Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở việt nam - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ NGỌC

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ NGỌC

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành


3


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................1
MỤC LỤC ..................................................................................................................4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................6
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................7
Chương 1 ..................................................................................................................12
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ VÀ XỬ LÝ
VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM .........................................................................................................................12
1.1. Khái niệm và phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ........ 12
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp....................... 12
1.1.2. Phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ........................ 15
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các biện pháp chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế
thu nhập doanh nghiệp ...................................................................................................... 21
1.2.1. Khái niệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp .......... 21
1.2.2. Đặc điểm xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp ............ 22
1.2.3. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế thu nhập
doanh nghiệp............................................................................................................... 24

doanh nghiệp ...................................................................................................................... 43
2.3.1. Những kết quả đạt được ................................................................................... 43
2.3.2. Những hạn chế bất cập..................................................................................... 46
2.3.3. Nguyên nhân ..................................................................................................... 55
2.4. Đánh giá chung về thực trạng xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp .................................................................................................................................. 57
2.4.1. Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN ................... 57
2.4.2. Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế TNDN ..................... 61

Chương 3 ..................................................................................................................63
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI
PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM ..63
3.1.Yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
............................................................................................................................................. 63
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNDN nhằm đáp
ứng yêu cầu cải cách pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền. . 63
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNDN phục vụ yêu
cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam và pháp luật
quốc tế.......................................................................................................................... 64
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp .................................................................................................................................. 71
3.2.1. Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập
doanh nghiệp............................................................................................................... 71
3.2.2. Về thực hiện pháp luật xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
..................................................................................................................................... 78

KẾT LUẬN ...............................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................88

5

: Vi phạm hành chính

VPPL

: Vi phạm pháp luật

XLVPPL

: Xử lý vi phạm pháp luật

WTO

: World Trade Organization (Tổ chức Thương
mại thế giới)

6


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách quốc
gia và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội và chi tiêu cho bộ máy nhà nước. Cùng với sự phát triển của
kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách pháp luật thuế luôn có sự thay đổi nhằm
góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh
tế phát triển đúng hướng, từng bước thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội,
đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng của nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thu quan trọng và chiếm một tỷ
trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN. Ở hầu hết các nước phát triển, thuế thu
nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu

nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” để nghiên cứu, nhằm đưa ra các biện pháp
nâng cao việc ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập
doanh nghiệp, chống thất thu cho ngân sách Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Học viên đã tiếp cận một số công trình khoa học về vấn đề xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế TNDN được công bố trong khoảng 5 năm
gần đây như:
Quỳnh Như (2009), Gỡ vướng về ưu đãi thuế TNDN, Hà Nội;
Lê Văn Hải (2010), Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và giải
pháp chống chuyển giá ở Việt Nam, Nghd : PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy. Khoa
Luật, Luận văn thạc sỹ ngành: Luật kinh tế, 2010;
Lưu Thị Tuyết (2012), Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
ở Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn thạc sỹ ngành: Luật kinh tế, 2012
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các cán bộ chuyên gia liên quan
đến đề tài luận văn đã được đăng trên các tạp chí, một số các bài viết trên
trang web của Tổng cục thuế...
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào một hoặc một vài
hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó kế thừa, tổng
hợp và phát triển những luận điểm trên, tác giả lựa chọn và thực hiện đề tài
“Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam”.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá và
hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp.

8


Để đạt được mục đích nói trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:

kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Đồng thời, xuất phát từ thực tế, các hành vi vi phạm pháp luật thuế TNDN đa
số bị xử lý là các hành vi hành chính, do đó, đề tài đi sâu hơn vào các hành vi
hành chính, các chế tài hành chính đối với các hành vi đó.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc tiếp cận đề tài, nghiên cứu, phân tích, nhận xét, đánh giá và đề
xuất kiến nghị, giải pháp được dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà
nước và pháp luật, trong đó có lý luận về thuế, về vi phạm pháp luật, về
phòng ngừa, đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật.
Trong nghiên cứu và biên soạn luận văn, người nghiên cứu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,
phương pháp hệ thống hóa, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp
thống kê. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên
cứu về xử lý vi phạm pháp luật thuế nói chung, thuế TNDN nói riêng. Tuy
nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác
theo góc nhìn của tác giả.
- Phương pháp so sánh
So sánh việc xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN của nước ta trong
một số giai đoạn khác nhau; So sánh pháp luật xử lý vi phạm về thuế TNDN
của nước ta với các nước trên thế giới.
- Các phương pháp của xã hội học pháp luật
Phân tích cơ sở xã hội của việc xử lý vi phạm.

