SKKN Phương pháp rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho đề văn tự sự - môn Ngữ văn 6 - Pdf 25

PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN TỰ SỰ - MÔN NGỮ VĂN 6
Phần I
Đặt vấn đề
I/ Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận:
Trong chương trình Ngữ Văn THCS phân môn Tập làm văn có một vai trò vô cùng quan
trọng. Bởi vì nó là tác phẩm đầu tay của các em để bước vào thế giới hình tượng tuyệt diệu của
văn học nghệ thuật. Mỗi bài Tập làm văn ra đời là kết quả của một sự tổng hợp kiến thức đã học
về lý thuyết làm văn; về kiến thức văn học; về những quan sát cảm nhận cuộc sống thiên nhiên,
xã hội quanh mình. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt. Hơn nữa phân môn Tập làm văn là
phân môn khó, nó khác với phân môn Văn bản, Tiếng Việt. Vì vậy trong khi dạy Tập làm văn
đòi hỏi phải tích hợp ba phân môn (Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn), đồng thời phải có sự
thay đổi trong cách dạy – học để đạt hiệu quả tối ưu nhất.Có nghĩa là người giáo viên phải cung
cấp cho học sinh kiến thức đạt chuẩn và phương pháp phù hợp. Nhưng để làm bài văn hay, giáo
viên phải định hướng cho học sinh về dạng đề văn tự sự, hình thành trong bộ não của các em
một dàn ý. Trên cơ sở đó, rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn sẽ giúp
học sinh thành thạo viết được bài văn có bố cục rõ ràng, mạch lạc, đúng yêu cầu từng kiểu văn
bản.
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 6, tối thấy chương trình Ngữ văn có
nhiều điểm mới về phương pháp cũng như phạm vi kiến thức được nâng cao. Qua đó giúp các
em phát triển năng lực tư duy và óc sáng tạo. Chính vì thế để các em có hứng thú, say mê yêu
thích học văn thì người giáo viên phải có phương pháp phù hợp trong dạy - học nhằm kích
thích tính tích cực ở các em. Thế nhưng đối với học sinh lớp 6 nói chung hiện nay việc lập dàn
ý còn rất hạn chế. Bởi vì trước đây phân môn Tập làm văn thường có một đến hai tiết dành
riêng cho việc lập dàn ý nhưng chương trình Ngữ văn 6 hiện nay việc lập dàn ý lại gộp vào
trong cách làm bài văn Thực tế cho thấy qua chấm thi các bài khảo sát, tìm hiểu chung của
trường bạn tôi nhận thấy các em khi làm bài thường bỏ qua khâu lập dàn ý mà chỉ nghĩ được
chữ gì thì viết vào bài chữ đó, dẫn đến bài làm thiếu ý, sắp xếp ý lộn xộn hay lặp ý. Mà đối với
bài văn tự sự đòi hỏi các sự việc phải sắp xếp lô gíc, sự việc diễn ra trước kể trước, sự việc diễn
ra sau thì kể sau. Chính vì thế, bài văn viết của các em thường không mạch lạc, lủng củng, ý rời

