CƠ sở lý LUẬN về PHÁT TRIỂN đội NGŨ GIÁO VIÊN ở các TRƯỜNG THPT đáp ỨNG yêu cầu CHƯƠNG TRÌNH GIÁO dục PHỔ THÔNG mới - Pdf 51

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở
CÁC TRƯỜNG THPT ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO
DỤC PHỔ THÔNG MỚI


Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới
Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nepal vào năm 1998 về
tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định:“Xây dựng, bồi
dưỡng ĐNGV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
“Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục
như: M.I.Kônđacốp, P.V. Khuđominxki…đã rất quan tâm tới
việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp
quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải
có ĐNGV có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng kết qủa toàn
bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ
chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng, phát
triển đội ngũ”[29].
Và hầu hết các nước trên thế giới quan tâm, đầu tư cho
công tác xây dựng, bồi dưỡng và phát triển ĐNGV và CBQL
giáo dục.
Tại Việt Nam
Đảng ta đã rất coi trọng người thầy giáo. Trong nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII, Đảng ta khẳng định:“Giáo


viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được
xã hội tôn vinh. Giáo viên là khâu then chốt để thực hiện
chiến lược phát triển giáo dục và phải đặc biệt chăm lo đào

sĩ của Nguyễn Văn Thạo, 2011”[26].
“Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ
thông ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang trong bối cảnh đổi
mới giáo dục. Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Cẩm My,
2015”[25].
“Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tại Trung tâm giáo
dục thường xuyên huyện Krôngpắc, tỉnh Đắklắk. Luận văn
thạc sĩ của Lê Thị Minh Trinh, 2015”[29].


“Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học
phổ thông A Hải Hậu tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiên nay.
Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Trường, 2015”[30].
“Quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông
huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng theo chuẩn nghề nghiệp.
Luận văn thạc sĩ của Lưu Văn Hanh, 2016”[16].
…………….
Từ những luận văn có liên quan đã tham khảo và kiến
thức đã được học, tác giả tìm ra hướng mới phù hợp với
chương trình thạc sĩ theo định hướng nghiên cứu để làm luận
văn.
Các khái niệm liên quan
Đội ngũ, Đội ngũ giáo viên, Đội ngũ giáo viên THPT
Có một số quan điểm cho rằng, đội ngũ“Đó là một tổ
chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng: Đội ngũ
chỉnh tề”. Theo lý luận về khoa học quản lý thì đây là một đội
công tác, trong đó các cá nhân kết hợp với nhau, thường
xuyên trau dồi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau để đạt được muc
đích nào đó.


cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lí các
nguồn lực, tạo ra những kết quả bền vững…nhằm cải thiện
cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”[12].
“Theo Warren - Piper và Glatter (1977), phát triển giáo
viên là thúc đẩy một loạt động cơ có hệ thống, thỏa mãn hứng
thú, ý chí nguyện vọng và nhu cầu của cá nhân để phát triển
sự nghiệp của họ, đồng thời đáp ứng nhu cầu tương lai của tổ
chức”. Mặt khác, theo Riches C.(1997) có đổi mới quan
điểm phát triển giáo viên,“Cách tiếp cận quản lí nguồn nhân
lực là nói về việc cải thiện hoạt động và hiệu quả công việc,
dù những điều này khó xác định đến mấy; phải thừa nhận
rằng con người trong một tổ chức là bộ phận quan trọng nhất
để làm mọi việc. Con người cũng cần được quản lí để phát


huy tối đa hoạt động của chính bản thân và tổ chức của họ.
Và giá trị cần được quản lí. Phớt lờ họ hay đối xử với họ như
những quân tốt đen trên một bàn cờ của một tổ chức là không
có đạo đức, không tự do và cũng không hỗ trợ cho hoạt động
của trường”[21].
Phát triển ĐNGV là làm cho ĐNGV đủ về số lượng, đảm
bảo về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu để giảng dạy.
Phát triển ĐNGV THPT là làm cho ĐNGV đủ về số
lượng, đảm bảo về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu để giảng
dạy cấp THPT.
Chương trình giáo dục phổ thông mới và yêu cầu đặt
ra cho giáo viên THPT, đội ngũ giáo viên THPT và phát
triển đội ngũ giáo viên THPT
Ngày 19/01/2018, Bộ GDĐT đã công bố dự thảo các
chương trình môn học của chương trình GDPT mới.

đào tạo nói chung để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc
và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên
nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp
thiết và xu thế mang tính toàn cầu.
Do vậy, GDPT nước ta cũng cần đổi mới để đáp ứng
những đòi hỏi của thực tế và bắt kịp xu thế chung của nhân
loại.
- Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
mới
“Chương trình GDPT mới được xây dựng dựa trên
những quan điểm về chương trình GDPT và việc xây dựng,
phát triển chương trình GDPT như sau:
*Căn cứ xây dựng chương trình GDPT mới
Chương trình GDPT mới được xây dựng dựa trên những
căn cứ sau:


Căn cứ pháp lí: quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện
GDĐT.
Căn cứ lí luận: những tiến bộ của thời đại về khoa học công nghệ và xã hội; đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam,
các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của
nhân loại; thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh
nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực
của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Căn cứ thực tiễn: nhu cầu phát triển của đất nước; kinh
nghiệm xây dựng và thực hiện các chương trình GDPT đã có
của Việt Nam.
*Vai trò của chương trình GDPT mới