phi

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ VÀ
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Cơ sở của việc xử lý vi phạm về thuế TNDN là có hành vi vi phạm
pháp luật thuế TNDN được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm
vi phạm pháp luật thuế TNDN có ý nghĩa lý luận quan trọng và mang tính
thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa đúng về vi phạm pháp luật về thuế
TNDN mới có thể xác định được các hành vi phạm cụ thể trong từng lĩnh vực
quản lý nhà nước. Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc áp dụng hình thức
xử phạt, thông thường chúng ta đều phải xác định hành vi vi phạm của người
vi phạm. Xác định được đúng hành vi vi phạm pháp luật (tức là xác định đúng
cơ sở xử phạt) thì việc thực hiện xử phạt mới đúng đắn, mới đảm bảo được
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy
được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
thuế TNDN là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần
giáo dục người vi phạm và cảnh báo, phòng ngừa vi phạm trong tương lai và
tránh được sự tùy tiện trong việc xử phạt.
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [18, tr. 537]:
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích
được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy
định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi
chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi.
Theo giáo trình Luật Thuế Việt Nam [26, tr. 337]: Vi phạm pháp luật
được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật, do tổ chức hoặc cá

một loại vi phạm pháp luật. Nó mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của vi
13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

phạm pháp luật: đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động
(hoặc không hành động) của con người trái với các quy tắc xử sự chung do
nhà nước đặt ra bằng các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành; hành vi
đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng sự cố ý hoặc vô ý đối với việc
thực hiện và nó xâm hại đến lợi ích của cộng đồng, trật tự xã hội và lợi ích
của nhà nước và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước.
Nhìn một cách tổng quát, có thể nhận diện hành vi vi phạm pháp luật
thuế nhờ ở các dấu hiệu cơ bản sau đây:
Về phương diện chủ thể, vi phạm pháp luật thuế TNDN là hành vi được
thực hiện bởi chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động nộp
thuế TNDN. Sở dĩ như vậy là bởi vì, chủ thể này thường được trao các thẩm
quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định khi tham gia vào quá trình nộp thuế (vì
lợi ích riêng của họ hoặc lợi ích chung) nhưng đã không thực hiện đúng các
thẩm quyền, nghĩa vụ đó như đòi hỏi của pháp luật. Điều đó cho thấy, vi
phạm pháp luật thuế bao giờ cũng liên quan đến chủ thể được pháp luật thuế
quy định các quyền, nghĩa vụ nhất định và việc quy định những quyền, nghĩa
vụ này không ngoài mục đích nhằm đảm bảo lợi ích chung, trên cơ sở dùng
pháp luật để điều chỉnh hành vi của họ.

mức tiền thuế trốn lậu) mà hành vi này có thể bị xử lý hành chính theo Luật
xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam.
Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm
pháp luật hay không, cần xem xét đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành pháp
lý của vi phạm; từ đó có thể xác định là vi phạm gì để chọn chế tài đúng.
1.1.2. Phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong thực tiễn pháp lý, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất
đa dạng, tinh vi và phức tạp, với nhiều dạng thức khác nhau. Việc phân loại
các vi phạm pháp luật về thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có
ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặc biệt là giúp cho các nhà làm luật xây
15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

dựng được cơ chế xử lý phù hợp, thỏa đáng đối với từng nhóm loại và từng
hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Đương nhiên, cho dù các vi phạm này tồn
tại dưới những hình thức nào thì về phương diện bản chất, mỗi vi phạm đó
đều thuộc về một trong các loại hình vi phạm chủ yếu sau đây:
* Theo mức độ vi phạm
- Vi phạm hành chính về thuế TNDN
Trên nguyên tắc, do đa số các quy định pháp luật về thuế nói chung,
thuế TNDN nói riêng, thuộc loại quy phạm pháp luật hành chính nên phần lớn

