skkn PHƯƠNG PHÁP rèn LUYỆN kĩ NĂNG GIÚP học SINH lớp 2 VIẾT ĐÚNG CHÍNH tả (NGHE VIẾT) - Pdf 36

Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

Đề tài:
PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
(NGHE-VIẾT)
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề:
1. Thực trạng của vấn đề:
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một mơn học quan trọng.
Chính tả là một trong sáu phân mơn của mơn Tiếng Việt. Chính tả giúp học sinh
hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và
thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt chuẩn mực. Viết đúng chính
tả mới đảm bảo cho người viết và đọc hiểu thống nhất về nội dung và thể hiện
được ý nghĩ, tình cảm của mình với nội dung đã viết.
Vì vậy, ở Tiểu học phân mơn chính tả có vị trí rất quan trọng. Bởi vì ở bậc
Tiểu học là giai đoạn then chốt trong q trình hình thành kĩ năng chính tả cho
học sinh. Càng quan trọng hơn đối với học sinh lớp 2. Chính tả (nghe - viết) là
bước khởi đầu nghe thầy đọc bằng lời, viết lại thành chữ, tạo thành tiếng, câu,
đoạn và bài…. Đây là bước đột phá mới của các em. Bởi các em học lớp 1 chỉ
nhìn từng chữ rồi viết lại mà thơi.
Ngồi ra, dạy chính tả còn có nhiệm vụ kết hợp luyện tập chính tả, với
việc rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng
Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy. Dạy chính tả còn bồi dưỡng
một số đức tính, thái độ, tác phong làm việc chính xác, óc thẩm mỹ, lòng tự
trọng và tinh thần trách nhiệm. Bồi dưỡng các em lòng u q tiếng Việt và chữ
viết tiếng Việt.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)



Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

thức dạy chính tả cho học sinh, đa phần chỉ lệ thuộc vào đáp án trong sách
hướng dẫn vì thế cũng chưa gây được hứng thú học tập cho học sinh.
- Chưa chú trọng đến việc luyện phát âm, viết đúng mẫu chữ cho bản thân
cũng như cho học sinh.
- Phân loại rõ rệt việc mắc lỗi thường xun về qui luật chính tả hay phát
âm của giáo viên đối với từng đối tượng học sinh còn lơ là, sợ cháy giáo án.
- Hướng dẫn giải bài tập theo trình tự sách giáo khoa khơng đảm bảo thời
gian, phương pháp giải bài tập một chiều, khơ khan chưa phát huy tính tích cực,
sáng tạo của học sinh.
- Cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, ít tìm tòi cái mới, ít tìm phương
pháp gây hứng thú cho các em trong giờ học. Điều này ảnh hưởng khơng tốt đến
cách học và khả năng tiếp thu bài của học sinh.
Thực tế ở trường, phần lớn giáo viên ln học hỏi, tìm tòi, suy nghĩ, tích
cực nâng cao kiến thức của mình để dạy cho học sinh. Đặc biệt là dạy chính tả
(nghe - viết) cho học sinh lớp 2 nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Vì điều kiện và
khả năng có hạn, tơi mạnh dạn xin trình bày kết quả nghiên cứu của mình thơng
qua đề tài Phương pháp rèn luyện kĩ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính
tả (nghe-viết).
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
2.1. Ý nghĩa:
Giải pháp mới của đề tài giúp học sinh đọc thơng, viết thạo, nhận biết
được vẻ đẹp của Tiếng Việt, chữ viết Tiếng Việt. Đề tài này còn có ý nghĩa hình
thành kĩ năng chính tả. Nói rõ hơn, giúp học sinh hình thành năng lực và thói
quen viết đúng chính tả. Đặc biệt là giúp các em có một vốn kiến thức sâu sắc,
chính xác về tiếng, từ, câu…vận dụng kiến thức này một cách linh hoạt trong
học tập và trong đời sống hằng ngày.
2.2. Tác dụng của giải pháp mới:

nhân tố quan trọng góp phần hình thành kiến thức và thể hiện kiến thức một
cách có hệ thống cho học sinh. Chính vì vậy, việc giúp học sinh viết đúng chính
tả là một vấn đề hết sức quan trọng.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Trong nhiều năm qua, việc dạy chính tả cho học sinh lớp 2 viết đúng
chính tả là một vấn đề khơng đơn giản. Qua thực tế giảng dạy, tơi đã gặp khơng
ít khó khăn. Việc hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phát âm đúng, đọc trơi


