VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG ĐÌNH THÍ
THẾ CHẤP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐỂ
ĐẢM BẢO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG ĐÌNH THÍ
THẾ CHẤP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐỂ
ĐẢM BẢO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
2.1. Qui định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín
dụng ngân hàng tại các ngân hàng thương mại....................................................................... 20
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm
bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng tại các tổ chức tín dụng ở Thành phố Đà Nẵng . 46
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐỂ ĐẢM BẢO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY........................................................................................... 60
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo hợp
đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay....................................................................... 60
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để
đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay............................................ 61
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thế chấp quyền sử
dụng đất để đảm bảo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam hiện nay......................................... 69
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BDS
: Bất động sản
BLDS
: Bộ luật Dân sự
GCNQSDĐ
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại ở
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt quy mô, tốc độ tăng trưởng,
tốc độ bao phủ thị trường... Trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động không những
có ý nghĩa với các ngân hàng mà còn tác động rất lớn đến nền kinh tế, tạo vốn cho
nhu cầu sản xuất, đầu tư, cung cấp tài chính cho nhu cầu tiêu dùng và các mục đích
khác. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng, do tính rủi ro cao nên nhu cầu đảm bảo an
toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch đặc biệt là tổ chức tín dụng càng trở
nên quan trọng. Các tổ chức tín dụng thường áp dụng biện pháp bảo đảm tài sản như
một giải pháp an toàn, một điều kiện tiên quyết đối với các khoản vay.
Bảo đảm tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của
người vay mà cũng nhằm bảo đảm vốn đối với ngân hàng thương mại. Trong đó,
đảm bảo tiền vay bằng thế chấp quyền sử dụng đất là một trong những hình thức
chủ yếu nhờ những đặc tính về tính thanh khoản, tính cố định và là một trong số
những tài sản có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng rõ ràng nhất.
Hiện nay, do tầm quan trọng của biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động cho vay
của tổ chức tín dụng nên việc thế chấp quyền sử dụng đất được rất nhiều các văn
bản pháp luật của Việt Nam điều chỉnh (Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Đất đai
năm 2013; Nghị định 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLTBTP-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất…). Mặt khác, xuất phát từ việc khẳng định đất đai là tài sản công thuộc sở
Thị Nga... Những công trình trên đã hệ thống hóa các quy định pháp luật về luật dân
sự, luật đất đai về vấn đề thế chấp và đưa ra các giải pháp chủ yếu để khắc phục.
Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa nghiên cứu một cách hệ thống về các quy định
về thế chấp quyền sử dụng về đất ở. Mặc khác, cần nghiên cứu về thế chấp quyền sử
dụng đất tại một địa bàn như thành phố Đà Nẵng là điều hết sức cần thiết nhằm xem
xét vấn đề trên trong một phạm vi cụ thể. Hiện nay, số lượng ngân hàng thương mại
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng rất phát triển (hiện tại là có 43 chi nhánh ngân
hàng, và hơn 190 phòng giao dịch thuộc các ngân hàng thương mại). Hoạt động cho
vay, thế chấp diễn ra rất sôi nổi, và cũng tỷ lệ thuận với các tranh
2
chấp trong hoạt động tín dụng, thế chấp. Do đó, đề tài này là hết sức cần thiết nhằm
cung cấp thêm thông tin, kiến thức đến bên vay, bên cho vay, bên thế chấp, bên
nhận thế chấp và các cá nhân, tổ chức liên quan, góp phần hoàn thiện khung pháp lý
về hoạt động thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở tại ngân hàng thương mại nói
chung và cụ thể là tại thành phố Đà Nẵng nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các
vấn đề pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín dụng
ngân hàng; Đánh giá tình hình thực thi các quy định pháp luật thế chấp quyền sử
dụng đất ở và thực tiễn thi hành vấn đề này tại các tổ chức tín dụng tại Thành phố
Đà Nẵng; Đề ra các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về
thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam
hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn có các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, là chủ yếu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thể hiện ở những phương diện sau:
- Luận giải khái niệm và nhận diện bản chất của thế chấp quyền sử dụng đất
- Tìm hiểu hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về thế chấp quyền
sử dụng đất.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về
thế chấp QSDĐ.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thế chấp
quyền sử dụng đất để đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội
dung của luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm
bảo hợp đồng tín dụng tại ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để
đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại các tổ chức tín
4
dụng ở Thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp
đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay.
