CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
TT
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp Sở
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
Họ và tên
Ngày tháng Nơi công tác
năm sinh
1 Lê Chí Hoan
Chức vụ
Trình độ Tỷ lệ (%)
chuyên đóng góp
môn
vào việc
tạo ra sáng
kiến
Thạc Sĩ
50%
16/06/1982 Trường THPT Tổ phó
Bình Minh
chuyên môn
2 Đinh Hoàng Đạo
12/02/1978 Trường THPT Phó Hiệu
5) Kiểm tra, đánh giá: Đánh giá dựa trên tiêu chí có sẵn, và chỉ yêu cầu học sinh
tái hiện lại hình thức và kiến thức đã được học
Như vậy sẽ không phát huy được hết năng lực tư duy sáng tạo của HS
- Ưu điểm, nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục: Qua tìm hiểu, điều tra
chúng tôi thấy rằng đa số GV đã chú ý đến việc sử dụng bài tập trong quá trình dạy
học hóa học, tuy nhiên trong quá trình sử dụng bài tập còn có những hạn chế phổ biến
sau đây:
- Việc xác định mục đích cần đạt cho bài tập nhiều khi chỉ dừng lại ở bản thân
lời giải của bài tập mà chưa có được mục tiêu nhận thức, phát triển tư duy cho HS.
- Chưa chú trọng khuyến khích HS tìm lời giải thông minh, sáng tạo cho bài
toán mà bằng lòng với một cách giải đã biết.
Thực tiễn cho thấy bài tập hóa học không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến
thức đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tư duy và
rèn trí thông minh cho HS. Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập hóa học như là một phương
pháp dạy học hiệu nghiệm thì chưa được chú ý đúng mức.
GV và HS đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơn quá trình giải toán.
Tất nhiên, trong quá trình giải các thao tác tư duy được vận dụng, các kĩ năng suy
luận, kĩ năng tính toán, kĩ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng được rèn
luyện. Thế nhưng, nếu chú ý rèn tư duy cho HS trong quá trình giải thì việc giải để đi
đến đáp số của các bài toán sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho HS hoạt động tìm ra đáp
số của bài toán. Để phát triển tư duy và rèn trí thông minh cho HS thì làm như thế là
chưa đủ, thông qua hoạt động giải bài toán hoá học luôn khuyến khích HS tìm nhiều
cách giải cho một bài tập, chọn cách giải hay nhất, ngắn gọn nhất.
Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng HS cùng tham gia tranh luận.
Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phương pháp hay sẽ tạo ra cho HS
niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy, nỗ lực suy nghĩ tìm ra cách giải
hay hơn thế nữa.
thức rằng hoạt động của tư duy không thể tách rời yếu tố cảm xúc, ý chí ở tầng vô thức
và hữu thức. Cảm xúc không phải là tri thức, nhưng lại là một yếu tố cần thiết cấu
thành và là môi trường xúc tác của quá trình tư duy.
Năng lực tư duy của con người như bao gồm cả yếu tố bẩm sinh. Thực tế đã
chứng minh, yếu tố bẩm sinh có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ ở dạng khả năng, có
thể rèn luyện nâng cao, phát huy được, vì nếu không có tác nhân xã hội thì sẽ mai một
dần. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự
nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác tập luyện mà có”.
Các cấp độ của tư duy
Trong lĩnh vực giáo dục, thang cấp độ tư duy có thể được xem là một công cụ
nền tảng để từ đó xây dựng và sắp xếp các mục tiêu giáo dục, xây dựng các chương
trình, qui trình giáo dục và đào tạo, xây dựng và hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập dùng
để kiểm tra, đánh giá quá trình học tập. Thang cấp độ tư duy đầu tiên được xây dựng
bởi Benjamin S. Bloom (1956) , thường được gọi tắt là Thang Bloom hay Bảng phân
loại Bloom (Bloom’s Taxonomy) bao gồm 6 cấp độ sau:
Biết (knowledge): Là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây, nghĩa là có
thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến
các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết.
Thông hiểu (comprehension): Là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, được
định nghĩa là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của tài liệu, có thể chuyển thông
tin từ dạng này sang dạng khác (từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại),
giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và ước lượng xu hướng tương lai (dự báo
các hệ quả hoặc ảnh hưởng).
