Giải pháp giúp học sinh lớp 2A Viết đúng chính tả
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Tên đề tài: Giải pháp giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học
….“Viết đúng chính tả”.
- Tên tác giả:
- Đơn vị công tác:.
1. Lý do chọn đề tài:
- Nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng nhu cầu mà
ngành và xã hội đề ra. Viết đúng chính tả là yêu cầu cần thiết nhất trong tất cả các
môn học nói chung, phân môn chính tả nói riêng. Vì viết đúng chính tả giúp người
đọc hiểu được ý tác giả cần muốn diễn đạt điều gì đó.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
+ Đối tượng: Học sinh lớp 2A trường Tiểu học.
+ Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu tài liệu sách báo có liên
quan đến vấn đề rèn chữ cho học sinh Tiểu học.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thâm nhập số liệu.
- Phương pháp thống kê.- Trao đổi, tìm hiểu qua các đồng nghiệp.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới: Học sinh biết phân biệt được các âm vần, dấu
thanh dễ lẫn trong khi viết chữ. Giúp các em viết đúng và đẹp, trình bày bài viết
sạch sẽ hơn. Qua đó tạo cảm giác nhẹ nhàng trong tiết học, sự quan tâm động viên
khích lệ tinh thần học tập của học sinh. Học sinh hứng thú trong học tập đạt hiệu
quả cao hơn.
4. Hiệu quả áp dụng: Giải quyết được các khuấc mắc, các mâu thuẫn trong dạy
và học. Thực hiện đúng theo chỉ đạo của ngành, phù hợp với mục tiêu, quan điểm
của Đảng, phương châm giáo dục của ngành. Học sinh học tập ngày một tiến bộ
( như bảng thống kê)
sinh lớp 2 các em bắt đầu làm quen với việc hình thành ngôn bản: Câu văn; đoạn
văn. Do đó đòi hỏi chữ viết của các em phải đẹp, chính xác thì mới phản ánh đúng
nguồn thông tin cần muốn nói. Hay nói cách khác chính là sự trình bày lại một bài
làm viết đúng đẹp. Vì vậy rèn luyện cho Học sinh viết đúng chính tả là một điều
hết sức thiết thực. Nó là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh học tốt hơn ở các lớp sau
này.
Thực tế hiện nay tình trạng học sinh viết chữ xấu, sai lỗi chính tả chiếm một
tỉ lệ không nhỏ ở bậc Tiểu học. Thực trạng này sẽ dẫn đến chữ viết của học sinh
ngày càng sai lệch so với yêu cầu đặt ra cho môn chính tả ở Tiểu học. Đây là vấn
đề được các nhà Giáo dục quan tâm. Cụ thể trong lớp 2 tôi đang giảng dạy có
những em học sinh viết sai cả 10 lỗi trong một bài chính tả khoảng 35 chữ. Vã lại
trong bài viết Tập làm văn tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài
viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập
của học sinh ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Các em hạn chế khả
năng giao tiếp, Mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.
Một lí do quan trọng nữa khiến tôi chọn đề tài là học sinh của tôi ngoài viết
sai lỗi chính tả thì chữ viết còn xấu, trình bày bẩn, cẩu thả.
Làm thế nào để giúp học sinh Tiểu học viết đúng chính tả là trăn trở, suy nghĩ của
người Giáo viên. Ý thức được điều đó tôi tập trung nghiên cứu của đề tài” Biện
pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2”
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 2A tôi đang trực tiếp giảng dạy thuộc trường Tiểu học Thạnh
Sơn.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Người thực hiện:
2
- Học sinh ở huyện Tân Biên cụ thể là học sinh lớp tôi có một số em nói và
viết theo ngôn ngữ địa phương, thường các em nói sao, viết vây.
Ví dụ: Đi về viết thành đi dề.
- Sai và nhầm lẫn giữa những chữ có âm đầu, vần, âm cuối, thanh điệu. Ví
dụ: ngôi sao – ngôi xao; con thuyền – con thiền; …
- Viết thiếu nét, chiều cao, khoảng cách không đúng quy định. Các em chưa
có ý thức rèn chữ viết, còn xem nhẹ môn học này.
3. Thực trạng:
Tổng số học sinh: 38 / 18
Qua thực tế giảng dạy, tiếp xúc, khảo sát học sinh, đa số các em còn hạn chế
về chữ viết. Bài viết còn mắc nhiều lỗi chính tả, trình bày chữ chưa sạch, đẹp. Vì
vậy kết quả bài làm của các em có phần hạn chế, không đạt điểm tối đa.
Qua khảo sát đầu năm, thống kê như sau:
Giai
đoạn
Điểm
Người thực hiện:
Trung bình trở
lên
3
Giải pháp giúp học sinh lớp 2A Viết đúng chính tả
9 - 10
SL TL%
44.7
39.5
4. Nội dung vấn đề:
4.1. Qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu tôi đã thống kê được một số
các loại lỗi mà học sinh thường mắc phải như sau:
a) Về thanh điệu:
Trong Tiếng Việt có 6 thanh điệu( Ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã nặng) Riêng 2
thanh điệu là hỏi / ngã học sinh chưa phân biệt được.