5
Chương 1
6
thực hiện quản lý Nhà nước ở cả phương diện hành chính và kinh tế thông qua việc
điều tiết các nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất.
Với các quy định cụ thể nêu trên của pháp luật hiện hành, thì QSDĐ là một
trong ba quyền năng của quyền sở hữu đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt đất đai theo quy định của BLDS về quyền sở hữu tài sản và quy
định của Luật đất đai. Theo đó, đối với QSDĐ được xác định thuộc quyền sử dụng
của ai thì người đó có quyền được chi phối đối với tài sản đó theo cách riêng của
mình để thỏa mãn cho nhu cầu của họ. Việc tiến hành khai thác, sử dụng tài sản
nhằm để hưởng thụ những giá trị do tài sản đó mang lại là một trong những cách
thức chi phối của người có quyền sử dụng, nhưng quá trình thực hiện quyền sử dụng
tài sản phục vụ cho lợi ích của chủ thể có quyền, không được vượt ra khỏi phạm vi
pháp luật quy định. Có thể hiểu, quyền sử dụng tài sản là một trong những cách thức
thực hiện quyền sở hữu tài sản. Từ cơ sở pháp lý nền tảng nêu trên chúng ta có cách
tiếp cận đối với quyền sở hữu, quyền sử dụng của những tài sản cụ thể, trong đó có
QSDĐ đai của chủ thể có quyền. Theo đó, người có quyền sở hữu đối với tài sản là
QSDĐ cũng có ba quyền năng quan trọng: quyền chiếm hữu đất đai, QSDĐ và
quyền định đoạt đối với QSDĐ. Trong các quyền năng cơ bản nêu trên của chủ sử
dụng đất đai thì quyền sử dụng có vai trò quan trọng và ý nghĩa thực tế quyết định
trong việc chuyển hóa đất đai từ một tài sản tự nhiên thuần túy và ở dạng "tiềm
năng", "nguyên thủy". Quyền sử dụng đất trở thành quyền tài sản có giá trị và giá trị
sử dụng cụ thể để đáp ứng cho nhu cầu của con người trong quá trình phát triển của
kinh tế - xã hội. Quyền sử dụng có vai trò thực hiện hóa ý đồ của chủ thể có QSDĐ
hợp pháp, chính là việc làm cho đất đai có giá trị về mặt kinh tế.
Theo những vấn đề lý luận đã phân tích trên đây, thì QSDĐ được thực hiện
trực tiếp bởi các chủ thể là người có QSDĐ hợp pháp. Các cá nhân, tổ chức, hộ gia
đình được Nhà nước cho phép sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất thông qua các
hình thức pháp lý khác nhau. Đây là cơ sở để trao cho họ những quyền và nghĩa vụ
khi thế chấp, bên có tài sản vẫn tiếp tục chiếm giữ, quản lý và khai thác đối với tài
sản đó. Tài sản trong quan hệ thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản mà
không giới hạn như các quan niệm trước đây chỉ là bất động sản. Việc mở rộng đối
tượng tài sản trong quan hệ thế chấp theo BLDS năm 2015 là thể hiện phương thức
tiếp cận linh hoạt, hiện đại và phù hợp với thực tiễn thế chấp đã và đang diễn ra
trong thực tế. Khái niệm trên cũng thể hiện sự phù hợp giữa quy định trong BLDS
và các luật chuyên ngành khác có liên quan khi quy định về thế chấp tài sản. Nhìn
8
chung, dù quan niệm thế chấp tài sản dưới góc độ nào đi nữa thì quan niệm của giới
khoa học pháp lý nước ta khi nhận định về thế chấp tài sản đều có những đặc điểm
chung sau đây:
Một là, cơ sở và nguồn gốc phát sinh của quan hệ thế chấp tài sản là có một
quan hệ nghĩa vụ đã được xác lập từ trước và nghĩa vụ này được thực hiện một cách
có điều kiện thông qua một tài sản cụ thể;
Hai là, tài sản bảo đảm trong quan hệ thế chấp có thể là bất động sản nhưng
cũng có thể bao gồm cả các tài sản không phải là bất động sản. Tuy nhiên, tài sản
được sử dụng chủ yếu trong quan hệ thế chấp là bất động sản, trong đó đất đai
(QSDĐ) là đối tượng thường được nhắc đến đầu tiên;
Ba là, quyền sở hữu tài sản có thể được khôi phục hoàn toàn cho bên thế chấp
nếu nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ như cam kết, hoặc quyền sở hữu có thể chấm
dứt hoàn toàn đối với bên thế chấp và thuộc quyền định đoạt, “sở hữu mãi mãi” đối
với bên nhận thế chấp nếu nghĩa vụ không được thực hiện.
