PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT..........................................................................3
PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.............................................................4
PHẦN II: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ VÀ
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ:
“CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914 - 1918 (TRƯỜNG HỢP
CỤ THỂ ĐỐI VỚI TRÒ CHƠI CỦNG CỐ BÀI HỌC)”......................8
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN........................................................................8
I. Nguyên nhân của chiến tranh chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)
...................................................................................................................8
1. Nguyên nhân sâu xa...............................................................................8
2. Nguyên nhân trực tiếp............................................................................8
II. Diễn biến chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918).....8
1. Giai đoạn I (1914-1916).........................................................................8
2. Giai đoạn II (1916 – 1918).....................................................................9
III. Kết cục, tính chất và tác động của Chiến tranh thế giới thứ nhất....9
1. Kết cục, tích chất của Chiến tranh thế giới thứ nhất...............................9
2. Tác động của Chiến tranh thế giới thứ nhất đến tình hình thế giới.........10
2.1. Thế giới...............................................................................................10
2.2. Việt Nam............................................................................................10
B. PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT
KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC CHUYÊN
ĐỀ: CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914 - 1918 (TRƯỜNG
HỢP CỤ THỂ ĐỐI VỚI TRÒ CHƠI CỦNG CỐ BÀI HỌC)...............12
1. Cơ sở khoa học......................................................................................12
1.1. Xu thế phát triển và yêu cầu đổi mới của nền giáo dục Việt Nam........12
1.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT...................................................14
1.3. Ứng dụng CNTT vào thiết kế trò chơi Lịch sử và những ưu thế vượt trội.
...................................................................................................................
1
THPT
Trung học cơ sở
THCS
Dạy học Lịch sử
DHLS
Công nghệ thông tin
CNTT
Kĩ năng
KN
Giáo viên
GV
Học sinh
HS
Sách giáo khoa
SGK
tự học của người học” [3; 7]. Từ khi thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo,
chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng. Tuy nhiên, cho đến nay giáo
dục và đào tạo vẫn còn yếu kém và còn bất cập trước yêu cầu mới, cần được
tiếp tục đổi mới mạnh dạn và triệt để hơn [4; 1]. Hơn nữa, xuất phát từ thực
trạng dạy và học môn Lịch sử trong những năm gần đây đang trở thành một
vấn đề nhức nhối hơn bao giờ hết, được cả xã hội quan tâm. Vì vậy, các nhà
giáo dục đã ra sức tìm tòi và thử nghiệm nhiều phương dạy học mới “dạy học
4
theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm nhằm nâng cao hiệu quả và
chất lượng dạy học”.
Môn Lịch sử đang đứng trước những vấn đề tranh cãi căng thẳng trước
nguy cơ bị mất đi vị trí một môn khoa học cơ bản độc lập. Vì vậy, những nhà
giáo dục của bộ môn này càng cần tăng cường đổi mới, tìm tòi ra những
phương pháp để hiệu quả bài học Lịch sử cũng như chất lượng dạy và học Lịch
sử được nâng cao. Từ đó, vị thế của môn học sẽ được nhìn nhận một cách xác
đáng, không thể tích hợp làm mất đi tính khoa học của bộ môn. Trên thực tế,
trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông những năm gần đây, giáo viên đã cố
gắng sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp dạy học hiện đại và tích cực như:
dạy học vận dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại, dạy học dự án, dạy học theo
nhóm… Tuy nhiên còn chưa khai thác được tối đa hiệu quả của những phương
pháp hiện đại đó, thêm vào đó là kĩ năng tự học môn Lịch sử của học sinh còn
chưa cao.