có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời
hạn; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm
hành chính về thuế.
Ba là việc tuyên bố một hành vi là vi phạm hành chính về thuế, vốn dĩ
thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính và các công chức hành chính
có thẩm quyền. Thông thường, sự tuyên bố này được thể hiện bằng một quyết
định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành theo đúng thể thức luật định.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế TNDN bao gồm các dạng cơ
bản sau đây:
+ Vi phạm các quy định về đăng ký thuế; kê khai thuế; cung cấp thông
tin về thuế; nộp thuế, quyết toán thuế: Về nguyên tắc, việc đăng ký thuế, kê
khai thuế và quyết toán thuế đúng luật là nghĩa vụ pháp lý của người nộp
thuế. Có thể hình dung hành vi vi phạm nghĩa vụ này của người nộp thuế bao
gồm: Hành vi đăng ký thuế quá thời hạn do luật định; hành vi kê khai thuế
không chính xác hoặc nộp tờ khai thuế quá thời hạn luật định; hành vi lập
quyết toán thuế sai quy trình luật định hoặc nộp quyết toán thuế quá thời hạn
luật định.
+ Vi phạm các quy định về thu, nộp tiền thuế, tiền phạt: các nhà làm
luật thông thường luôn đặt ra một thời hạn cố định, lấy đó làm mức chuẩn và
căn cứ vào đó để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà
nước. Quá thời hạn này, người nộp thuế sẽ bị xác định là có hành vi vi phạm.
17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi

18


sự về thuế đều được coi là tội phạm và đều có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự.
Bốn là việc tuyên bố một hành vi vi phạm hình sự về thuế là tội phạm,
chỉ thuộc thẩm quyền của tòa án. Trên nguyên tắc, sự tuyên bố này phải được
thể hiện bằng một bản án hoặc quyết định xét xử do tòa án tuyên theo đúng
thể thức luật định.
Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam [19] [Điều 161,
278, 279, 281, 282, 285] các hành vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực thuế
được coi là tội phạm bao gồm các dạng cơ bản sau đây:
- Tội trốn thuế (Điều 161 Bộ luật hình sự);
- Tội tham ô tài sản (Điều 278 Bộ luật hình sự);
- Tội nhận hối lộ (Điều 279 Bộ luật hình sự);
- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281
Bộ luật hình sự)
- Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 Bộ luật
hình sự)...
* Theo chủ thể vi phạm
Việc phân loại xử lý vi phạm pháp luật theo từng chủ thể có ý nghĩa
quan trọng, bởi trên thực tế, một số các chế tài chỉ được áp dụng đối với một
nhóm chủ thể xác định. Có thể liệt kê như sau:
- Vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế:
Về nguyên tắc, việc đăng ký thuế, kê khai thuế và quyết toán thuế đúng
luật là nghĩa vụ pháp lý của người nộp thuế. Có thể hình dung hành vi vi
phạm nghĩa vụ này của người nộp thuế bao gồm: Hành vi đăng ký thuế quá
thời hạn do luật định; hành vi kê khai thuế không chính xác hoặc nộp tờ khai
thuế quá thời hạn luật định; hành vi lập quyết toán thuế sai quy trình luật định
hoặc nộp quyết toán thuế quá thời hạn luật...

thuế về phương diện nội dung. Tuy nhiên, trong thực tế có tồn tại một bộ
phận không nhỏ các quy phạm pháp luật về thuế được coi là những quy phạm
pháp luật về hình thức, ví dụ: quy định về hình thức tờ khai đăng kí thuế, hình
thức của văn bản kê khai thuế và văn bản thông báo thuế, hình thức văn bản
quyết định giải quyết khiếu nại về thúe, hình thức đơn khiếu nại và đơn khởi
kiện về thuế, hình thức đơn xin miễn giảm thuế và hoàn thuế; hình thức biên
bản vi phạm hành chính về thuế... Về nguyên tắc, những hành vi làm trái các
quy định này cũng phải được coi là vi phạm pháp luật thuế nhưng về bản chất
chúng không phải là vi phạm hành chính hay vi phạm hình sự về thuế, do vậy,
các chế tài áp dụng cho những hành vi vi phạm đó cũng không phải là chế tài
20