năm gần đây, đòi hỏi cấp thiết phải tìm cách khắc phục.
2. Nguyên nhân:
Thực trạng nói trên là do nhiều nguyên nhân, ở đây chỉ nêu một số nguyên nhân cơ bản:
- Trong chương trình Ngữ văn 6 hiện nay “Phương pháp rèn luyện kĩ năng lập dàn ý
cho đề văn tự sự - môn Ngữ văn 6” không được tách ra riêng từng tiết dạy cụ thể mà chỉ gộp
vào trong các bài cách làm bài văn
- Khả năng tư duy và yếu kĩ năng lập dàn ý ở Tiểu học không được hướng dẫn cụ thể dẫn
đến lên cấp THCS cò nhiều em ngày càng đuối sức khi tiến hành làm bài văn tự sự.
- Sự hướng dẫn của SGK chưa cụ thể, dễ hiểu
- Học sinh nhận xét đề văn chưa đầy đủ, đọc đề chỉ lướt qua mà không tìm được ý; thiếu
sự tưởng tượng, sáng tạo, ít cảm xúc, nghèo vốn từ. Đồng thừoi một số em chưa ý thức góp
phần xây dựng bài chưa tích cực, độc lập.
- Giáo viên cũng chưa thực sự coi trọng việc rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho học sinh.
- Một số học sinh chưa thực sự quan sát thực tế hoặc ước lượng thiếu chính xác, dẫn đến
khi làm bài sẽ bị lệch, dùng từ thiếu chính xác, sắp xếp các ý không theo trình tự.
Trên đây là những khó khăn cơ bản đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn THCS nói chung
và phân môn Tập làm văn 6 nói riêng hiện nay, đòi hỏi phải có những giải pháp tháo gỡ nhằm
cải thiện chất lượng bộ môn.
II. Các giải pháp:
1. Dự kiến và phân phối thời gian dành cho “Phương pháp rèn luyện kĩ năng lập dàn
ý cho đề văn tự sự - môn Ngữ văn 6” một cách phù hợp.
Mặc dù trong PPCT, thời gian dành cho phương pháp này khồng có tiết nào cả nhưng
giáo viên vẫn có thể tận dụng các tiết dạy bám sát, các tiết dạy tăng tiết. Trong chương trình
Ngữ văn 6 theo PPCT mới hiện nay có nhiều văn bản là hướng dẫn đọc thêm hay đọc thêm thì
đối với những tiết đó giáo viên không dạy hết tiết mà chỉ hướng dẫn cho học sinh khoảng thời
gian 10 phút sau đó dạy tiết luyện tập, ôn tập cho kiến thức đã học ở bài trước. Vì vậy, giáo
viên dự kiến và phân phối thời gian hợp lí để có tiết luyện kĩ năng lập dàn ý cho các em trong
việc tạo lập văn bản.
Ở tiết dạy cho phép trong PPCT giáo viên củng cố lại kiến thức lý thuyết, giúp học sinh
có thể nhận diện, định hình trong bộ não về khung dàn ý khi làm đề văn tự sự để học sinh nắm

Mỗi nhóm đều có dạng đề khác nhau. Nhưng phần quan trọng nhất của bài viết là phần
thân bài. Vậy nên khi lập dàn ý học sinh phải lấy được dẫn chứng, quan sát thực tế cuộc sống
quanh mình để có vốn kiến thức liên quan giải quyết được đề baì cô động trong phần thân bài.
Muốn vậy, giáo viên đưa ra hai cách lập dàn ý:
* Dàn ý đại cương: Hiểu một cách nôm na: Chỉ trình bày những ý chính nhất, ý lớn
nhất. Qua đó, người đọc biết được chủ đề của bài văn đó.
- Ví dụ: Lập dàn ý đại cương cho đề bài: kể lại truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy
Tinh bằng lời văn của em.
Giáo viên phải định hướng cho học sinh xác định yêu cầu đề:
+ Chọn một truyền thuyết để kể lại bằng ngôn ngữ của mình.
+ Bám sát chủ đề, bố cục, cốt truyện của truyện dân gian cần kể.
+ Có thể chọn ngôi kể và thứ tự kể
Giáo viên vận dụng phương pháp gợi ý:
+ Giới thiệu truyện em định kể là truyện gì, vì sao em lại thích kể lại truyện đó.
+ Kể lại câu chuyện theo cảm xúc, mục đích giao tiếp và dụng ý của em. Có thể lồng
ghép thêm những nhận xét, cam rnghĩ của cá nhân vào lời kể, kết hợpgiải thích ý nghĩa lịch sử
xã hội của truyện.
Trên cơ sở đó, giáo viên yêu cầu HS lập dàn ý đại cương:
Mở bài: Giới thiệu truyện Sơn tinh Thủy Tinh.
Thân bài: + Vua Hùng kén rễ
+ Sơn Tinh Thủy Tinh đến cầu hôn
+ Vua Hùng ra điều kiện chọn rễ
+ Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau
+ Kết quả trận đánh
Kết bài: Cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá của em về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
* Dàn ý chi tiết: Có nhiệm vụ phát triển ý lớn, cụ thể hóa ý lớn nhằm tập trung làm rõ,
nổi bật ý lớn (chủ đề) bài viết.
- Ví dụ: Kể về mẹ
Để làm được hoàn chỉnh đề văn trên trong tiết luyện tập thì người giáo viên phải định
hướng cho học sinh biết cách làm. Tiến hành các bước sau: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý.