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào các lĩnh vực trong đời sống không còn xa lạ nữa. Và ngành giáo
dục cũng từng bước tiếp cận với công nghệ hiện đại.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường như một công cụ
lao động giúp Ban giám hiệu nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, giúp các
thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học, trang bị cho học sinh kiến thức về
Chuyên đề Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918) là một nội dung
quan trọng nằm trong Lịch sử thế giới hiện đại. Cùng với thắng lợi của cách
mạng tháng 10 Nga năm 1917, chiến tranh thế giới thứ nhất đã mở ra một giai
đoạn mới trong Lịch sử thế giới: Lịch sử thế giới hiện đại. Do ý nghĩa mang
tính bản lề đó, chuyên đề Chiến tranh thế giới thứ nhất đóng vai trò quan trọng
trong nội dung ôn thi THPT Quốc gia phần Lịch sử thế giới. Vì vậy, việc giáo
viên ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế và tổ chức các trò chơi Lịch sử
giúp học sinh có sự hứng thú trong học tập, có cái nhìn tổng quan về kiến thức,
nắm được bản chất của sự kiện hay dữ liệu Lịch sử trong Chuyên đề Chiến
tranh thế giới thứ nhất là vô cùng cần thiết.
Từ thực tế giảng dạy và hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức mới, ôn
tập, chúng tôi đã thu được kết quả nhất định. Vì vậy, Sáng kiến kinh nghiệm
này sẽ tập trung vào vấn đề cụ thể là “Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết
6
kế và tổ chức trò chơi Lịch sử trong dạy học chuyên đề: Chiến tranh thế
giới thứ nhất 1914 - 1918 (trường hợp cụ thể đối với trò chơi củng cố bài
học)”. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng Ban
giám khảo và các thầy cô.
PHẦN II: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ VÀ
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ:
“CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914 - 1918 (TRƯỜNG HỢP
CỤ THỂ ĐỐI VỚI TRÒ CHƠI CỦNG CỐ BÀI HỌC)”.
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN.
I. Nguyên nhân của chiến tranh chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 –
1918).
7
Chiến tranh đế quốc bùng nổ.
- Năm 1914:
+ Ở phía Tây ngay đêm 3-8 Đức tràn vào Bỉ, đánh thọc sang Pháp. Đức
chiếm được Bỉ, một phần nước Pháp uy hiếp thủ đô Pari.
+ Cùng lúc ở phía Đông; Nga tấn công Đông Phổ, cứu nguy cho Pari.
- Năm 1915:
+ Đức, áo - Hung dồn toàn lực tấn công Nga, hai bên ở vào thế cầm cự
trên một mặt trận dài 1200 km.
8
- Năm 1916:
+ Đức chuyển mục tiêu về phía Tây tấn công pháo đài Véc-đoong, Đức
không hạ được.
Véc-đoong, 2 bên thiệt hại nặng.
2.Giai đoạn II (1916 – 1918).
Thời gian
2/1917
2/4/1917
Trong năm 1917
11/1917
3/3/1918
Đầu 1918
7/1918
9/11/1918
1/11/1918
Sự kiện chính
9
+ Các nước tư bản châu Âu suy yếu: Đức suy sụp, Anh, Pháp kiệt quệ và đều
trở thành con nợ của Mĩ.
+ Các nước tư bản ngoài châu Âu: Mĩ và Nhật đều giàu lên nhanh chóng sau
chiến tranh.
- Chiến tranh thế giới đã tạo điều kiện khách quan cho sự bùng nổ và
thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga. Nước Nga Xô Viết ra đời đã tạo ra
bước chuyển lớn trong cục diện chính trị thế giới: Chủ nghĩa tư bản không còn
là hệ thống duy nhất trên thế giới.
- Chiến tranh thế giới đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở Á,
Phi, Mĩ Latinh phát triển mạnh mẽ.
2.2. Việt Nam.
- Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, đế quốc Pháp tham chiến.
Toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố: "Nhiệm vụ chủ yếu của Đông Dương là
phải cung cấp cho chính quốc đến mức tối đa nhân lực, vật lực và tài lực (Báo
Dư luận tháng 8/1914)”. Thực hiện chủ trương đó, Pháp ra sức vơ vét tối đa
sức người, sức của ở Đông Dương để gánh đỡ những tổn thất và thiếu hụt của
Pháp trong chiến tranh.
+ Pháp tăng thuế, bắt nhân dân Việt Nam mua công trái, vơ vét lương
thực, nông lâm sản, kim loại… đem về Pháp.
