SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
“PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẼ BIỂU ĐỒ CHO HỌC
SINH LỚP 9 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHONG THẠNH
ĐÔNG”
I. Đặt vấn đề:
1. Lí do:
Môn Địa lí lớp 9 có nội dung học về Địa lí dân cư, tự nhiên, kinh tế- xã hội
Việt Nam nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản về dân cư,
các ngành kinh tế. Sự phân hóa lãnh thổ về vị trí, tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,
dân cư-lao động, kinh tế xã hội của 7 vùng kinh tế ở nước ta; Kinh tế biển – đảo của
Việt Nam và địa lí tỉnh, thành phố nơi em đang sinh sống và học tập. Để đạt được
điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải nắm vững phương pháp, nội dung chương trình để
truyền thụ kiến thức mới, bài thực hành, bài ôn tập hệ thống hóa kiến thức từ đó giúp
học sinh nắm kiến thức một cách hiệu quả tốt nhất…Đối với sách giáo khoa cũng như
chương trình Địa lí 9 hiện nay đòi hỏi kĩ năng vẽ biểu đồ rất cao, đưa ra nhiều dạng
biểu đồ mới và khó so với sách giáo khoa lớp 9 trước đó như: biểu đồ tròn, cột đơn,
cột đôi, cột chồng, đường biểu diễn, miền… ( Trong chương trình có 44 bài : có 11
bài thực hành thì trong đó có 6 bài yêu cầu vẽ biểu đồ và 2 bài có liên quan đến biểu
đồ; có 14 bài tập yêu cầu vẽ biểu đồ) trong khí đó thời lượng là 1,5 tiết/tuần ( Học kì I
2 tiết/tuần, học kì II là 1 tiết/tuần như vậy thời lượng là quá ít so với chương trình của
môn Địa lí lớp 9).
Vì vậy, việc rèn luyện những kĩ năng địa lý là rất cần thiết cho việc học tập
đồng thời cũng chuẩn bị kĩ năng cho việc tiếp thu kiến thức ở các lớp trên hay áp
dụng vào trong thực tiễn cuộc sống của các em. Có rất nhiều kĩ năng cơ bản cần phải
rèn luyện cho học sinh trong quá trình dạy môn Địa lý 9. Một trong những kỹ năng
Tìm những phương pháp thiết thực và hiệu quả để rèn cho học sinh có kĩ năng
thành thạo về biểu đồ.
d. Phương pháp
Rèn luyện kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ cho học sinh lớp 9 để dần hoàn thiện
kĩ năng cho học sinh sau khi hoàn thành chương trình lớp 9.
2
đ. Thực trạng:
Thống kê vào đầu năm học 2013-2014:
Lớp Tổng số học sinh Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu
91 42 10 32
92 41 5 36
Tổng 83 15 68
Qua khảo sát học sinh đạt yêu cầu về biểu đồ là 18,1%; chưa đạt là 81,9%. Kết
quả rất thấp do chương trình địa lí lớp 6,7,8 rất ít vẽ biểu đồ.
3. Tính mới về khoa học của sáng kiến kinh nghiệm.
Để rèn luyện cho học sinh có kĩ năng thành thạo về vẽ biểu đồ thì đây không
phải là vấn đề mới mà được giáo viên các trường đều phải thực hiện nhưng làm như
thế nào để cho học sinh có được kĩ năng đó là vần đề khó mà không phải giáo viên
nào cũng làm được, thậm chí có nhiều giáo viên vẫn chưa thành thạo về biểu đồ. Vậy
để rèn cho học sinh có kĩ năng đó thì phải làm sao đạt kết quả tốt mà khi học sinh học
hết lớp 9 có được kĩ năng biểu đồ cơ bản nhất thì là một câu hỏi khó. Do đó tôi xin
đưa ra một số phương pháp để rèn luyện kĩ năng biểu đồ cho học sinh cùng trao đổi
với quý đồng nghiệp để cùng nhau thực hiện ngày càng hiệu quả hơn.
II. Nội dung:
1. Thực trạng:
Biểu đồ là hình vẽ cho phép mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của
một hiện tượng ( như quá trình phát triển kinh tế qua các năm…), mối tương quan về
độ lớn giữa các đại lượng ( như so sánh sản lượng về độ lớn gữa các đại lượng(như so
sánh về sản lượng lương thực của các vùng…) hoặc cơ cấu thành phần của một tổng
lệ năm trên trục ngang không chính xác; thiếu đơn vị trên hai đầu trục…
Một số hạn chế của giáo viên:
- Một số giáo viên ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ cho học sinh như:
làm thay học sinh trong các tiết thực hành, không đánh giá kết quả của học sinh sau
mỗi bài thực hành, dặn học sinh làm bài tập biểu đồ nhưng thiếu thời gian hướng dẫn,
không có biểu đồ mẫu cho học sinh quan sát…
- Một số giáo viên còn hạn chế về kĩ năng biểu đồ nên hướng dẫn học sinh còn rất
khó khăn nhất là những giáo viên không chuyên, dạy chéo môn.