hành chính hay chế tài hình sự về thuế. Trong thực tiễn, chế tài xử lý đối với
loại vi phạm này được thực hiện chủ yếu bằng việc Nhà nước không thừa
nhận giá trị pháp lý của các văn bản do người nộp thuế lập hoặc do cơ quan
có thẩm quyền lập không đúng với hình thức luật định trong quá trình hành
thu thuế.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các biện pháp chế tài xử lý vi phạm
trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh
nghiệp
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do
Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị
trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực
hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự
và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [18, tr. 288]. Pháp luật
có ba chức năng chính: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có
chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” – là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và

trường hợp cần thiết phải ngăn chặn, dập tắt những vi phạm hành chính, đảm
bảo việc xử phạt hay ngăn chặn những hậu quả thiệt hại do vi phạm hành
chính gây ra [29, tr. 378].
Tại Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm
2009 không quy định về khái niệm xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực thuế.
Nhưng tại Khoản 8, Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 cũng đã quy
định cụ thể về trách nhiệm pháp lý đối với tội trốn thuế. Theo đó, khi người
nộp thuế có hành vi vi phạm nghiêm trọng tới mức truy cứu trách nhiệm hình
sự với tội trốn thuế, thì sẽ bị xử phạt với hình thức xử phạt chính là phạt tiền
hoặc phạt tù.
Vậy, có thể kết luận xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế TNDN là việc
các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài
(gồm chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự) đối với những cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Đặc điểm xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh
nghiệp
- Cơ sở để xử lý vi phạm là có vi phạm
Không có vi phạm thì không có trách nhiệm, không có chế tài. Cơ sở
để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính, cũng như cơ sở của

22


trách nhiệm hình sự là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ
dân sự, của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.
- Hoạt động xử lý vi phạm chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng và được áp dụng theo một
thủ tục, trình tự chặt chẽ và thống nhất.
Do các vi phạm về thuế TNDN đa phần là những vi phạm nhỏ và phổ
biến nên việc xử lý được quy định rất cụ thể trong Luật xử lý vi phạm hành

phi

1.2.3. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
thuế thu nhập doanh nghiệp
- Chế tài hành chính
Về mặt lý luận, chế tài hành chính (hay trách nhiệm pháp lý hành
chính) [18, tr.553] là hậu quả của hành vi VPPL hành chính và được thể hiện
trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi
trong việc VPPL hành chính một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế (chế tài xử
lý) của Nhà nước do pháp luật hành chính quy định.
Trên nguyên tắc, chế tài hành chính chỉ được áp dụng để xử lý đối với
các vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Vì vậy, muốn áp dụng chế tài
hành chính đối với các hành vi vi phạm cụ thể trong lĩnh vực thuế, cần phải
nhận diện rõ hành vi đó có phải là vi phạm hành chính hay không và tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó như thế nào, để áp dụng
các biện pháp chế tài hành chính (cảnh cáo, phạt tiền hay các biện pháp
khác...) cho phù hợp.
- Chế tài hình sự
Chế tài hình sự (hay trách nhiệm pháp lý hình sự) [18, tr.553] là dạng
TNPL nghiêm khắc nhất và là hậu quả của việc thực hiện tội phạm và được
thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tòa án) áp dụng đối với
người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm một hoặc nhiều biện pháp
cưỡng chế của Nhà nước do pháp luật hình sự quy định.
Trong quá trình áp dụng pháp luật thuế, nếu hành vi vi phạm pháp luật
thuế của tổ chức, cá nhân cấu thành một hoặc nhiều tội phạm được quy định
trong bộ luật hình sự thì người vi phạm sẽ phải chịu các chế tài hình sự. Về
phương diện lý luận, chế tài hình sự là trách nhiệm pháp lý mà Nhà nước áp
dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Những hành vi này
đều có đặc điểm chung là do người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến lĩnh vực



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status