-> Kể lại kỉ niệm ngày mẹ làm luận án tiến sĩ: đêm khuya, mọi người đi ngủ, mẹ đọc
và viết tới sáng thế nhưng mẹ không sao nhãng việc nhà
-> Lời hứa cố gắng chăm chỉ để mẹ vui lòng, bớt mệt mỏi trong cuộc sống.
Kết bài:
+ Vô cùng yêu quý và tự hào về mẹ của mình.
+ Luôn khắc ghi hình ảnh mẹ.
* Mục đích của dàn ý: Giúp học sinh hệ thống được toàn bộ nội dung và phạm vi vấn
đề do đề bài nêu ra. Trên cơ sở đó, học sinh xác định được các ý lớn của bài và từ đó các em
dựa vào cái sườn của dàn bài để phát triển đoạn; đồng thời giúp người viết phân bố thời gian
hợp lí trong quá trình làm bài. Tất cả đều phụ thuộc vào bố cục bởi dàn ý là cái tự xây dựng,
mang tính sáng tạo, rèn luyện được kĩ năng cho mỗi học sinh. Chắc chắn rằng các em sẽ thành
công trong việc tạo lập văn bản.
* Yêu cầu khi lập dàn ý:
- Xác đinh yêu cầu của đè
- Gạch những từ trọng tâm trong đề văn
- Cần lựa chọn ý tiêu biểu
- Các ý lớn (nhỏ) có mối quan hệ với nhau, bởi ý nhỏ cụ thể hóa ý lớn để đạt mục đích
diễn đạt của người viết.
3. Hướng dẫn học sinh ghi và sắp xếp các tên mục lớn, nhỏ trong một đề bài
- Ví dụ: Kể lại truyện Sơn Tinh Thủy Tinh bằng lời văn của em.
Như ở phần lập dàn ý đại cương mà giáo viên hướng dẫn: phần quan trọng nhất trong
đề bài là thân bài – nó được biểu hiện các mục lớn bằng:
I.Vua Hùng kén rễ.
1,
2,
3,
II. Sơn Tinh Thủy Tinh đến cầu hôn
1,
2,
3,

chân thành, tự nhiên.
- Có thể lồng thêm những nhận xét, cảm nghĩ của cá nhân vào lời kể, kết hợp
giải thích ý nghĩa lịch sử xã hội của truyện
Kết bài Khẳng định ý nghĩa, cảm nghĩ của em về truyện (nhân vật)
* Kể chuyện đời thường:

Mở bài
- Giới thiệu câu chuyện em định kể (chứng kiến hoặc đã nghe kể lại)
- Câu chuyện trong đời sống thường ngày
- Kể về người thật, việc thật
- Có thể chọn ngôi kể

Thân bài
- Truyện kể việc gì? Sự việc xảy ra ở đâu? Vào thời điểm nào? Do ai làm?
Việc diễn biến ra sao (nguyên nhân, quá trình, kết quả)?
- Người kể chọn lựa và sắp xếp các tình tiết, diễn biến câu chuyện một cách
có nghệ thuật, có dụng ý.
- Có quyền sáng tạo (gắn liền với thực tế, có ý nghĩa)
Kết bài Cảm xúc, suy nghĩ về câu chuyện đã kể
* Kể chuyện tưởng tượng:
Mở bài - Tùy theo tưởng tượng của mình mà giới thiệu câu chuyện (kể truyện cổ tích,
mượn lời đồ vật, con vật tự giới thiệu )
- Ngôi kể
Thân bài - Xác định rõ đề tài, nhân vật, ngôi kể, trình tự kể
- Sáng tạo chi tiết, có tính chất hư cấu, tưởng tượng
- Các tình huống kể, các chi tiết tưởng tượng, sáng tạo phải hợp lí
- Dựa trên cơ sở các chi tiết đã có trong sách vở hay trong thực tiễn nhưng
phải có ý nghĩa.
- Thay đổi ngôi kể, mượn lời; tưởng tượng ra tình tiết mới; kết cục mới kể lại.
=> Đóng vai nhân vật, tự giới thiệu về hoàn cảnh nhân vật và kể lại sự việc