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

chảy, chú ý lắng nghe, viết đúng chính tả còn mang tính chất máy móc, chưa sâu
sắc, chưa mở rộng cho các em nắm sâu kiến thức chính tả. Về phía học sinh thì
mới hồn thiện chương trình lớp 1, các em mới đọc trơn được bài tập đọc ngắn,
nhìn bảng hoặc sách giáo khoa chép lại bài, các em chưa có thói quen nghe thầy
đọc, nhớ, nhẩm rồi viết lại bằng chữ cho đúng. Đây là bước khởi đầu bỡ ngỡ và
cũng khơng ít khó khăn cho học sinh. Bên cạnh bài viết còn có một số bài tập,
giúp học sinh luyện tập thêm, nhằm củng cố khắc sâu kiến thức và hình thành kĩ
năng chính tả. Học sinh chỉ biết viết, sửa lỗi, làm bài tập… mà khơng hiểu tại
sao phải làm như vậy, học sinh khơng có hứng thú trong học tập. Do vậy, việc
hướng dẫn, rèn luyện học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe-viết) là một vấn đề
trăn trở cho các giáo viên và ngay cả bản thân tơi.
Từ những lí do khách quan và chủ quan trên, thơng qua việc học tập và
giảng dạy trong những năm qua, tơi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về
cách hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả (nghe-viết) cho học sinh
lớp 2 nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhất, vận dụng
tốt nhất cho q trình giảng dạy.
2. Các biện pháp và thời gian tiến hành:
2.1. Các biện pháp tiến hành:
Trong khi nghiên cứu đề tài tơi đã tiến hành song song nhiều biện pháp từ

học sinh nhận ra sự trong sáng của Tiếng Việt. Từ đó giúp học sinh thêm u
Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
II. Mơ tả giải pháp của đề tài:
1.Tính mới của đề tài:
1.1. Đề tài này mới ở các điểm sau:
- Hướng dẫn học sinh phát âm chính xác, đọc trơi chảy, lưu lốt.
- Giúp các em nghe chính xác các tiếng, từ trong câu, đảm bảo tốc độ viết.
- Cách phân tích tiếng trong từ, từ trong câu để sửa lỗi và viết đúng.
- Hướng dẫn học sinh phân biệt được các lỗi thường gặp do phát âm theo
tiếng địa phương.
- Cách sửa lỗi chính tả theo hướng loại bỏ cái sai, xây dựng cái đúng.
- Hướng dẫn quan sát bài mẫu, ghi nhớ mặt chữ, chữ mẫu, cách trình bày
tái hiện lại bài viết của mình đúng, đẹp.
- Giúp các em củng cố kĩ năng chính tả qua bài tập thực hành.
1.2. Nội dung của đề tài được thể hiện cụ thể như sau:
- Hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh.
- Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả.
+ Hướng dẫn học sinh nhận biết lỗi dựa vào quy tắc chính tả (luật chính
tả).
+ Giúp học sinh nhận biết các lỗi do phát âm theo tiếng địa phương.
+ Hướng dẫn học sinh khắc phục lỗi do hạn chế vốn từ.
- Giúp học sinh thực hành tốt bài tập củng cố.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

1.3. Cách tiến hành:
Với đặc trưng của mơn Tiếng Việt, khi dạy về chính tả (nghe - viết), để
giúp các em nắm chắc kiến thức và sử dụng nhuần nhuyễn chúng. Tơi đã nghiên
cứu và rút ra được nhiều kinh nghiệm thơng qua các bài dạy - học trên lớp.