Ví dụ: củ khoai – viết cũ khoai; hướng dẫn – viết hướng dẩn
b) Về âm đầu:
Học sinh còn lẫn lộn giữa các âm sau:
- c / k: Ví dụ: gói kẹo – viết gói cẹo;…
- g / gh: Ví dụ: ghê sợ – viết gê sơ;…
- ng / ngh: Ví dụ: nghỉ ngơi – viết ngỉ ngơi;…
* Học sinh cần phân biệt đúng luật chính tả:
+ k/ gh/ ngh đứng trước các nguyên âm i; e; ê
+ c/ g/ ng đứng trước các nguyên âm còn lại: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.
- s / x: ngôi sao – viết ngôi xao;…
- v/ d/ gi: Ví dụ: dải lụa – viết giải lụa; đi về – viết đi dề;…
- g/ r: Ví dụ: cái rổ – viết cái gỗ.
c) Về âm chính:
Hs thường hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau:
- Ai/ ay/ ây: Ví dụ: Bàn tay- bàn tai; đi cày – đi cầy; …
- ao/ au/ âu: Ví dụ: Hôm sau – hôm sao; màu đỏ – mầu đỏ; …
- iu/ êu/ iêu: Ví dụ: chiều chuộng – chìu chuộng; liêm khiết – lim khiết; …
k, qu)… Dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng nhưng đối với học
sinh Tiểu học( nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
c) Về âm chính:
Có hai nguyên âm gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
+ Nguyên âm thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ.
+ Nguyên âm thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn của tiếng địa phương.
d) Về âm cuối:
Do học sinh ảnh hưởng quá nhiều của tiếng địa phương nên khi các em phát
âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối: n/ ng/ nh và t/ c/ ch. Mà số từ
mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối / i, u / lại được ghi bằng 4
con chữ i/ y( trong lai/ lây), u/ o( trong sau/ sao). Do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó
khắc phục đối với những em bị ảnh hưởng nhiều của tiếng địa phương.
4.3: Một số biện pháp khắc phục lỗi cho học sinh:
* ) Đối với Giáo viên:
Thấm nhuần câu nói “ Người thầy là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”
nên tôi xác định yếu tố quan trọng nhất là chữ viết và cách trình bày của giáo viên
cũng hết sức mẩu mực. Giáo viên phải có tập vở rèn chữ viết làm tập vở mẫu.
Khi viết trên bảng giáo viên phải viết đẹp, chính xác, đúng mẫu chữ. Bởi lẽ
đối với học sinh Tiểu học, người giáo viên là thần tượng, là những gì tốt đẹp nhất.
Mọi hành động, việc làm của giáo viên cần chuẩn mực, chính xác, luôn rèn cho
học sinh tính cẩn thận, có ý thức rèn chữ viết. Mỗi chữ viết của giáo viên trên bảng
đều là một công cụ trực quan để giáo dục học sinh viết chữ đẹp, đúng chính tả.
- Giáo viên cần có những hiểu biết đầy đủ về mẫu chữ viết, nắm vững một
số quy định về dạy viết chữ ở trường tiểu học. Từ đó tìm hiểu về nội dung và
phương pháp dạy tập viết, chính tả theo hướng dạy tích cực.
- Ngay tư đầu năm học giáo viên khảo sát, phân loại đối tượng học sinh. Từ
đó có những biện pháp rèn viết phù hợp.
- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng,
so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh
ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “ muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo
viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Muống = m + uông + thanh sắc.
- Muốn = m + uốn + thanh sắc.
So sánh để thấy sự khác nhau. Tiếng “muống” có âm cuối là “ ng”, tiếng muốn có
âm cuối là “n”. Học sinh biết và khi viết sẽ không viết sai. Hơn nữa nghĩa của từ
“muốn” là muốn hay không muốn làm một cái gì đó.
a.3. Giải nghĩa từ:
- Đây là biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải
nghĩa từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết luyện từ và câu, tập
đọc, tập làm văn… Nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả, khi
mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo
tiếng.
- Có nhiều cách dể giải nghĩa từ cho học sinh. Giáo viên có thể cho học sinh
đọc chú giải, đặt câu( Nếu học sinh dặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ),
tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình,
tranh ảnh, …
Ví dụ: Phân biệt “ chiêng" và “chiên”
+ Giải nghia từ “ chiêng” Giáo viên có thể cho học sinh quan sát cái chiêng
hoặc miêu tả đặc điểm( chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm
thanh vang dội)
Người thực hiện:
6
Anh không sắc thuốc hỏi sao chị lành.
