, ở đây
được thể hiện bằng những hành động như chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói,
mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt thể xác cũng như tinh thần,
khiến danh dự bị xúc phạm, giày vò… Người phạm tội có thể là những người có
5
quan hệ lệ thuộc với người bị hành hạ. Những người bị hành hạ ngược đãi
thường là người bị lệ thuộc về vật chất hoặc họ không thể tự chăm lo cho bản
thân nên cần có người khác giúp đỡ trong những sinh hoạt hàng ngày. Hành vi
đối xử tàn ác có tính chất hành hạ gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần…
Một người có hành vi làm nhục danh dự của người để lại di sản thì không
có quyền nhận di sản thừa kế của người đó để lại
Điều đáng chú ý trong quy định này là căn cứ pháp lý để tước quyền
hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật khi họ có những hành vi kể
trên là một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ở đây, cần phải hiểu rằng, dù
người thừa kế có những hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hay có
những hành vi ngược đãi, hành hạ người để lại di sản… nhưng chưa bị kết án thì
họ vẫn được hưởng di sản.
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di
sản sản (căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 643 BLDS)
dưỡng con khi người con đó nằm trong tình trạng nói trên.
Thứ ba, người để lại thừa kế là anh, chị hoặc em của họ. Theo quy định
của pháp luật thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp
không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng,
chăm dóc giáo dục con . Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng của anh, chị, em đối với
người để lại thừa kế khi người này nằm trong trình trạng trên, đồng thời họ là
người chưa thành niên hoặc là người bị tàn tật nhưng không bị mất năng lực
hành vi.
Thứ tư, người để lại thừa kế là ông, bà của họ. Theo khoản 2 Điều 47
Luật Hôn nhân và gia đình đã xác định cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà.
Vì vậy, nếu người có quyền hưởng di sản là cháu mà không thực hiện nghĩa vụ
này sẽ không được quyền hưởng di sản mà ông bà để lại.
7
Thứ năm, người để lại thừa kế là cháu của họ. Ông bà nội, ngoại có nghĩa
vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháy chưa thành niên hoặc đã thành niên
nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi dưỡng mình, đồng thời cũng không có cha mẹ, anh,
chị, em có thể nuôi dưỡng được. Vì thế, nếu người để lại thừa kế là cháy nằm
trong tình trạng trên mà ông, bà là người hưởng thừa kế nhưng không thực hiện
nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản. Mặt khác, nếu
người cháu có đủ năng lực hành vi để lập di chúc và trong di chúc đó, ông bà
được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng sau đó người cháu lại lâm vào tình trạng
còn được nuôi dưỡng và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng lại không thực
hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc của
người cháu.
Thứ sáu, người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ. Vợ chồng có
nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả năng lao động và còn cấp
dưỡng cho nhau kể cả khi đã ly hôn mà bên kia yêu cầu được Tòa án thừa nhận.
Trong trường hợp vợ (hoặc chồng) đau ốm, tàn tật không thể lao động để tự nuôi
mình mà chết thì chồng (hoặc vợ) sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo pháp