Về cơ bản, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị
được ghi lại bằng một con chữ. Nói cách khác giữa cách đọc và cách viết thống
nhất với nhau. Đọc như thế nào viết như thế ấy. Học sinh nghe giáo viên đọc là
tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói. Cơ chế của cách viết đúng là xác lập
được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết. Bởi vậy, khi dạy chính tả (nghe
-viết), việc chú ý lắng nghe của học sinh khơng kém phần quan trọng. Nếu như
giáo viên đọc mà học sinh khơng lắng nghe thì việc rèn luyện kĩ năng viết tốt
cho học sinh cũng bằng thừa. Các em khơng chú ý, khơng nghe rõ làm sao viết
đúng được. Vì thế, giáo viên cần hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng nghe cho học
sinh bằng cách giáo viên và học sinh phải phối hợp chặt chẽ với nhau.
- Giáo viên chuẩn mực, đọc mẫu thong thả, rõ ràng, chuẩn xác và diễn
cảm.
- Đọc với tốc độ vừa phải, phù hợp với tốc độ viết của học sinh lớp 2.
- Đọc rõ từng từ, cụm từ, câu.
- Học sinh chăm chú lắng nghe giáo viên đọc.
+ Đọc (lần 1): Nghe xác định rõ tiếng, từ, câu cần viết.
+ Đọc (lần 2): Nghe, nhớ, nhẩm (đánh vần, đọc thầm), viết lại từng tiếng,
từ và câu mới nghe.
+ Đọc (lần 3): Nghe và rà sốt lại từng tiếng, từ cả câu vừa viết.
Kĩ năng nghe và kĩ năng viết phải đi đơi với nhau, một trong những kĩ
năng này thiếu hụt thì kết quả bài viết khơng thành cơng. Vì thế tơi đã thực hiện
các biện pháp sau:
1.4.1.1. Giúp học sinh chú ý lắng nghe:
Ngồi việc đọc đúng, đọc chuẩn, rõ ràng,…tơi còn quan sát nét mặt, cử
chỉ từng em, xem các em có tập trung nghe đọc và viết bài khơng. Nhờ vậy, tơi
sớm phát hiện vẫn còn một vài học sinh chưa tập trung chú ý lắng nghe, dẫn đến
viết khơng được, lúng ta lúng túng, quay hỏi bạn. Tơi đến gần, nhẹ nhàng đọc lại
câu đó lần nữa để em nghe và viết được, viết đúng. Các em khác có thể kiểm tra
bài mình.


mơi, lưỡi giáo viên phát âm để khẳng định rõ tiếng, từ cần nghe và viết đúng.
Với cách tiến hành như thế, dần dần học sinh trở thành thói quen và hình thành
kĩ năng nghe tốt, tốc độ viết cũng nhanh hơn.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

1.4.2. Hướng dẫn rèn luyện kĩ năng viết:
Như đã nói trên, kĩ năng nghe và viết phải đi song song nhau trong chính
tả (nghe - viết). Ngồi việc rèn kĩ năng nghe cho học sinh, tơi dành nhiều thời
gian và cơng sức rèn luện kĩ năng viết cho các em. Để học sinh đạt được kĩ năng
này, trước hết giáo viên phải:
- Phát âm đúng, chuẩn mực, đọc mẫu bài chính tả một cách chính xác,
giọng đọc thong thả, rõ ràng, ngắt nghỉ hơi hợp lí.
- Đọc mẫu tồn bài viết, giúp học sinh có cái nhìn bao qt, có ấn tượng
chung về nội dung bài viết, làm cơ sở cho việc viết chính tả của học sinh.
Có nhiều ngun nhân dẫn đến việc mắc lỗi chính tả. Ngồi việc mắc lỗi
do người viết sử dụng cách viết tùy tiện, cẩu thả, chữ nọ xọ chữ kia ….Trong
q trình dạy học, tơi nhận thấy lỗi các em thường gặp phải khi viết chính tả. Ở
đây, tơi chỉ giới thiệu một số lỗi phổ biến mà các em thường mắc phải, cần chú
trọng khắc phục ngay. Các lỗi cụ thể như sau:
1.4.2.1. Giúp học sinh khắc phục lỗi do phát âm theo tiếng địa
phương:
Xuất phát từ tình hình thực tế địa phương Mỹ An, thực tế mắc lỗi của học
sinh từng địa bàn, từng lớp, xác định được trọng điểm chính tả cần dạy cho học
sinh lớp mình. Khi phát âm sai thì việc viết lại sẽ sai (mặc dù người đọc phát âm
đúng) Qua nhiều năm giảng dạy và q trình chấm chữa bài tơi tìm hiểu, liệt kê
ra một số lỗi của học sinh qua các cơ sở sau:
* Mắc lỗi do phát âm sai phụ âm đầu: x /s, qu / v, ch / tr...
Ví dụ:

+ oc / ơc:

bóc lột viết thành bốc lột
trí óc viết thành trí ốc …

*Mắc lỗi do phát âm sai về thanh điệu: hỏi / ngã
Ví dụ:

sửa xe viết thành sữa xe
mĩ mãn viết thành mỉ mản
vui vẻ viết thành vui vẽ
nỗ lực viết thành nổ lực
hỗ trợ viết thành hổ trợ
sẵn sàng viết thành sẳn sàng....

*Mắc lỗi do phát âm sai về chữ cái của phụ âm cuối hoặc lẫn lộn giữa
chữ cái của ngun âm giữa mà viết sai: t /c, n /ng, ui /i...
Ví dụ:
+ t /c:

đơi mắt viết thành đơi mắc
thắc mắc viết thành thắt mắt...

+ n /ng:

tần ngần viết thành tầng ngầng
vầng trán viết thành vần tráng...

+ ui /i:


Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ khơng viết sai nữa.

1.4.2.2. Giúp học sinh khắc phục lỗi về quy tắc chính tả (luật chính
tả)
Để viêt đúng chính tả , giáo viên cần trang bị cho học sinh thuộc một số
quy tắc. Dưới đây là một số quy tắc học sinh cần nắm vững:
* ngh và ng
- Viết “ngh” khi đứng trước các ngun âm i, e, ê.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

Ví dụ: nghề nghiệp, nghe ngóng, nghiêng ngả, nghi hoặc, v.v…
- Viết “ng” khi đứng trước các ngun âm còn lại như: a, ă, u, ư, o,…
Ví dụ: ngỡ ngàng, ngơ ngẩn, ngủ ngon,…
* gh và g
- Viết gh khi đứng trước 3 ngun âm i, e, ê để tạo thành tiếng mà thơi.
Ví dụ: ghi nhớ, ghìm nén, bàn ghế, gói ghém, ghiền, ….
- Viết g khi đứng trước các ngun âm còn lại như: o, ơ, ơ, u, a,…
Ví dụ: gà gơ, gầm gừ, gờn gợn, ….
* k, c và q
- Âm k khi viết chỉ đứng trước 3 âm i, e, ê để tạo tiếng.
Ví dụ: kể lể, e ke, kiên trì, kế hoạch, kim chỉ,…
- Còn âm c thì viết đứng trước bất kì các âm còn lại như: u, ư, a, ă, â, o,…
Ví dụ: co giãn, cơ hội, cấy cày, cuốc xẻng,…
- Âm q thì chỉ được viết đứng trước âm đệm u thơi.
Ví dụ: qn đội, quản lí, quanh co, q quắt, ….
Những quy tắc chính tả ( ngh, gh, k chỉ được ghép trước với e, ê, i ; còn c,
g, ng thì ghép trước các âm còn lại. Kể cả q cũng chỉ được ghép trước âm u mà
thơi.)

(Tiếng Việt 2, tập 1- trang 140)
Viết câu: “Chó và Mèo là những con vật rất tình nghĩa. Thấy chủ buồn vì
mất viên ngọc được Long Vương tặng…”
Giúp các em viết đúng các tiếng: nghĩa, ngọc tơi sử dụng phương pháp
trắc nghiệm.
Đính bảng phụ (bảng nhóm) ghi sẵn:
a. ngĩa
b. nghĩa
c. ngọc
d. nghọc
u cầu học sinh quan sát, phát hiện, khoanh tròn vào chữ đứng trước từ
em cho là đúng chính tả. Các em sẽ nêu được đáp án (b và c) là đúng.
Giáo viên: Vì sao em cho b và c là đúng?
Học sinh: vì theo quy tắc chính tả ngh đứng trước e, ê, i còn ng ghép với
các âm còn lại.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