Vận dụng (application): Là cấp độ thấu hiểu cao hơn, là khả năng sử dụng các
tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới, nghĩa là áp dụng các quy tắc, phương
pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết để giải quyết một vấn đề nào đó
bằng cách so sánh các phương án, phát hiện lời giải có sai lầm và chỉnh sửa được, giải
quyết được tình huống mới, khái quát hóa, trừu tượng hóa tình huống quen thuộc sang
tình huống mới phức tạp hơn.
Phân tích (analysis): Thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và
lớp TN và ĐC tương đương nhau về các mặt sau:
- Số lượng HS và chất lượng học tập bộ môn.
- Cùng một GV giảng dạy.
Trường
TN
ĐC
GV thực hiện
Lớp
Số HS
Lớp
Số HS
THPT
12A
50
12B
50
Lê Chí Hoan
11A
49
11B
50
Nguyễn Thọ Lộc
Bình Minh
Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi đã trao đổi với GV giảng dạy về hướng sử dụng hệ thống BTHH theo
các hướng đề xuất của sáng kiến, GV tiến hành dạy các bài TN ở lớp TN. Sau đó
* Chuẩn Studen’t (t)
Trong đó: X 1 và X 2 là điểm trung bình cộng của nhóm TN và nhóm ĐC
S1 và S2 là độ lệch chuẩn của nhóm TN và nhóm ĐC
n1 và n2 là kích thước mẫu của nhóm TN và nhóm ĐC
Sau đó so sánh giá trị tTN với tLT ( α = 0,05 và f = n1 + n2 – 2)
- Nếu tTN ≥ tLT chứng tỏ sự khác nhau giữa X 1 và X 2 do tác động của phương
án thực nghiệm là có ý nghĩa với mức ý nghĩa 0,05.
- Nếu tTN < tLT chứng tỏ sự khác nhau giữa X 1 và X 2 do tác động của phương
án thực nghiệm là không có ý nghĩa với mức ý nghĩa 0,05.
Kết quả thực nghiệm sư phạm
Nhập các công thức tính vào bảng Excel ta có kết quả được ghi ở bảng sau:
Lớp
12A
12B
11A
11B
PA
TN
ĐC
TN
ĐC
Bảng 1: Bảng mô tả số liệu thực nghiệm sư phạm
TS
Điểm xi
0
1
2
8
12
14
50
0
0
0
2
4
12
15
11
Bảng 2: Bảng tần số và tần suất theo loại
Loại
Giỏi
Khá
TB
8
12
7
8
5
9
5
2
3
ĐC
TN
ĐC
7
2
4
1
14.00
4.00
8.16
2.00
28
21
22
16
56.00
42.00
44.90
32.00
14
21
20
27
28.00
42.00
40.82
54.00
4
5
6
7
8
9
10
12A
12B
11A
11B
Lớp
12A
12B
11A
11B
TN
ĐC
TN
ĐC
PA
TN
0
0
1
0
0
0
2
1
2
1
6
3
6
4
12
11
18
15
27
23
33
31
41
37
8
9
10
86.0 96.0 100.0
96.0 100.0 100.0
91.8 98.0 100.0
98.0 100.0 100.0
Dựa vào bảng tần số lũy tích ta có đồ thị đường lũy tích so sánh kết quả kiểm
tra các lớp thực nghiệm và đối chứng như sau:
Hình 3: Đồ thị đường lũy tính so sánh HS 2 lớp 12
Hình 4: Đồ thị đường lũy tính so sánh HS 2 lớp 11
Bảng 5, 6: Một số đại lượng thống kê
Bảng 5:
Lớp PA TS
HS 0
1
2
3
12A
12B
11A
11B
TN
ĐC
0
2
0
0
0
3
3
6
∑ (x )
TB
i
4
4
16
8
16
5
15
30
40
60
6
7.2
6.3
6.6
6.0
TS HS
Si2
V(%)
M
S2
tTN
50
50
49
50
1.85
2.01
1.94
1.67
18.87
22.52
21.08
- Điểm trung bình cộng của HS khối lớp TN luôn cao hơn so với điểm trung
bình cộng của HS khối lớp ĐC.
- Hệ số biến thiên (V) đều nhỏ hơn 30% chứng tỏ là độ dao động là đáng tin
cậy. Hệ số biến thiên ở lớp TN nhỏ hơn so với hệ số biến thiên ở lớp ĐC cho thấy kết
quả ở lớp TN đồng đều hơn.