+ Sự cướp bóc của Pháp ảnh hưởng trầm trọng đến kinh tế - xã hội Việt
Nam: chuyển biến kinh tế và xã hội phân hóa….
- Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ:
Khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên; Khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao
Vân; Phong trào Hội Kín Nam Kỳ,…
10
Theo các nhà lí luận dạy học, phương pháp dạy học là cách thức, là con
đường đi tới nhận thức sự vật hiện tượng khách quan hay là sự tập hợp các
phương tiện để đạt đến mục đích đề ra. Cũng có các ý kiến cho rằng “phương
pháp dạy học là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động thống nhất của giáo
viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo
của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”. Như vậy, khi bàn đến
phương pháp dạy học, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau song tất cả đều hướng
đến tính mục tiêu của quá trình dạy học và vai trò của giáo viên và học sinh
trong quá trình dạy học.
Bên cạnh đó, một yếu tố không thể thiếu đảm nhiệm vai trò trung gian
của quá trình dạy học đó chính là phương tiện dạy học. Xét trên phương diện
mục tiêu, chúng ta có thể thấy quá trình dạy học cũng chính là quá trình truyền
thông. Bởi vì truyền thông là sự chuyển tải thông tin từ một hoặc một nhóm
đối tượng này đến một hoặc một nhóm đối tượng khác nhằm cung cấp kiến
12
thức, thay đổi nhận thức và cải biến hành vi của con người. Điểm khác biệt ở
dạy học và các loại hình truyền thông khác là ở chỗ: dạy học là quá trình
truyền thông nhiều chiều trong đó học sinh là đối tượng trung tâm, là chủ thể
và giáo viên đóng vai trò chủ đạo để quá trình truyền thông đạt hiệu quả. Ở
phạm vi hẹp, quá trình dạy học Lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình
dạy học mang tính đặc thù. Dạy học Lịch sử là quá trình giúp học sinh tìm hiểu
những gì đã diễn ra ở quá khứ, và mục tiêu của bộ môn Lịch sử chính là việc
giúp học sinh biết quá khứ, hiểu quá khứ đồng thời rút ra những bài học từ quá
khứ để vận dụng vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Hay nói cách khác
đó cũng chính là quá trình giúp học sinh nắm kiến thức và hình thành kĩ năng,
kĩ xảo và vận dụng kiến thức, kĩ năng đó vào giải quyết những vấn đề của cuộc
sống. Vấn đề khó khăn nhất của bộ môn Lịch sử là việc tái hiện những sự kiện,
những hiện tượng và nhân vật Lịch sử. Để biết, hiểu và vận dụng Lịch sử yêu
học sinh, sự hứng thú tìm hiểu sâu sắc hơn những vấn đề được học. Chính điều
đó phát huy được năng lực nhận thức sáng tạo của học sinh, thôi thúc các em
phải tìm tòi, suy nghĩ để linh hoạt, nhạy bén hơn.
Nhìn trong thực tế có thể thấy tư duy của học sinh ở độ tuổi này phát
triển không đồng đều, có em nhận thức nhạy bén và rất nhanh, sâu sắc, nhưng
cũng có em nhận thức còn chậm và nông hơn. Vì thế, khi tổ chức trò chơi trong
quá trình học tập Lịch sử cho học sinh thì giáo viên cũng phải chú ý đến “tính
vừa sức” cho học sinh, phải đảm bảo về mặt bằng kiến thức chung cho học
sinh trong lớp nhưng vẫn có thể thực hiện cá thể hóa, để khích lệ và phát huy
khả năng và trí tuệ của từng học sinh trong quá trình tìm hiểu vấn đề mà giáo
viên đưa ra.
Ngoài ra, ở độ tuổi 16 - 18 các em học sinh thường rất hiếu động, ham
hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá những “bí mật” và muốn khẳng định mình.
Tuy nhiên trong quá trình đó, học sinh cần có người định hướng cho mình cách
làm, hướng đi để tránh rơi vào tình trạng ngộ nhận, chủ quan.