Với phương pháp này tạo hứng thú học tập, học sinh tập trung suy nghĩ,
tìm tòi và khẳng định cái đúng nhất. Có nghĩa là loại bỏ cái sai và xây dựng cái
đúng.
Ví dụ: dạy chính tả ( nghe-viết) bài Ngơi trường mới
(Tiếng Việt 2, tập 1- trang 50)
“Dưới mái trường mới sao tiếng trống rung động kéo dài! Tiếng.....Cả
đến chiếc thước kẻ, chiếc bút chì sao cũng đáng u đến thế!”
u cầu học sinh tìm trong bài tiếng có âm k và viết vào bảng con.
(Học sinh: viết kéo, kẻ).
Giáo viên: Âm k được viết trước các âm nào?
Học sinh: k viết đứng trước các âm e, ê , i.

b. quẫy
c. qẫy
Học sinh nhận xét: Đáp án (b) là đúng, vì q ghép với u tạo qu + ây + ngã
(theo quy tắc chính tả q chỉ đứng trước u).
Đáp án (a) sai, vì viết theo tiếng địa phương qu viết thành v (quẫy tóe
nước chứ khơng phải (vẫy tóe nước) vẫy ở đây là vẫy tay chào.
Đáp án (c) sai hồn tồn, vì khơng thuộc quy tắc chính tả, khơng thể có q
ghép với các âm khác ngồi u.
Qua nhiều phương pháp tổ chức, cách hỏi - đáp khác nhau sẽ giúp học
sinh khắc sâu luật chính tả, vận dụng để nhận biết lỗi sai, tự sửa sai và viết đúng
chính tả ở mọi mơn học.
1.4.2.3. Hướng dẫn học sinh khắc phục lỗi do hạn chế về vốn từ:
Trong thực tế, muốn viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan
trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở để người học viết đúng chính
tả. Nếu giáo viên đọc một tiếng từ nào đó riêng lẻ thì học sinh sẽ lúng túng
trong việc xác định hình thức chữ viết của tiếng từ này.
Ví dụ: (gia) trong gia đình hay (da) trong da thịt; (giản) trong giản dị hay
(dãn) trong co dãn…. Nhưng khi giáo viên đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một
nghĩa xác định thì học sinh dễ dàng viết đúng chính tả. Vì vậy, có thể hiểu rằng
chính tả Tiếng Việt còn gọi là chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc trưng quan
trọng mà khi dạy chính tả tơi ln ln chú ý.
Đối với học sinh lớp 2, việc thơng hiểu văn bản còn rất hạn chế. Vì thế khi


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

hướng dẫn tơi ln hướng dẫn rõ ràng, mạch lạc, xác thực (có thể minh họa trực
quan, so sánh…) và khi đọc cần đọc từng câu một, gặp câu dài tơi ngắt câu đọc
theo cụm từ (cụm từ ấy phải diễn đạt một ý nhỏ). Việc đọc - viết của giáo viên
và học sinh khơng theo từng từ riêng lẻ mà phải gắn cả câu hay cụm từ trọn