4
- Thời lượng dành cho thực hành vẽ biểu đồ ít, không đảm bảo nên giáo viên chưa
dành được nhiều thời gian để hướng dẫn kĩ cho các em…
2. Kết quả đạt được:
Với những phương pháp đã thực hiện nêu trên trong quá trình giảng dạy Địa lý
9 đã có sự tiến bộ như sau:
- Đến cuối năm việc làm bài tập vẽ biểu đồ Địa lí và thức hành vẽ biểu đồ, đa
số học sinh đã xác định và vẽ đúng yêu cầu của đề bài, biểu đồ có tính trực quan , tính
chính xác, tính khoa học và tính thẫm mĩ cao.
- Học sinh hứng thú hơn với môn học Địa lí, đặc biệt với các bài tập thực hành
vẽ biểu đồ. Chất lượng bộ môn được nâng cao.
- Thông qua việc rèn kĩ năng vẽ biểu đồ Địa lí còn giúp giáo viên kiểm tra
được kiến thức, kỹ năng của học sinh. Từ đó thấy được những khó khăn, sai lầm
thường gặp của học sinh trong việc làm bài tập vẽ biểu đồ địa lí của học sinh để khắc
phục kịp thời mà bản thân người giáo viên cũng rèn cho mình được kĩ năng về biểu
đồ mà không phải lúng túng trước những câu hỏi của học sinh hay trước các bài dạy
trên lớp.
Số liệu điều tra trước khi thực hiện ở trường THCS Phong Thạnh Đông ( vào
đầu năm học 2013-2014):
Lớp Tổng số học sinh Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu
91 42 10 32
những khoảng thời gian thích hợp cà thời gian ngoài tiết học.
Rèn luyện một số kĩ năng biểu đồ cho học sinh:
3.1. Kĩ năng nhận dạng biểu đồ:
Các loại biểu đồ rất phong phú và đa dạng. Mỗi loại biểu đồ lại có thể được
dùng để vẽ biểu hiện nhiều đối tượng khác nhau. Nếu đề yêu cầu vẽ cụ thể biểu đồ gì
thì chỉ cần đọc kỹ, gạch dưới để tránh lạc đề và thực hiện đúng yêu cầu.
Đối với đề không ghi rõ yêu cầu cụ thể là vẽ biểu đồ gì mà chỉ yêu cầu vẽ dạng
thích hợp nhất thì cần phải phân tích đề thật kỹ trước khi thực hiện. Đây là dạng đề
khó nên học sinh muốn làm được cần có phương pháp phân tích để nhận dạng thích
hợp. Để nhận được dạng biểu đồ học sinh cần đọc kỹ đề và dựa vào một số cụm từ
gợi ý, một số yếu tố cơ bản từ đề bài để xác định đúng dạng cần vẽ.
6
Ví dụ:
* Kĩ năng nhận dạng biểu đồ hình tròn:
- Thường dùng để biểu diễn cơ cấu thành phần của một tổng thể và qui mô của
đối tượng cần trình bày. Chỉ được thực hiện khi giá trị tính của các đại lượng được
tính bằng % và các giá trị thành phần cộng lại bằng 100%.
- Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Cơ cấu, qui mô, tỉ
trọng, tỉ lệ.
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế Việt Nam.
* Kĩ năng nhận dạng biểu đồ hình cột:
- Dạng biểu đồ này sử dụng để chỉ khác biệt về qui mô khối lượng của một hay
một số đối tượng địa lý hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại
lượng.
- Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Tình hình, so sánh,
sản lượng, số lượng.
Ví dụ: Vẽ biểu đồ so sánh dân số, diện tích… của 1 số tỉnh (vùng, nước) hoặc
vẽ biểu đồ so sánh sản lượng (lúa, ngô, than…) của một số địa phương qua một số
năm.
chiều quay của kim đồng hồ.
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ; ghi tỉ lệ của các thành phần lên biểu đồ phải
ngay ngắn, rõ ràng không nghiêng ngã; lập bảng chú giải theo thứ tự của hình vẽ nên
ghi ở bên dưới biểu đồ hoặc ghi bên cạnh không được ghi bên trên, sau đó ghi tên
biểu đồ.