Hơn nữa, trong cuốn “Tâm lý học của thiếu niên. Những đặc điểm về
hoạt động tư duy của thiếu niên”, tác giả V. A. Kruteski và N. X. Lukin đã
khẳng định: “Đối với thiếu niên, sự phát triển tính độc lập và tính phê phán của
tư duy đặc biệt rất rõ rệt và ngay cả tới mức sôi nổi” [12; 9]. Như người ta
thường nói, đó là một phạm vi hoàn toàn mới mẻ về hoạt động tư duy của học
14
sinh THPT đối với các cấp học trên. Nhờ ảnh hưởng của việc học tập ở trường,
của sự phát triển ý thức chung và riêng ở tuổi đó mà kĩ năng, nhu cầu suy nghĩ
độc lập của các em được phát triển. Học sinh THPT khát vọng được hoạt động
và vận động trong tư duy học tập, tham gia và làm chủ tiết học, khi đó, việc tổ
chức các trò chơi Lịch sử mang một ưu thế vượt trội.
Với những đặc điểm nhận thức của học sinh THPT trong quá trình học
tập nói chung và học tập Lịch sử nói riêng, chúng tôi thấy việc ứng dụng
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích
cực” trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động.
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học. Muốn đổi mới cách học thì phải đổi mới cách dạy.
Phương pháp dạy học tích cực là tích hợp gồm nhiều phương pháp cơ
bản: vấn đáp tìm tòi, dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án, dạy và học hợp tác
trong nhóm nhỏ, dạy và học theo lý thuyết kiến tạo, trò chơi, sắm vai, mô
phỏng, động não, khám phá, dạy và học có sử dụng các phương pháp dạy học
hiện đại, nghiên cứu, điển hình, thí nghiệm.
Đối với bộ môn Lịch sử, quá trình đổi mới phương pháp dạy học luôn
hướng vào giải quyết một vấn đề: để phát triển tư duy độc lập cho học sinh
trong học tập Lịch sử người giáo viên phải làm gì bên cạnh việc đảm bảo tính
cụ thể, hình ảnh của sự kiện Lịch sử? Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản, chính xác, vấn đề dành thời gian cho học sinh trao
đổi, thảo luận các vấn đề, tổ chức công tác tự lập của học sinh ngày càng được
quan tâm. Giáo viên là người tổ chức, định hướng và điều khiển để thông qua
đó, học sinh có thể tự linh hoạt và nhanh nhạy trong tổng hợp kiến thức và tư
duy. Trong hệ phương pháp dạy học tích cực, ứng dụng CNTT để thiết kế và tổ
chức các trò chơi Lịch sử tỏ rõ khả năng đáp ứng yêu cầu trên nhằm thúc đẩy
hoạt động trí tuệ, kích thích hoạt động lĩnh hội và phát triển tư duy cho học
sinh.
-Thiết kế và tổ chức trò chơi Lịch sử có ưu thế rất lớn trong việc phát
huy tính hứng thú, sự tích cực của học sinh trong học tập. Trong quá trình
dạy- học nói chung và đối với môn Lịch sử nói riêng ở trường phổ thông cơ
sở, việc thiết kế và tổ chức trò chơi cho HS đóng vai trò quan trọng nhưng ít
16
khi giáo viên chú ý. “Thiết kế và tổ chức trò chơi trong giờ học Lịch sử cho
Ngoài ra, thông qua trò chơi còn giúp các em phát triển được nhiều
phẩm chất đạo đức như: tính nhanh nhẹn, tình đoàn kết thân ái, sự phối hợp
nhịp nhàng, lòng trung thực và tinh thần trách nhiệm lẫn nhau.
Tổ chức và thiết kế trò chơi trong dạy học Lịch sử là yếu tố quan trọng
để nhằm nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh, hình thành cho các em
nhiều hiểu biết khoa học về Lịch sử và tính quy luật của sự phát triển xã hội,
bồi dưỡng và rèn luyện các kỹ năng thông qua việc học môn Lịch sử. Đồng
thời là một ‘’món ăn tinh thần’’ cổ vũ thúc đẩy các em học tập.