* Trong bài Ơn tập tiết 3- Chính tả( nghe-viết)
(Trang 148, sách Tiếng Việt 2, tập 1)
Có câu: “Ở lớp điều gì chưa hiểu, em nhờ cơ giảng lại cho.”
Giúp các em viết đúng tiếng “giảng” trong câu này, tơi sử dụng cách so
sánh loại bỏ cái sai, xây dựng cái đúng như sau:
Một bạn đã viết : “ Ở lớp điều gì chưa hiểu, em nhờ cơ dảng lại cho.” Các
em nhận xét bài bạn, phát hiện tiếng sai và khẳng định cách viết đúng của mình
rồi ghi vào bảng con.
Học sinh viết (giảng ).u cầu lớp giơ bảng, gọi một vài em so sánh, nhận
xét xem bài bạn đúng hay sai, sai ở điểm nào?...Giáo viên rút ra kết luận đúng
và giải thích cặn kẽ; “ giảng” trong câu là giảng bài, giảng giải …ta viết âm gi
+ ang + hỏi . Chứ khơng thể viết như bạn, viết thế là sai.
Với phương pháp tổ chức, hướng dẫn và giải thích trên kích thích óc phán
đốn, mở rộng tầm hiểu biết về từ, về câu giúp các em hứng thú học tập.
* Ngồi việc hướng dẫn cách nghe, cách viết đúng chính tả tơi ln đề
cập đến chữ viết đẹp, trình bày sạch sẽ, khoa học. Bởi vậy, bài viết mẫu rất quan
trọng. Giúp học sinh ghi nhớ mặt chữ của các từ, khoảng cách, cách đặt dấu
thanh, dấu câu, các chữ hoa… Mỗi bài chính tả tơi đều viết sẵn bài mẫu ở bảng
phụ, giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi cũng như học sinh đọc bài,…sẽ dần
dần định hình trong trí não non nớt nhưng rất nhạy bén của các em, sẽ đi vào
tiềm thức của học sinh. Phần nào đó các em nhớ lại khi nghe - viết áp dụng vào
bài. Ngồi ra bài viết mẫu còn giúp các em quan sát chấm chữa lỗi tại lớp đồng
đều, khơng mất nhiều thời gian.
1.4.3. Giúp học sinh thực hành tốt bài tập củng cố
Sau đây là một vài dạng bài tập chính tả âm-vần, tiếng từ để giúp học sinh
hồn thành trong tiết chính tả, đồng thời giúp các em rèn luyện, củng cố kĩ năng
chính tả của mình.
1.4.3.1. Luyện tập chữa lỗi viết sai do phát âm địa phương:
Như đã nói ở phần luyện viết, dạng bài tập điền âm, vần, tiếng từ hoặc dấu
hỏi, dấu ngã vào chỗ chấm (hay chỗ trống), tơi cẩn thận để chọn lựa bài sao cho


(Tiếng Việt 2, tập 1- trang 50)
Chia lớp thành 2 dãy, mỗi dãy thực hiện một phần bài tập, u cầu học
sinh điền vào bảng con.
Kết quả có thể xảy ra: sa xơi, xa xuống; phố sá, đường xá.
Mời lớp nhận xét giải thích đúng, sai......
Giáo viên bổ sung: các bạn điền sai là do phát âm sai giữa s và x, kết hợp
chưa thấu hiểu các từ, giúp học sinh hiểu rút kinh nghiệm, giáo viên giải thích:
xa xơi (có nghĩa là xa xa...), sa xuống (rơi xuống, sà xuống...), tương tự giải
thích phố xá, đường sá.
Hướng dẫn luyện phát âm (nhất là số học sinh thường mắc lỗi này) u
cầu học sinh quan sát, so sánh, nhận xét.
1.4.3.2. Luyện tập chữa lỗi khi chưa nắm chắc quy tắc chính tả:


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

(Thuộc dạng bài tập điền âm vào chỗ chấm)
Ví dụ: Bài tập 2. Điền vào chỗ chấm c hay k ?
...im khâu, ...ậu bé, ...iên nhẫn, bà....ụ
( Tiếng Việt 2, tập 1- trang 6)
u cầu học sinh làm vào vở bài tập, gọi 2 học sinh lên điền bài bảng lớp.
Có thể xảy ra 2 trường hợp đúng và sai (cim khâu, kậu bé, ciên nhẫn, bà
cụ), nếu sai, u cầu học sinh nêu lý do bạn điền sai. Chỉ có k mới ghép trước i,
e, ê, còn c khơng thể ghép với 3 âm đó mà ghép với các âm còn lại. Giáo viên
nhận xét, khen và gọi một vài em mắc lỗi đọc bài, nhắc lại quy tắc chính tả (k
ghép với i, e, ê; c ghép với a, ă, â, u, o, ơ,...) nhằm khắc sâu để vận dụng vào
cách viết, cách điền bài tập tương tự.
Ví dụ: Bài tập 2. Điền vào chỗ trống gh hay g ?
- Lên thác xuống .....ềnh