tác: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn trong một bài văn. Bên cạnh đó,
giáo viên cũng không quá chú trọng tới việc lập dàn ý thì học sinh sẽ nhanh chóng bỏ qua thao
tác tìm hiểu đề, tìm ý. Hơn nữa để tránh được sự nhàm chán, ỷ lại, phụ thuộc vào sách giáo
khoa, giáo viên lấy bài tập ngoài sách giáo khoa để học sinh có sự sáng tạo, có ý thức làm việc
tích cực
* Trong giờ trả bài Tập làm văn:
Đối với tiết học này, giáo viên chỉ dùng phương pháp gợi ý, định hướng cho học sinh để
các em có thói quen tiến hành các bước khi làm bài. Bắt buộc học sinh phải thiết lập các bước
này trên giấy nháp. Sau đó, giáo viên cùng lớp sữa chữa lại dàn ý đó. Dựa vào dàn ý đã chữa
các em có thể đối chiếu với bài làm của mình để biết được bài làm đủ ý chưa, sắp xếp theo trình
tự chưa, cách phát triển ý như thế nào.
* Phương pháp tìm ý:
1. Hướng dẫn học sinh tìm ý:
* Trong quá trình học sinh tìm hiểu đề các em đã xác định được yêu cầu của đề. Từ đó
các em có phản ứng ngay. Hàng loạt ý xuất hiện trong đầu các em thì lúc đó phải nhanh chóng
ghi ra giấy nháp, đó là ý độc đáo, sát với yêu cầu của đề, cũng có ý không cần thiết trong bước
tìm ý hoặc xa đề. Nhưng các em cũng phải ghi tất cả những ý mà mình mường tượng được vào
giấy nháp, sau đó sắp xếp lại.
* Ví dụ: Trong mơ, em đã được trò chuyện cùng Thánh Gióng. Hãy kể lại giấc mơ đó.
- Khi các em đã xác định yếu cầu của đề thì liệt kê một loạt ý sau:
+ Sau cuộc thi Hội khỏe Phù Đổng tôi mơ thấy Thánh Gióng
+ Một thanh niên rất khôi ngô, tuấn tú
+ Đang luyện tập võ nghệ bảo vệ xóm làng
+ Tôi đến gần một ngôi nhà mà anh đang tập võ nghệ.
+ Tôi hỏi anh làm thế nào để trở thành vị thánh
+ Gióng kể lại với tôi
+ Anh dạy cho tôi mấy đường võ
Tuy nhiên, đây là bước khởi đầu nên học sinh không tránh khỏi một số hạn chế nhất định
về tư duy, năng lực. Dẫu sao, cách làm này dù ít hay nhiều các em cũng hiểu được bước tìm ý.
2. Tìm ý bằng cách đặt câu hỏi: (phương pháp này có thể áp dụng cho học sinh có học