- CNTT: Sự phát triển như vũ bão của ngành khoa học và công nghệ đã
đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người. Trong xu
thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, chúng ta luôn cập nhật được những
tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức quản lý giáo dục tiên tiến trên
thế giới. Với xu thế thay đổi mô hình giáo dục theo hướng hiện đại thì trường
học phải thay đổi môi trường giáo dục. Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi
trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng
tạo cho học sinh. Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả
năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi học sinh; trong khi giáo viên chỉ
hướng dẫn kĩ năng, phương pháp giải quyết công việc và xử lý thông tin chính
là cốt lõi của phương thức giáo dục này. Để hiện thực hóa những giá trị cốt lõi
trên, công nghệ thông tin (CNTT) là một công cụ hữu hiệu. Máy vi tính với các
phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng dụng trong mọi
lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu như công dụng
của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tính toàn
cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được.
Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ Công nghệ
thông tin &Truyền thông (ICT). Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp
chúng ta đọc báo điện tử, gửi email mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả
thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ tri thức nhân loại, có thể làm quen
giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức ở xa nửa vòng trái đất. Mạng
hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình. Hơn nữa, đối với giáo
dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội
dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học
tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát
19
triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Chính vì
xác định được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn tin học vào
trong nhà trường và ngay từ Tiểu học học sinh được tiếp xúc với môn tin học
để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học
những phần nâng cao trong các cấp tiếp theo. Nhưng làm thế nào để ứng dụng
CNTT hiệu quả trong các tiết dạy đó là vấn đề mà bất cứ một giáo viên nào
cũng phải băn khoăn khi có ý định đưa CNTT vào giảng dạy.
Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật máy tính của Mỹ vào
năm 1993, (tạm dịch) “Con người lưu lại trong bộ nhớ được 20% những gì họ
thấy và 30% những gì họ nghe. Nhưng họ nhớ 50% những gì họ thấy và nghe;
và con số này lên đến 80% nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách
đồng thời.”. Trên cơ sở của những số liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở
trường phổ thông chúng ta có thể thấy việc dạy học Lịch sử chỉ với những
phương tiện truyền thống như bảng đen, lời nói của thầy giáo và một ít phương
tiện dạy học mang tính tĩnh (bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ) chắc chắn hiệu quả sẽ
không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh sẽ thấp và chóng quên. Trong khi đó
nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động (được thiết kế theo
logic sự kiện), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo
viên thì khả năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên.
Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện
những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những
lĩnh vực khác nhau, những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối
với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có
phổ thông phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của người học, cũng như chưa
làm tròn trách nhiệm của một bộ môn tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất
quan trọng đối với mỗi HS.
Trong quá trình giảng dạy GV chưa mạnh dạn trong việc đổi mới
phương pháp dạy học chính vì vậy mà giờ học thường cứng nhắc, một số GV
luôn có tâm lí dạy làm sao cho hết được bài học, không hướng tới HS làm
trung tâm của việc dạy học. Chưa dám mạnh dạn tổ chức các trò chơi trong tiết
dạy, các tiết làm bài tập Lịch sử. Trong dạy học GV có tổ chức trò chơi thì mới
chỉ mang tính chiếu lệ, hiệu quả chưa cao. Chính vì vậy mà những năm gần
21
đây chất lượng bộ môn Lịch sử là rất thấp. Theo chúng tôi nguyên nhân của
tình trạng trên có thể xác định được là:
Một là: Trình độ giáo viên chưa đều và thật sự không phải GV nào có
khả năng ứng dụng CNTT một cách nhuần nhuyễn. Điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình giảng dạy và chất lượng giáo dục nói chung và bộ
môn Lịch sử nói riêng .
Hai là: GV chưa giám mạnh dạn đổi mới phương pháp trong quá trình
giảng dạy.
Ba là: Trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy bộ môn ở các nhà trường
thiếu trầm trọng, không đủ lược đồ, bản đồ, đồ phục chế, nhiều trường ở vùng
sâu vùng xa chưa có các phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu, băng
hình, sa bàn…
Bốn là: Điều kiện kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn do
vậy mà ảnh hưởng rất nhiều tới điều kiện dạy và học.