*Tính mở của chương trình GDPT mới
Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và
những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh
toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm
cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung
một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục
phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa
phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt
động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.
Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định
hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và
phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá
chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo
viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương
trình.
Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát
triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa
học - công nghệ và yêu cầu của thực tế”[8].
Nội dung cơ bản của chương trình GDPT mới


*Những điểm mới của chương trình GDPT mới gồm
Chương trình GDPT mới so với chương trình hiện hành có
những điểm mới sau:
1/ Một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa;
2/ 9 năm học cơ bản, 3 năm giáo dục nghề nghiệp;
3/ Trung học phổ thông có 5 môn bắt buộc;
4/ Xuất hiện môn học mới đó là môn trải nghiệm ở tiểu
học, từ trung học cơ sở và trung học phổ thông là trải nghiệm


Năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có
hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết
những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm,
có sự phê phán để đi đến giải pháp”. Định nghĩa này cũng nói
tới sự đóng góp của những yếu tố sẵn có ở mỗi cá nhân vào
việc phát triển năng lực của bản thân.
Năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ
dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn
lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống”.
“Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, có 3 năng
lực chung và 7 năng lực riêng được hình thành cho học sinh
qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục gồm: năng lực
tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải
quyết vấn đề và sáng tạo; những năng lực chuyên môn được
hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và
hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực
tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công
nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.


Yêu cầu “phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng
lực” là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện
có đức có tài, vừa hồng vừa chuyên của dân tộc.
*Kế hoạch dạy học: gồm nội dung giáo dục; phương
pháp giáo dục và đánh giá kết qủa giáo dục:
+ Nội dung giáo dục bao gồm các môn học và hoạt
động giáo dục bắt buộc như Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1;
Giáo dục thể chất; Giáo dục quốc phòng-an ninh; Hoạt động
trải nghiệm; Nội dung giáo dục của địa phương.

tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố
có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để


giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều
mục tiêu khác nhau”[8].
“Giáo dục hướng nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động
của nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội nhằm cung
cấp tri thức về nghề nghiệp và thị trường lao động cho học
sinh, giúp học sinh tự đánh giá sở trường, nguyện vọng, quan
niệm về giá trị và điều kiện của bản thân, từ đó lựa chọn định
hướng nghề nghiệp phù hợp và có ý thức chuẩn bị cho việc
thực hiện sự lựa chọn đó”[8].
“Giáo dục STEM : STEM là thuật ngữ viết tắt của các
từ

Science

(Khoa

học),

Technology(Công

nghệ),

Engineering(Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học); là thuật
ngữ rút gọn được sử dụng khi bàn đến các chính sách phát
triển về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học của Mĩ.
Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu bởi Quỹ Khoa học

khác hơn, yêu cầu cao hơn so với chương trình phổ thông
hiện hành. Do vậy để đáp ứng được việc giảng dạy chương
trình GDPT mới đạt hiệu qủa thì yêu cầu nâng cao chất
lượng ĐNGV là hết sức cần thiết”.
Như vậy để thực hiện giảng dạy chương trình GDPT
mới thì yêu cầu các giáo viên phải tham gia bồi dưỡng, đào
tạo, đào tạo lại để đạt yêu cầu thực hiện chương trình.
Yêu cầu đặt ra cho giáo viên THPT và đội ngũ giáo
viên THPT
- Đủ về số lượng
ĐNGV THPT được xác định trên cơ sở lớp học và định
mức biên chế theo quy định của Bộ GDĐT. Hiện nay theo
Thông tư số 16/2017/TT -BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc hướng dẫn danh mục khung vị trí việc
làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở
giáo dục phổ thông công lập thì mỗi trường THPT được bố trí
tối đa 2,25 giáo viên trên một lớp. Định mức số lượng giáo
viên trên một lớp quy định tại Thông tư này là số giáo viên để
làm công tác giảng dạy tất cả các môn học và các hoạt động
giáo dục khác có trong kế hoạch giáo dục quy định tại


Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành.
Số giáo viên cần có = số lớp học x 2,25 giáo viên.
- Đồng bộ về cơ cấu
Cơ cấu chuyên môn hay còn gọi là cơ cấu bộ môn:
Là tình trạng về tỉ trọng giáo viên của các môn học hiện
có ở cấp THPT, sự thừa, thiếu giáo viên ở mỗi môn học. Các
tỉ lệ này vừa phải phù hợp với định mức quy định thì ta có

nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.


Chất lượng

Phát triển
ĐNGV

Cơ cấu

Số lượng

- Vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên
- Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên
THPT
“Theo điều 30, 31, 32, 33 Điều lệ trường trung học cơ sở,
trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
(Ban hành kèm theo Thông tư

số:12/2011/TT-BGDĐT ngày

28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)” [6].
“Ngoài ra, để đáp ứng được yêu đổi mới giáo dục phổ thông,
giáo viên phải có những vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, giáo viên là nhà giáo dục.
Thứ hai, giáo viên là người học suốt đời.
Thứ ba, giáo viên là một người nghiên cứu.


Thứ tư, giáo viên là nhà văn hóa - xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status