1.1.2.2. Khái niệm về thế chấp quyền sử dụng đất
Cơ sở pháp lý cho các giao dịch về QSDĐ nói chung và thế chấp QSDĐ nói
riêng vận hành trong nền kinh tế thị trường được đánh dấu bằng sự ghi nhận trong
luật gốc - Hiến pháp năm 2013: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử
niệm đầy đủ, cụ thể về thế chấp quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng nhằm định
hướng cho các bên trong xác lập, thực hiện và chấm dứt quan hệ thế chấp. Vậy thế chấp
quyền sử dụng đất là gì? Nhìn một cách tổng quát quan hệ thế chấp quyền sử dụng đất
ở cả phương diện pháp lý và thực tiễn, có thể trả lời cho câu hỏi trên như sau: "Thế
chấp quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên có quyền sử dụng
đất (gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiên
nghĩa vụ dân sự - kinh tế với bên kia (bên nhận thế chấp); bên thế chấp được tiếp tục sử
dụng đất trong thời hạn thế chấp”.
1.1.2.3. Đặc điểm của thế chấp quyền sử dụng đất
Thế chấp quyền sử dụng đất là một dạng cụ thể của thế chấp tài sản. Bên cạnh
những đặc điểm chung của thế chấp tài sản, thế chấp quyền sử dụng đất còn có một
số đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối tượng thế chấp là một loại tài sản nhưng không thuộc quyền sở
hữu của người thế chấp.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước
10
giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Người sử dụng
đất được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và được chuyển QSDĐ trong thời hạn giao
đất. Vì vậy, trong thế chấp QSDĐ, tài sản thế chấp không phải là đất đai (vật) mà là
QSDĐ (quyền sử dụng vật hay còn gọi là vật quyền). Đây chính là điểm khác biệt
cơ bản khi xem xét về đối tượng thế chấp BĐS ở các nước duy trì hình thức sở hữu
tư nhân về đất đai với các nước xác lập hình thức sở hữu Nhà nước hay sở hữu đại
diện của Nhà nước về đất đai. Hơn nữa, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai nên việc thế chấp QSDĐ không chỉ tuân theo các quy định về thế
chấp tài sản của Bộ luật dân sự năm 2015 mà còn phải phù hợp với các quy định của
pháp luật đất đai được đề cập tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013.
thuê đất mà người sử dụng đất được quyền thế chấp QSDĐ và tài sản thuộc sở hữu
của mình gắn liền với đất hoặc chỉ được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn
liền với đất.
1.2. Khái niệm, đặc điểm thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp
đồng tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín
dụng ngân hàng
Thế chấp quyền sử dụng đất là một trong những quyền năng cơ bản của người
sử dụng đất, được ghi nhận trong Luật đất đai năm 1993. Sau đó, Bộ luật dân sự
năm 1995 đã có các quy định tạo điều kiện để quyền năng này có thể là đối tượng
của các giao dịch dân sự. Kế thừa sự ghi nhận đó, các chủ thể sử dụng đất và phạm
vi quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật đất đai năm 2013; khẳng định
rõ ràng quyền thế chấp quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng để NHTM nhận thế chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động cho vay
của mình.
Thế chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương
mại là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cho
vay, theo đó Ngân hàng thương mại với tư cách là bên cho vay thỏa thuận với bên
vay hoặc bên thứ ba về việc sử dụng quyền sử dụng đất của chính bên vay hoặc của
bên thứ ba làm tài sản bảo đảm cho khoản vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
khi bên vay không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình.