- tTN > tLT chứng tỏ sự khác nhau giữa X TN và X DC do tác động của phương án thực
nghiệm là có ý nghĩa với mức độ ý nghĩa 0,05.
- Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:
1) Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng và sử dụng BTHH có nhiều cách giải đa
dạng phong phú để rèn tư duy cho HS ở trường THPT một cách có hệ thống.
2) Đưa ra một số ý kiến về phương pháp sử dụng hệ thống BTHH có nhiều
cách giải nhằm phát triển năng lực tư duy HS ở trường THPT.
3. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
- Hiệu quả kinh tế: Từ kết quả TNSP và các biện pháp khác như: dự giờ xem
xét các hoạt động của GV và HS trên lớp, trao đổi với GV và HS, xem vở bài tập…
cho phép chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
- Qua việc sử dụng BTHH thông qua việc lựa chọn và tổ chức để HS tìm ra
cách giải BTHH sẽ giúp HS thông hiểu kiến thức một cách sâu sắc hơn, điều đó cho
thấy chính người sử dụng bài tập mới làm cho bài tập có ý nghĩa thật sự.
- Đã xây dựng được tiến trình luận giải giúp cho HS biết phải bắt đầu giải bài
toán từ đâu, kịp thời bổ sung những lỗ hổng kiến thức, hiểu được từng từ, từng câu,
từng khái niệm của bài toán, giúp HS vượt qua được những chướng ngại nhận thức.
- HS ở khối lớp TN không chỉ phát triển được năng lực tư duy nhanh nhạy, sáng
tạo mà còn rèn được cả cách nói và trình bày lập luận của mình một cách lôgic, chính
xác, khả năng độc lập suy nghĩ được nâng cao dần.
- Với HS các lớp ĐC gặp khó khăn trong việc xác định nhanh hướng giải bài
toán, hầu hết đều sử dụng phương pháp truyền thống để giải vừa mất thời gian mà
nhiều bài gặp bế tắc khó có thể giải được.
Ngoài ra đòi hỏi sự tham gia tích cực và tự giác của HS, mà điều đó lại phụ thuộc vào:
Yếu tố tinh thần, năng lực và môi trường học tập.
- Khả năng áp dụng:
Sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả các trường THPT, vì đã đưa ra
các ví dụ cụ thể, đa dạng cho từng dạng câu hỏi, bài tập và có hướng dẫn trả lời chi tiết
cho từng ví dụ
Sau khi tuyển chọn, xây dựng được hệ thống bài tập nhiều cách giải, GV có thể
sử dụng hệ thống bài tập này như sau:
Sử dụng trong các tiết ôn tập, luyện tập
Trong các tiết ôn tập và luyện tập, thời gian tương đối ít nên việc giải bài tập
bằng nhiều cách là không có thời gian. Vì vậy, trong các tiết này, chủ yếu GV gợi ý
những hướng có thể giải được cho một bài toán sau đó phân công cho từng nhóm HS,
mỗi nhóm một cách sau đó HS chuẩn bị bài ở nhà.
Sử dụng trong các tiết tự chọn
Từ năm học 2006 – 2007 đến nay, Bộ GD và ĐT cho phép các trường tự chọn
thêm một số tiết cho các môn học. Với lí do nội dung kiến thức liên thông từ lớp 8 đến
lớp 12 nên nhiều trường đã thêm tiết tự chọn cho môn hóa học. Việc sử dụng bài tập
nhiều cách giải trong các tiết này không những giúp HS khắc sâu bản chất hóa học mà
còn tăng hứng thú học tập cho HS để từ đó phát triển tư duy cho HS. Trong các tiết
này, GV cho các nhóm HS trình bày các chuẩn bị của mình rồi đánh giá, sửa chữa.
Sử dụng trong việc tự học của học sinh
Đây là biện pháp hữu hiệu nhất. Để hướng dẫn HS tự học ở nhà có hiệu quả,
GV phải chuẩn bị hệ thống bài tập, giao nhiệm vụ cụ thể và có sự kiểm tra, đánh giá
kết quả. Đối với những HS khá, giỏi thì phương pháp này sẽ rất hữu hiệu.
Sử dụng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Bồi dưỡng HS giỏi là một nội dung không thể thiếu trong quá trình dạy học.