Ví dụ: Cho bảng số liệu: Diện tích gieo trồng, phân theo nhóm cây (nghìn ha)
Năm
Các nhóm cây
1990 2002
Tổng số
Cây lương thực
Cây công nghiệp
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác
9040,0
6474,6
1199,3
1366,1
12831,4
8320,3
2337,3
2173,8
Vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây. Biểu đồ năm
1990 có bán kính là 20mm; biểu đồ năm 2002 có bán kính là 24mm
- Bước 1: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách xử lý số liệu quy về tỉ lệ %:
Năm
Các nhóm cây
1990 2002
Tổng số 100% 100%
8
0
= 61,2
0
- Bước 3: Xác định bán kính của hình tròn năm 1990 có bán kính là 20mm;
biểu đồ năm 2002 có bán kính là 24mm
- Bước 4: Vẽ biểu đồ:
Năm 1990 Năm 2002
Biểu đồ cơ cấu diện tích gieo trồng phân theo các loại cây năm 1990 và 2002
- Bước 5: Nhận xét biểu đồ: Diện tích cây lương thực giảm; diện tích cây công
nghiệp, cây ăn quả và cây khác tăng điều đó chứng tỏ nước ta đã phá thế độc canh
cây lúa mà thay vào đó là phát triển cơ cấu đa canh.
- Bước 6: kiểm tra biểu đồ, nhận xét.
* Kĩ năng vẽ biểu đồ cột:
9
Các bước tiến hành:
- Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc cho cân đối giữa hai trục.
+ Trục tung (trục đứng) thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc
ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số( nghìn tấn, tỉ
đồng ) và phải cách đều nhau.
+ Trục hoành (trục ngang) thể hiện các năm hoặc đối tượng khác: có mũi tên
và ghi rõ danh số. Nếu trục ngang thể hiện năm thì chia mốc thời gian tương ứng với
mốc thời gian ghi trong bảng số liệu.
- Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục. Chú ý tương quan giữa độ cao
của trục đứng và độ dài của trục ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được tính trực quan
và thẩm mĩ.
- Bước 3:
+ Vẽ theo đúng trình tự bài cho, không được tự ý sắp xếp từ thấp tới cao hoặc
ngược lại, trừ khi bài có yêu cầu sắp xếp lại.
+ Không nên vạch 3 chấm (…) hoặc gạch nối từ trục vào cột vì nó làm biểu đồ
10
Biểu đồ : thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố
của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (2002)
- Bước 5: nhận xét biểu đồ: Diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố
của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (2002) không đều. nhiều nhất là các tỉnh: Khánh
Hòa; Quảng Nam; Bình Định. Ít nhất là các tỉnh: Đà Nẵng; Quảng Ngãi; Ninh Thuận.
- Bước 6: Kiểm tra lại biểu đồ và nhận xét.
* Ngoài ra còn một số dạng biểu đồ cột thường gặp: Biểu đồ cột đơn, biểu đồ
cột chồng, biểu đồ cột đơn gộp nhóm còn gọi là biểu đồ cột đôi, cột ba (loại này gồm
2 loại: cột ghép cùng đại lượng và cột ghép khác đại lượng), biểu đồ thanh ngang…
Lưu ý: Trong biểu đồ cột thì các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của
các cột phải bằng nhau. Tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách giữa các cột bằng
nhau hoặc cách nhau theo đúng tỉ lệ. Ở dạng này thì việc thể hiện độ cao của các cột
là điều quan trọng hơn cả bởi vì nó cho thấy sự khác biệt về quy mô số lượng giữa
các năm hoặc đối tượng cần thể hiện.
* Kĩ năng vẽ biểu đồ đường - đồ thị:
Các bước tiến hành:
- Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ, chia tỉ lệ ở hai trục cho cân đối và chính xác.
11
+ Trục tung (trục đứng) thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc
ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số (nghìn tấn, tỉ
đồng )
+ Trục hoành (trục ngang) thể hiện năm và chia mốc thời gian tương ứng với
mốc thời gian ghi trong bảng số liệu.
- Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục. Chú ý tương quan giữa độ cao
của trục đứng và độ dài của trục ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được tính trực quan
và thẩm mĩ.
- Bước 3: Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định để tính toán và
đánh dấu toạ độ của các điểm mốc trên 2 trục. Khi đánh dấu các năm trên trục ngang
triệu người… thì ta phải chuyển sang số liệu tương đối là % ).
- Bước 2:
13
+ Kẻ khung biểu đồ hình chữ nhật. Cạnh đứng thể hiện tỉ lệ %, cạnh ngang thể
hiện khoảng cách thời gian từ năm đầu đến năm cuối của biểu đồ (khoảng cách các
năm phải tương ứng với khoảng cách trong bảng số liệu.)
+ Quy định chiều cao của khung biểu đồ 100% tương ứng với 10 cm (để tiện
cho đo, vẽ).