Chủ sử dụng đất chuyển giao giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất của
mình cho bên nhận thế chấp (NHTM) mà không phải chuyển giao quyền sử dụng
đất đó.
Tóm lại, thế chấp QSDĐ trong hoạt động cho vay của NHTM là việc bên thế
12
chấp (khách hàng vay hoặc bên thứ ba) và bên nhận thế chấp (NHTM) cùng thỏa
13
đến hình thức hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, đăng ký
giao dịch thế chấp QSDĐ, xử lý QSDĐ… Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục thế chấp
QSDĐ cũng phải tuân thủ những quy định riêng của từng ngân hàng. Trong từng
thời kỳ khác nhau, mỗi NHTM lại có những quy định đặc thù áp dụng riêng biệt đối
với giao dịch thế chấp QSDĐ để phù hợp với hoạt động cho vay của ngân hàng
cũng như nhu cầu của khách hàng. Ví dụ như về nội dung hợp đồng thế chấp, điều
kiện QSDĐ thế chấp, hạn mức cấp tín dụng khi nhận thế chấp QSDĐ, thủ tục xử lý
QSDĐ… Các bên có thể tự do thỏa thuận nhưng vẫn phải trong khuôn khổ mà pháp
luật đã ấn định, không thể thỏa thuận ngoài phạm vi đó được.
- Trong quan hệ thế chấp QSDĐ, bên thế chấp chỉ chuyển giao cho bên nhận thế
chấp giấy tờ pháp lý chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với QSDĐ thế chấp.
Theo đó, bên thế chấp chỉ chuyển giao cho bên nhận thế chấp về mặt giấy tờ
chứ không chuyển giao QSDĐ về mặt thực tế. Bên thế chấp vẫn là chủ thể chiếm
hữu thửa đất, sử dụng, khai thác thửa đất và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác,
sử dụng thửa đất đó. Trong thời gian thế chấp, thửa đất vẫn thuộc quyền sử dụng
của bên thế chấp, chỉ hạn chế về quyền định đoạt. QSDĐ của bên thế chấp chỉ chấm
dứt khi QSDĐ bị xử lý trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả
nợ khi đến hạn.
1.3. Quan hệ pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp
đồng tín dụng ngân hàng và nội dung pháp luật điều chỉnh
Quan hệ pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín
dụng ngân hàng là những quan hệ xã hội phát sinh liên quan đến thỏa thuận hợp
đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp của bên cho vay (bên nhận thế chấp) và bên đi
vay (bên thế chấp) hoặc bên liên quan đến tài sản thế chấp.
Quan hệ pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín
dụng ngân hàng bao gồm các loại quan hệ xã hội sau đây:
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn
quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho
bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất
(Điều 500 BLDS 2015).
Quan hệ hợp đồng thế chấp QSDĐ là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của
bên thế chấp QSDĐ và bên nhận thế chấp QSDĐ.
Nội dung của hợp đồng thế chấp QSDĐ là căn cứ để các bên thực hiện hành vi
cho phù hợp và là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các bên. Theo đó,
15
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp QSDĐ về cơ bản phải có những nội
dung như: Tài sản thế chấp, phạm vi thế chấp, giá trị tài sản thế chấp, quyền và
nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp… Về vấn đề này, pháp luật Việt Nam
không hạn chế quyền thỏa thuận của các bên, cho phép các bên được quyền tự do
thỏa thuận nhưng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức
xã hội.
Hình thức Hợp đồng thế chấp QSDĐ phải được lập thành văn bản và phải
đăng ký giao dịch bảo đảm. Thủ tục đăng ký này là điều kiện bắt buộc để xác định
hiệu lực của giao dịch thế chấp, có giá trị đối kháng với người thứ ba và có ý nghĩa
quan trọng trong việc xây dựng thứ tự thanh toán.
Thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải theo trình tự, thủ tục
theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật.
Thứ ba là, Mối quan hệ về giải quyết tranh chấp giữa người thế chấp QSDĐ
và bên nhận thế chấp QSDĐ và các bên có liên quan (người thứ ba nếu có). Cụ thể
là:
+ Các quan hệ về hòa giải giữa các bên tranh chấp.