này cần vận dụng vốn kiến thức hiểu biết về từ, câu qua thực tế đã học, đã
nghe...
Ví dụ: Bài tập (3). Điền vào chỗ trống gi, d hay r ?
a/ - con ….ao, tiếng …ao hàng, …ao bài tập về nhà
b/ - dè ...ặt, ...ặt giũ quần áo, chỉ có ...ặt một lồi cá
(Tiếng Việt 2, tập 1- Trang 65)
Giáo viên gợi ý chọn 1 trong 3 âm đã cho điền vào chỗ chấm sao cho
tiếng đã điền phối hợp với tiếng từ đã cho tạo thành từ, cụm từ có nghĩa và đúng
chính tả.
Chia lớp thành 4 nhóm, nhóm 1và 3 thực hiện câu a; nhóm 2 và 4 thực
hiện câu b. Hết thời gian qui định nhóm 1-3 nhận xét lẫn nhau, hai nhóm kia
tương tự, sau đó lớp nhận xét.
Giáo viên nhận xét đưa ra kết luận đúng và giải thích: điền d vào ao tạo
dao vì từ này là con dao (cái dao, cái kéo...) khơng thể điền gi (giao) hay r (rao)
tuy có nghĩa song kết hợp với từ con thì khơng có nghĩa.... Tương tự giáo viên
hướng dẫn, giải thích, so sánh... các từ còn lại.
Ví dụ: Bài tập (2) Em chọn từ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ
trống?
a/ ( lịch, nịch): quyển ....., chắc…….
b/ (làng, nàng): ......tiên, ......xóm
(Tiếng Việt 2, tập 1- Trang 11)
Để học sinh làm nhanh, có hiệu quả, tơi đưa ra phương án cho học sinh
chọn đúng, sai.


Phương pháp rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe – viết)

Quyển lịch
làng tiên


%
11
39,3

Đạt 5-6
SL
%
8
28,6

Chưa đạt
SL
%
0
/

2.1. Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng (lớp chưa áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm)
Khơng chỉ dừng lại phạm vi nghiên cứu trong lớp 2D mình đang dạy năm
học 2010-2011. Tơi sử dụng ngay bài khảo sát trên để khảo sát lớp 2E năm học
2011-2012 vào giữa kì I (khi chưa áp dụng đề tài). Kết quả như sau: (Lớp có 28
em)
Đạt 9-10
SL
%
3
10,7

Đạt 7-8
SL

SL
%
13
35,1

Đạt 7-8
SL
%
14
37,9

Đạt 5-6
SL
%
9
24,3

Chưa đạt
SL
%
1
2,7

Với kết quả thu được ở việc dạy trên lớp thực nghiệm và trên lớp đối
chứng, tơi càng vững vàng tin tưởng vào việc vận dụng phương pháp giúp học
sinh lớp 2 viết đúng chính tả (nghe - viết) và việc học của các em ngày càng có
hiệu quả hơn.
Với kết quả khảo sát này cho thấy rõ các em đã có tiến bộ vượt bậc so với lúc
chưa áp dụng đề tài. Số lượng học sinh đạt khá và giỏi tăng rõ rệt.
2.2. Khả năng thay thế giải pháp hiện có:

lắng khi viết chính tả. Tiết học của các em trở nên sơi nổi, hứng thú tạo cho các
em tâm trí học tốt hơn, mang lại hiệu quả cao hơn dẫn đến chất lượng dạy và
học mơn Tiếng Việt ngày được nâng cao.
3. Lợi ích kinh tế xã hội:
3.1. Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến q trình giáo dục, cơng tác:
3.1.1. Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến q trình giáo dục:
Trong q trình giáo dục, đề tài được áp dụng thành cơng sẽ mang lại lợi
ích rất thiết thực và hiệu quả.
Đề tài này được áp dụng sẽ góp phần quan trọng vào việc giáo dục đạo
đức cho học sinh. Bồi dưỡng cho học sinh tính cẩn thận, tỉ mỉ, óc phán đốn và
có tinh thần đồn kết với bạn bè. Điều rất cần thiết cho các em trong q trình
quan sát, theo dõi, lắng nghe,... để viết các bài chính tả đúng chính xác (bài đó
em chưa học). Khơng dừng ở đó, đề tài còn giúp cho các em viết đúng ngữ pháp

3.1.2. Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến q trình cơng tác:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status