- Bước 3: Vẽ lần lượt từng chỉ tiêu. Năm đầu tiên phải sát với cạnh đứng.
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ. (Tương tự như cách vẽ biểu đồ cột chồng ).
Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh cách xác định tỉ lệ dạng này một cách nhanh
chóng và chính xác đó là xác định tỉ lệ đối tượng thứ nhất, tiếp đến là lấy đối tượng
thứ nhất cộng đối tượng thứ hai để vẽ đường thứ hai, còn lại là đối tượng thứ ba…
tương tự như thế nếu như có nhiều đối tượng cần vẽ.
Ví dụ: Cho bảng số liệu 16.1: Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991- 2002 (%)
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2002
Tổng số
Nông, lâm, ngư nghiệp
Công nghiệp- xây dựng
Dịch vụ
100,0
40,5
23,8
35,7
100,0
29,9
28,9
41,2
100,0
- Bước 6: Kiểm tra lại biểu đồ và nhận xét.
III. Kết luận và kiến nghị:
Trong vẽ biểu đồ Địa lí, việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng vẽ biểu đồ và nhận
xét biểu đồ là rất quan trọng vì nếu không có sự rèn luyện dần thì học sinh không thể
có được kĩ năng về biểu đồ do đó phải có sự hướng dẫn kĩ, hướng dẫn dần và có trực
quan. Người giáo viên cũng phải có kĩ năng về biểu đồ vững vàng là phải biết nhận
dạng, vẽ và nhận xét các dạng biểu đồ cơ bản nhất.
Để rèn kĩ năng biểu đồ cho học sinh thì giáo viên cũng cần chọn những bài tập
phù hợp với từng dạng biểu đồ và có độ khó nâng cao dần cho học sinh thực hành.
Sau mỗi bài tập, thực hành giáo viên phải nhận xét cụ thể và đánh giá cho học sinh
biết được những sai sót, hạn chế để khắc phục.
Các cấp có thẩm quyền khi trang bị đồ dùng dạy học thì cần trang bị thêm các
dạng biểu đồ cở lớn để làm phương tiện trực quan khi dạy về biểu đồ. Cho phép các
trường trang bị cho học sinh tập bản đồ của các khối lớp khi học địa lí. Tổ trưởng,
ban giám hiệu các trường và phòng giáo dục cũng cần quan tâm và kiểm tra việc tổ
chức các bài thực hành như phần tổ chức của giáo, bài thu hoạch của học sinh, đánh
giá nhận xét của giáo viên và cách lấy điểm các bài thực hành theo hướng dẫn của Bộ
giáo dục ( Sau mỗi bài thực hành đều phải nhận xét, đánh giá . Sau mỗi học kì phải
lấy một cột điểm thực hành hệ số 1, bằng cách lấy điểm trung bình cộng của các bài
thực hành trong học kì đó hoặc bài thực hành cao điểm nhất trong các bài thực hành
của học kì đó)
15
Bản thân đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình dạy học nhưng sẽ không tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của các đồng nghiệp để những kinh nghiệm của bản thân được hoàn thiện và có giá
trị thực tiễn cao hơn.
Người viết
Phạm Minh Thủ
Đơn vị: Trường trung học cơ sở Phong Thạnh Đông
Sáng kiến kinh nghiệm:
PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẼ BIỂU ĐỒ
CHO HỌC SINH LỚP 9 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
PHONG THẠNH ĐÔNG
Họ và tên người thực hiện:Phạm Minh Thủ
Chức vụ: Chủ tịch công đoàn ;
Tổ trưởng tổ chuyên môn; Giáo viên.
Phong Thạnh Đông, ngày 15 tháng 05 năm 2014
PHÒNG GD& ĐT GIÁ RAI
18
Trường THCS Phong Thạnh Đông
PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Kết quả chấm điểm: . . . . . . /100 điểm
a) Về nội dung:
- Tính khoa học: . . . . . /25 điểm
- Tính mới: . . . . …/20 điểm
- Tính hiệu quả: . . . . /25 điểm
- Tính ứng dụng thực tiễn: . . . . . /20 điểm
b) Về hình thức: . . . . ./10 điểm
2. Căn cứ kết quả đánh giá, xét duyệt của Hội đồng khoa học cấp trường, Hiệu
trưởng trường THCS Phong Thạnh Đông, huyện Giá Rai thống nhất công nhận
SKKN của đ/c: Phạm Minh Thủ
Chức vụ Chủ tịch công đoàn ; Tổ trưởng tổ chuyên môn; Giáo viên.
được xếp loại: . . . . . . . . . . . . . .
Phong Thạnh đông, ngày…. . tháng năm 20