+ Quan hệ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại.
+ Quan hệ giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Vai trò của thế chấp QSDĐ đối với các nhà đầu tư không chỉ được biểu hiện ở
khía cạnh kinh tế là giải quyết nhu cầu về vốn như đã nêu trên, mà chúng còn phát
huy tác dụng trong việc thúc đẩy người vay vốn trả nợ tiền vay. Việc tự nguyện thực
hiện nghĩa vụ trả nợ trước tiên là nhằm đáp ứng của bên cho vay theo những thỏa
thuận và cam kết trong Hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cũng nhằm đáp ứng chính yêu cầu của bên vay, bởi nếu không sử dụng nguồn vốn
vay có hiệu quả, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh và đó là nguyên
nhân dẫn đến tìnhtrạng mất khả năng thanh toán; trong trường hợp này, QSDĐ của
doanh nghiệp đặt trước nguy cơ của việc xử lý để bên cho vay thu hồi nợ. Ở tình thế
này, chẳng những nguồn vốn vay đã không phát huy được tác dụng mà trái lại chúng
còn tác động ngược chiều, có khả năng làm cho các doanh nghiệp lâm vào tình
trạng “trắng tay”, “mất cả chì lẫn chài” do mất đi nguồn vốn đi vay và cả nguồn vốn
đầu tư ban đầu – QSDĐ, sự nghiệp của doanh nghiệp cũng có thể bị chấm dứt từ đó.
Đối với kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là các hộ ở nông thôn thì thế chấp QSDĐ
còn mang ý nghĩa thiết thực hơn. Với mức thu nhập bình quân trên đầu người được
xếp vào hàng của các nước đói, nghèo so với chuẩn quốc tế, cuộc sống của các hộ
17
gia đình, cá nhân ở các vùng nông thôn là hết sức khó khăn. Để đối phó với cuộc
sống thường nhật, người dân phải xoay sở với nhiều công việc, nhiều ngành nghề
khác nhau để mưu sinh, song trở ngại lớn nhất mà họ phải đối mặt là nguồn vốn huy
động từ đâu để thực hiện được điều đó, khi mà khả năng cung ứng nguồn vốn của
Nhà nước không đáp ứng đủ với nhu cầu. Trong trường hợp này, sự ghi nhận của
pháp luật cho phép người sử dụng đất được thế chấp để vay vốn là một giải pháp
linh hoạt để mở rộng kênh huy động vốn của người dân.
1.4.2. Hạn chế rủi ro phát sinh trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng, đem lại nguồn thu chủ
yếu của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề mà các ngân hàng thương
định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng của việc thế chấp bằng quyền sử
dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Thành Phố Đà Nẵng
trong Chương 2, để từ đó đưa ra Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở để đảm
bảo hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam hiện nay (Chương 3).
19
Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ở ĐỂ BẢO ĐẢM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Qui định về thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở để đảm bảo hợp đồng
tín dụng ngân hàng tại các ngân hàng thương mại
2.1.1. Qui định về hợp đồng tín dụng và bảo đảm thực hiện hợp đồng tín
dụng bằng tài sản thế chấp
Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên chủ thể về việc xác lập, thay đổi, chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Sự thoả thuận ở đây được hiểu là sự thống nhất về
mặt ý chí, sự gặp gỡ về mặt ý chí giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng.
Ý chí ở đây là ý chí thực hiện của các bên giao kết hợp đồng là mục đích mà các
bên hướng tới đạt được. Do đó, hợp đồng tín dụng phải là kết quả của sự tự nguyện,
tự do ý chí của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay vốn về quyền và nghĩa vụ
của các bên. Nếu có căn cứ chứng minh hợp đồng được ký kết trên cơ sở cưỡng ép,
đe doạ, lừa dối thì hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu.
So với các hợp đồng khác, sự thoả thuận của các chủ thể trong hợp đồng tín
dụng có phần hạn chế bởi các quy định của pháp luật như: điều kiện vay vốn, số tiền
vay, lãi suất cho vay…Ngoài ra, một số ý kiến còn cho rằng, sự tự do thể hiện ý chí,
tự do thoả thuận của các bên chủ thể cũng hầu như không có đặc biệt là phía bên