Trong bồi dưỡng HS giỏi, ngoài việc yêu cầu HS nắm vững kiến thức, kĩ năng thực
hành thì việc giải các bài toán hóa học là một nội dung không thể thiếu được. Trong
việc rèn kĩ năng giải bài tập và rèn tư duy cho HS thì việc giải bài tập bằng nhiều cách
là một cách làm mang khá hữu hiệu.
1) Lê Chí Hoan ………………
2) Đinh Hoàng Đạo …………..
3) Nguyễn Thọ Lộc …………..
PHỤ LỤC
PHẦN I: VÍ DỤ MINH HỌA
Ví dụ 1: Cho 3,68 gam hỗn hợp gồm Al và Zn tác dụng với một lượng vừa đủ dung
dịch H2SO4 loãng thu được 2,24 lít khí H 2 (đktc). Khối lượng muối thu được sau phản
ứng là
A. 13,28 gam.
B.13,68 gam.
C.20,12 gam.
D.16,90 gam.
Bài toán này có thể được sử dụng cho HS sau khi học xong chương nhóm oxi ở
lớp 10 hoặc chương Đại cương về kim loại ở lớp 12. GV ra bài tập, gợi ý và yêu cầu
HS giải bài toán này bằng các cách khác nhau, GV sẽ kiểm tra và chữa ở tiết tự chọn
tới. Ngoài ra GV có thể phân công mỗi nhóm một cách giải.
Lời giải
Cách 1. Phương pháp đại số
Nếu HS chưa được trang bị nhiều về phương pháp giải toán thì thường các em đều làm
theo cách này.
- Theo bài ra: nH = 0,1 mol
Phương trình hóa học các phản ứng:
2Al + 3H2SO4 → Al2(SO4)3 + 3H2
; Zn + H2SO4 → ZnSO4 + H2
x
1,5x
0,5x
y = 0, 04
Vậy: mmuối = 13,28 g (Đáp án A)
Phương pháp bảo toàn electron sẽ giúp HS tư duy bài boán dưới góc độ phản ứng oxi
hóa - khử từ đó khắc sâu bản chất của các phản ứng.
Cách 3. Bảo toàn điện tích
(Phương pháp này chỉ dành cho HS sau khi học chương Sự điện li lớp 11)
- Ta có: n(-) = 2 nSO
4
2−
= nH = 2 nH = 0,2 mol
+
2
Trong dung dịch sau phản ứng:
n(+) = 3 nAl + 2 nZn = 3x + 2y (Với x, lần lượt là số mol Al và Zn)
Sau phản ứng số mol SO42- không đổi nên áp dụng bảo toàn điện tích cho dung dịch
sau phản ứng ta có: 3x + 2y = 0,2
3+
2+
- Mặt khác mhh = 27x + 65y = 3,68 g. Từ đó ta có hệ phương trình:
27 x + 65 y = 3, 68 x = 0,04
⇒
Khi chuyển 1 gam Al thành 1 gam Zn thì số mol H2 thoát ra sẽ giảm một lượng là:
3 1
1
47
× −
=
mol
2 27 65 1170
Vậy trong phép giả sử trên ta đã chuyển lượng Zn thành Al là:
47 47
:
= 2, 6 g
450 1170
Do đó trong hỗn hợp đầu có 2,6g Zn và 3,68 – 2,6 = 1,08g Al
1
2
1 1, 08
2, 6
= 0, 02mol ; nZnSO4 = nZn =
= 0, 04mol
2 27
65
Vậy: nAl ( SO ) = nAl = ×
2
2
4 3
4
⇒ mmuối = 13,28 g (Đáp án A)
Phương pháp số học tuy dài nhưng có tác dụng tốt trong việc rèn tư duy logic toán học
cho HS.
Cách 5. Phương pháp trung bình
Đặt công thức chung của hỗn hợp là M ta có phản ứng:
Cách 5.1. Viết phương trình hóa học của phản ứng
2 M + nH 2 SO4 → 2 M 2 ( SO4 ) n + nH 2
0, 2
n
0,1
n
- Ta có: mKL =
Và: mmuối =
0,1 (mol)
0, 2
M
0,1
3, 68
× n = 0, 2 ⇒ M = 18, 4n
M
n
n 3, 68
= 0,1mol
- Mặt khác theo bảo toàn điện tích ta có: nSO42− = × n n+ = ×
2 M
2 M
Vậy: mmuối = mM + mSO 2− = 3,68 + 9, 6 = 13, 28 g (Đáp án A)
- Áp dụng bảo toàn electron ta có:
4
Cách 6. Bảo toàn khối lượng, bảo toàn nguyên tố
Áp dụng bảo toàn nguyên tố H ta có: nH SO = nH = 0,1mol
Mặt khác theo bảo toàn khối lượng:
mmuối = mKL + mH SO − mH = 3, 68 + 0,198 − 0, 2 = 13, 28 g (Đáp án A)
Cách 7. Bảo toàn nguyên tố, tăng giảm khối lượng
Áp dụng bảo toàn nguyên tố H và S ta có:
2
2
4
Theo bài ra ta có: nSO = 0, 45mol
Cách 1: Phương pháp đại số
Đặt x, y lần lượt là khối lượng của Fe và Al trong hỗn hợp đầu
Phương trình hóa học của các phản ứng:
2
Vậy m = 0,05.400 + 0,1.342 = 54,2.