• Đối với học sinh:
HS ý thức học tập môn sử chưa cao, đa phần các em chưa xác định được
rõ ràng mục tiêu học tập, chưa thực sự cố gắng trong các tiết học, làm bài tập ở
nhà, đang còn khép kín, đối phó, chưa dám mạnh dạn khi GV yêu cầu trả lời
1.6. Khái quát về hình thức một số trò chơi phục vụ công tác giảng dạy môn
Lịch sử.
a. Một số hình thức trò chơi:
Với đặc trưng của bộ môn, ở mỗi khối lớp các thầy cô giáo có thể xây
dựng được một hệ thống trò chơi phong phú, đa dạng với nhiều tên gọi khác
nhau, mục đích khác nhau. Sau đây một số trò chơi mang tính khái quát chung
nhất, quan trọng hơn cả là các trò chơi này đều có thể áp dụng được rộng rãi ở
tất cả các khối lớp và trên tất cả các địa bàn. Hình thức tổ chức “Trò chơi” này
có thể vận dụng cho 1 tiết chuyên đề, bài tập Lịch sử, ngoại khoá, câu lạc bộ,
hoặc áp dụng để GV có thể củng cố bài học. Trong quá trình giảng dạy mỗi
thầy, cô giáo có sự sáng tạo thêm nhiều trò chơi khác nhau, bổ sung làm cho
trò chơi Lịch sử trở thành một hệ thống ngày càng sinh động hơn, phong phú
hơn và được sử dụng nhiều hơn nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác dạy – học
đối với bộ môn Lịch sử. Sau đây là một số trò chơi có thể vận dụng:
* Trò chơi “Điền sơ đồ trống”.
23
Đây là trò chơi mà GV đã chuẩn bị trước sơ đồ trống để cho HS điền
nội dung, với trò chơi này GV dễ dàng áp dụng đối với các bài có liên quan tới
tổ chức bộ máy nhà nước.
* Trò chơi “Điền lược đồ trống”.
Với trò chơi này thì GV chuẩn bị lược đồ, sơ đồ trống trước hoặc nhà
trường có sơ đồ không màu để HS điền kí hiệu của một chiến dịch, một cuộc
khởi nghĩa.
*Trò chơi “ô chữ bí mật”.
Ở trò chơi này GV chuẩn bị hệ thống các ô trống theo chủ đề (nhân vật,
cụm từ tiêu biểu….). HS tìm các chữ cái thích hợp để điền vào ô trống đã cho
theo yêu cầu.
Đây là dạng trò chơi mà GV thường hay sử dụng nhất trong quá trình
sinh phải trả lời nhanh chóng được từ khóa mà hình ảnh biểu đạt.
Dạng 2: GV chuẩn bị các từ chìa khóa, HS lên diễn đạt lại từ chìa khóa
bằng hành động mà không dùng lời nói, các HS còn lại đoán từ chìa khóa qua
hành động của bạn mình diễn đạt.
*Trò chơi “Hái hoa - trả lời câu hỏi Lịch sử”.
Áp dụng đối với các tiết ngoại khóa, làm bài tập Lịch sử. GV chuẩn bị
một cây hoa (trong thiên nhiên hoặc hoa giả), trên nhánh hoa có ghi các chủ đề
câu hỏi để học sinh lựa chọn (chủ đề nhân vật; chủ đề sự kiện; chủ đề chiến
tranh; chủ đề văn hoá…) trong mỗi chủ đề có hệ thống câu hỏi để HS trả lời…
b. Các bước tổ chức trò chơi.
Để tổ chức thành công trò chơi, GV phải xác định được các yêu cầu sau đây:
1. Xác định được phạm vi áp dụng của trò chơi.
2. Xác định mục đích áp dụng của trò chơi.
3. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh về trò chơi.
4. Tiến hành trò chơi trên lớp. Gồm 05 bước chủ yếu
Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi.
Bước 2: Lựa chọn đội chơi.
Bước 3: Quy định thời gian, phổ biến luật chơi.
Bước 4: Tổ chức trò chơi.
Bước 5: Tổng kết (Đánh giá) trò chơi.
25