không khó khăn đối với các em. Chỉ việc dựa vào các ý mà các em sắp xếp lại thành dàn bài
(MB,TB,KB).
* Phương pháp lập dàn ý:
1. Học sinh lập dàn ý theo mẫu:
Dựa vào dàn ý có trong SGK của tiết luyện nói về văn tự sự (Trang 77- Ngữ văn 6 tập
1). Trên cơ sở dàn ý mẫu sẽ giúp học sinh không gặp khó khăn, nhưng nó có phần hạn chế ở
các em: Phụ thuộc vào sách giáo khoa, động cơ học tập không tích cực, tính sáng tạo ít, không
theo mạch cảm xúc của người kể
2. Phương pháp tự lập dàn ý:
Thông thường dàn ý có 3 phần (MB,TB,KB) những căn cứ từng kiểu bài để lập dàn ý.
Có nhiều cách lập dàn ý:
Ví dụ: Cho đề bài: Kể lại một kỉ niệm thời thơ ấu.
Cách 1:
* Mở bài: Giới thiệu sự việc định kể.
* Thân bài: Kể lại sự việc theo trình tự thời gian, không gian bằng hối tưởng.
* Kết bài: Kết quả của sự việc, cảm xúc, suy nghĩ của em về sự việc
Nếu giáo viên áp dụng cách 1 trên để lập dàn ý cho học sinh đại trà thì các em sẽ rất khó
triển khai ý, gặp khó khăn. Với dàn ý trên tôi thường đặt câu hỏi: Theo em dàn ý trên đã hợp lý
chưa?, Hãy bổ sung và sắp xếp lại nếu cần thiết? Với những bài tập này tôi thường yêu cầu học
sinh thảo luận nhóm để thiết lập lại một dàn ý đạt chuẩn. Điều đó kích thích được sự hứng thú
khi làm bài tập của các em.
3. Phương pháp lập dàn ý bằng cách sữa lại
Khi rèn luyện kĩ năng lập dàn ý, tôi thường ra các bài tập để rèn luyện. Có thể giáo viên
thiết lập một dàn ý chưa chính xác yêu cầu học sinh sữa lại. Phương pháp này thiết thực với học
sinh bởi các em đã biết sắp xếp ý, mà còn có khả năng nhận biết một dàn ý hoàn chỉnh. Bên
cạnh đó, tôi thường hướng dẫn học sinh triển khai ý bằng cách sắp xếp các ý đã tìm được theo
trình tự. Đặc biệt khi sắp xếp các ý đó các em cần phân biệt mức độ các ý. Trong dàn bài có ý
lớn, ý nhỏ thì phải đánh dấu bằng kí hiệu hoặc tô đậm, không trình bày các ý dàn đều nhau.
Ví dụ: Kể lại một kỉ niệm thời thơ ấu.
Cách 2:

Trên đây là một số thao tác lập dàn ý cho một đề văn tự sự. Với những phương pháp
trên, tôi hi vọng giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh lập dàn ý tốt, rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho
đề văn tự sự đối với học sinh lớp 6 thành thạo hơn và qua đây cũng giúp các em không bỡ ngỡ,
gặp khó khăn khi lập một dàn ý. Từ đó các em biết tìm ý, chọn ý và sắp xếp ý tìm được thành
một bài văn hoàn chỉnh đồng thời tạo thói quen được cho học sinh biết làm nháp trước khi trình
bày vào vở. Qua đó kích thích các em có tinh thần tự giác trong học tập, chất lượng học tập sẽ
được nâng cao rõ rệt, không khí lớp học sôi nổi. Học sinh ham học môn Tập làm văn, có khả
năng học tốt môn Tập làm văn và mạnh dạn trong việc tạo lập văn bản.
Nhờ thế mà kết quả học tập của lớp đạt cụ thể như sau:

Lớp Tổng số học sinh Kết quả
Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu
Dựa vào kết trên ta thấy số học sinh biết lập dàn ý (dàn ý đạt yêu cầu) được tăng lên rõ
rệt, chứng tỏ các em đã ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc lập dàn ý trước khi làm
bài văn. Điều tự tin hơn là các em không ngại và sợ khi phải lập dàn ý bởi vì một phần dàn ý
giúp các em chủ động hoàn toàn trong khi viết và không lúng túng khi diễn đạt. Có một dàn ý
khoa học thì các em sẽ chủ động phân phối thời gian hợp lí và làm bài văn được hoàn chỉnh.
Phần III: Kết luận
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã đúc rút được trong quá trình giảng
dạy của bản thân. Những kinh nghiệm trên đã được áp dụng đối với học sinh lớp 6 trong năm
học 2011-2012 và khẳng định được kết quả.
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục ứng dụng những kinh nghiệm này trong quá trình
giảng dạy của mình, đồng thời sẽ có những tìm hiểu thêm, những bổ sung hoặc điều chỉnh để đề
tài ngày càng hoàn thiện hơn, có hiệu quả cao hơn.
Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi, góp ý của quý đồng nghiệp về đề tài này để
bản thân tôi nói riêng và những người làm công tác giáo dục nói chung có thể gặt hái được
những kết quả cao hơn trong sự nghiệp trồng người của mình.
Phần IV: Kiến nghị
Để rèn luyện tốt kĩ năng lập dàn ý cho đề văn tự sự lớp 6 tôi đưa ra một số kiến nghị
sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status