Nghĩa là đa số các từ láy mang âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã. Nếu yếu tố đứng trước
mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi( hoặc ngược lại)
Ví dụ: Bổng
Ngang + hỏi: nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ,…
Sắc + hỏi: nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ,…
Hỏi + hỏi: lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển,…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Một số từ có vần “ênh” chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc. Ví dụ: Bập
bênh, chênh vênh, lênh khênh, …
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là “ng” hoặc “ nh”. Ví dụ: oang oang,
đùng đoàng, loảng xoảng, thình thịch,…
Người thực hiện:
7
Giải pháp giúp học sinh lớp 2A Viết đúng chính tả
Tóm lại: Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp, các
hình thức tổ chức dạy học để truyền thụ cho các em một cách nhịp nhàng, không
tách rời nhau mà phải đan xen, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau trong từng tiết học. Bên
cạnh đó, người giáo viên phải có dự kiến về những tinh huống của học sinh đưa ra
trong mỗi hoạt động để từ đó có biện pháp giải quyết và điều chỉnh kip thời.
* Đối với học sinh:
- Phát động phong trào thi đua trong lớp” Giữ vở sạch, viêt đúng, đẹp”
Ngay từ đầu năm học, học sinh cần có ý thức giữ gìn sách vở, tính kiên trì, chịu
SL
TL
%
SL
ĐẦU NĂM
1
2.6
5
13.2
GHKI
3
7.9
10
CHKI
6
44.7
15
39.5
23
60.5
26.3
14
36.9
11
28.9
27
71.1
15
39.5
12
Từ kết quả trên cho thấy, chất lượng của học sinh được nâng lên một cách
rõ rệt. Cụ thể: Trong bài viết của học sinh các em đã biết trình bày rõ ràng, sạch
đẹp. Đặc biệt hơn là sai lỗi chính tả từng bước được khắc phục.
5.2. Bài học kinh nghiệm:
Rèn chữ viết cho học sinh Tiểu học là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra cho
tất cả những người làm công tác giáo dục, đòi hỏi mỗi học sinh phải xây dựng cho
mình một kế hoạch, một biện pháp cụ thể thiết thực để có kĩ năng viết đúng, đẹp.
Đây là công việc đòi hỏi phải có nhiều thời gian, tôn nhiều công sức và
phải tiến hành thường xuyên. Vì vậy giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao,
có lòng yêu nghề, mến trẻ. Học sinh phải biết tích cực tự giác, chịu khó học tập, có
ý thức vươn lên trong việc rèn chữ viết đúng, đẹp.
Để nâng cao chất lượng, rèn chữ viết ở trường Tiểu hoc nói chung, lớp 2A
nói riêng theo tôi cần thực hiện đủ các bước:
- Xây dựng hình thức bên ngoài đồng bộ, đúng quy cách.
- Rèn chữ viết đúng mẫu, đúng chính tả, đúng ngữ pháp.
- Trình bày sạch sẽ, giữ vở sạch, không quăn góc, xệch xoạc.
- Bàn ghế ngay ngắn, đúng cỡ, phòng học đủ ánh sáng. Hướng dẫn tư thế
ngồi viết, có bảng chữ mẫu.
- Cần áp dụng đổi mới phương pháp dạy học môn chính tả, tiếng việt theo
hướng tích cực hoạt động của học sinh.
- Giáo viên thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, sửa sai kịp thời, hình thành
cho học sinh ý thức rèn chữ, giữ vở tốt.
- Giáo viên cần nói, viết đúng chuẩn ở mọi nơi, mọi lúc, chú ý cách chấm,
chữa bài cho học sinh, cách ghi bảng, trình bày bảng đúng, đẹp và có khoa học.
- Động viên biểu dương kịp thời. Ngoài ra còn kết hợp với phụ huynh học
sinh tham gia hướng dẫn các em rèn chữ viết ở nhà để đạt kết quả cao hơn.
5.3. Kiến nghị – đề xuất:
Với những giải pháp trên, để vận dụng tốt hơn nữa tôi rất mong được sự
10
Giải pháp giúp học sinh lớp 2A Viết đúng chính tả
1. Lí do chọn đề tài:
…………………………………………………………………………
……Trang 2
2. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu……………………………………………..Trang 3
B. NỘI DUNG:
1. Nội
dung……………………………………………………………………
………………………… Trang 4
2. Các biện pháp giải
quyết……………………………………………………………….Tra
ng 6
3. Kết quả đạt
được……………………………………………………………………
………….Trang 9
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Ý KIẾN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
1.Cấp trường: ( Đơn vị nhận xét)
Người thực hiện:
11
3. Cấp tinh: ( Ngành nhận xét)
Nhận xét:
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
Người thực hiện:
12
Giải pháp giúp học sinh lớp 2A Viết đúng chính tả
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Xếp loại:…………………
Người thực hiện:
13