Cách 2. Bảo toàn electron
Các quá trình oxi hóa - khử:
Fe → Fe3+ + 3e ; Al → Al3+ + 3e ; S+6 + 2e → S+4 (SO2)
X
3x
y
3y
0,9
0,45
- Theo bảo toàn electron ta có: 3x + 3y = 0,9
- Mặt khác mhh = 56x + 27y = 11 g
Giải hệ 2 phương trình trên ta được: x = 0,1; y = 0,2
⇒ nFe ( SO ) = 0, 05mol ; nAl ( SO ) = 0,1mol
Vậy m = 0,05.400 + 0,1.342 = 54,2 g.
Cách 3. Dùng công thức trung bình
Đặt công thức chung của 2 kim loại là M
Cách 3.1. Kết hợp với viết phương trình phản ứng
2
4 3
2
1
1
nFe = 0, 05mol; n Al2 ( SO4 ) 3 = n Al = 0,1mol
2
2
Vậy m = 0,05.400 + 0,1.342 = 54,2 g.
Cách 4. Phương pháp bảo toàn khối lượng
Ta có: mKL + mH SO ( pu ) = mmuoi + mSO + mH O
2
4
2
2
⇒ mmuoi = mKL + mH 2 SO4 ( pu ) − (mSO2 + mH 2O )
Mặt khác theo phương trình phản ứng trên ta có: nH O = nH SO ( pu ) = 2nSO = 0,9mol
⇒ m = 11 + 0,9.98 – (0,45.64 + 0,9.18) = 54,2 g.
Cách 5. Phương pháp bảo toàn điện tích
Quá trình khử: 4H+ + SO42- + 2e → SO2 + 2H2O
2
Áp dụng bảo toàn điện tích ta có: nSO
4
Vậy m = 0,05.400 + 0,1.342 = 54,2.
Cách 6.2. Giả sử 0,45 mol SO2 là do Fe sinh ra
⇒n=
2
nSO = 0,3mol ⇒ mFe = 16,8 g
3 2
Trong thực tế: khối lượng hỗn hợp là 11g nên trong phép giả sử trên đã làm tăng 5,8g
hỗn hợp
Mặt khác cứ thay 1mol SO2 được tạo ra do Al bằng 1 mol SO 2 được tạo ra do Fe thì
khối lượng hỗn hợp tăng một lượng là:
2
2
58
× 56 − × 27 =
g
3
3
3
Như vậy trong phép giả sử trên ta đã thay số mol SO2 sinh ra do Al bằng SO2 sinh ra do
Fe một lượng là: 5,8 :
58
= 0,3mol
3
Như vậy số mol SO2 do Al tạo ra là 0,3 mol nên
Vậy a = 0,01.100 = 1; b = 0,005.100 = 0,5
Ngoài ra ta cũng có thể dùng phương trình ion rút gọn dưới dạng nối tiếp hoặc song
song để giải bài toán này:
Cách 2. Bảo toàn nguyên tố
Đặt số mol của CaCO3 là x; số mol Ca(HCO3)2 là y ta có:
Bảo toàn nguyên tố C: nC = nCO = x + 2y = 0,02.
2
Bảo toàn nguyên tố Ca: nCa = nCa (OH ) = x = y = 0,015
Từ đó ta có x = 0,01; y = 0,005
Vậy a = 0,01.100 = 1; b = 0,05.100 = 0,5
Cách 3. Bảo toàn điện tích kết hợp với bảo toàn nguyên tố
Trong dung dịch X gồm có các ion Ca2+ và HCO3- Đặt số mol Ca2+ là x thì số mol HCO3- trong dung dịch X là 2x (bảo toàn điện tích)
Do đó số mol CaCO3 là 0,015 – x (bảo toàn nguyên tố Ca)
2
Vậy a = 0,01.100 = 1; b = 0,005.100 = 0,5
Cách 4. Phương pháp sơ đồ chéo
Đặt T =
nCO
2
nCa ( OH )2
ta có:
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O nếu T = 1
Cách 1. Phương pháp đại số
- Đặt x, y, z, t lần lượt là số mol của Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3:
Phương trình đã cho:
mhh = 56x + 72y + 232z + 160t = 12
(1)
ne cho = 3x+ y+ z = 0,3
(2)
Biểu thức cần tìm: m = 56(x+ y+3z+2t) (3)
Trong bài tập này, số ẩn cần tìm là 4 trong khi chỉ có 2 phương trình đã biết, do
đó, bài toán không thể giải bằng phương pháp đại số thông thường (đặt ẩn – giải hệ) để
tìm ra giá trị của mỗi ẩn mà chỉ có thể bằng cách ghép ẩn số, đi từ phương trình đã cho
đến biểu thức cần tìm bằng các cách sau:
Cách 1.1. Đồng nhất hệ số
Gọi A và B là hệ số của các phương trình (1) và (2) sao cho:
A × (1) + B × ( 2) = (3)
⇒ A (56x + 72 y + 232z + 160t ) + B (3x + y + z ) = 56( x + y + 3z + 2t )
Tiến hành đồng nhất hệ số của x, y, z, t ở 2 vế của phương trình trên, ta có:
m = 0, 7 (1) + 5, 6 ( 2) = 10,08g
Cách 1.2. Tách ghép ẩn
Trong bài tập này, phương pháp ghép ẩn – giải hệ được thực hiện với 2 biểu thức sau:
nFe = x + y + 3z + 2t
(4)
nO = y + 4z + 3t
(5)
Với 2 biểu thức đã cho và dữ kiện đề bài, ta có:
Gọi công thức phân tử trung bình cả hỗn hợp A là FexOy
Áp dụng định luật bảo toàn electron cho phản ứng của A với HNO3, ta có:
Cách 5.3. Dùng công thức trung bình kết hợp với bảo toàn điện tích
Gọi công thức chung của cả hỗn hợp A là FexOy , ta có PTHH biểu diễn phản ứng dưới
dạng ion thu gọn là:
Cách 6. Phương pháp quy đổi
Cách 6.1. Quy đổi phân tử
Có rất nhiều cách quy đổi CTPT các oxit của Fe, vì thực ra, kết quả quy đổi nào cũng
chỉ là một giả định và không ảnh hưởng đến kết quả bài toán.
Do khi hỗn hợp A phản ứng với HNO 3 thì chỉ có Fe cho nhiều electron nhất và Fe 2O3
không cho electron, nên cách đơn giản nhất là quy đổi hỗn hợp A thành Fe và Fe 2O3
(do 3FeO→ Fe. Fe2O3)
Như vậy khi cho A + HNO3 chỉ có Fe phản ứng cho khí NO
⇒ nFe ( pu ) = nFe ( trongA ) + 2nFe2O3 (trongA) = 0,18mol
⇒ m = 10,08 g.
Lưu ý: Sau khi quy đổi có thể kết hợp với phương pháp bảo toàn electron để giải bài
toán này
Cách 6.2. Phương pháp quy đổi nguyên tử
Hỗn hợp A gồm Fe và các oxit của nó có thể quy đổi thành một hỗn hợp chỉ gồm
nguyên tử Fe và O có số mol tương ứng là x và y.
Áp dụng phương pháp bảo toàn electron ta có:
Từ đó ta có phương trình: 3x + 2y = 0,3 (*)
Mặt khác mhh = 56x + 16y = 12 (**)
x
x
x
mol
⇒ Hỗn hợp B gồm an kan CnH2n+2 và H2 dư (y – x mol)
Cách 1. Phương pháp đại số
Đặt ẩn, lập hệ phương trình rồi kết hợp với tách ghép ẩn. Vì phương pháp này khá dài
nên tôi không trình bày cụ thể.
Cách 2. Bảo toàn khối lượng + Khối lượng mol trung bình
mA= mB ⇔ 6.2 (x + y) = 8.2 (x + y - x) ⇔ 6 (x + y) = 8y ⇔ y = 3x