TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
----
Bài tập nhóm
Môn: Hoạt động kinh doanh ngân hàng
Phân tích thực tế những yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại giai đoạn 2009-2013
Nhóm: LITTLE STAR
Lớp: D09
Giảng viên: Th.S Nguyễn Thị Minh Châu
MỤC LỤC
1. Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Đây là yếu tố đầu tiên chi phối hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Mục tiêu kinh
doanh là chỉ rõ cái đích mà ngân hàng phải đạt được trong một thời kỳ nhất định. Mục
tiêu xây dựng phải phù hợp với tiềm năng, thực lực hiện có của từng ngân hàng và sứ
mạng của ngân hàng trong tương lai. Mục tiêu kinh doanh được biểu hiện cụ thể qua các
con số xác định về lợi nhuận kỳ vọng, về thị phần, mức độ rủi ro có thể chấp nhận. Các
ngân hàng khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau và trong một ngân hàng, ở những
giai đoạn phát triển khác nhau các mục tiêu cũng sẽ được nhấn mạnh với mức độ khác
nhau.
Sau khi đã xác định được mục tiêu, thì bước quan trọng tiếp theo là hoạch định chiến
lược thích hợp để đạt được mục tiêu. Nếu mục tiêu là đích đến của ngân hàng thì chiến
với chủ trương thực hiện chính sách “Tam nông” đã tập trung nguồn vốn (bao gồm cả
nguồn thu nợ từ lĩnh vực cho vay lĩnh vực phi sản xuất chuyển sang) để đáp ứng nhu cầu
vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Agribank tổng dư nợ cho vay tăng
trưởng khoảng 10% so với năm 2011. Dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn tăng 15 18%; chiếm tỷ trọng hơn 70%/tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Bên cạnh đó, Agribank
giảm dư nợ và tỷ trọng cho vay phi sản xuất (đối với lĩnh vực bất động sản và cho vay
tiêu dùng), tập trung chủ yếu vào cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Agribank đẩy
mạnh huy động vốn từ nền kinh tế trong nước và nước ngoài; tập trung mọi nguồn vốn
huy động và nguồn thu nợ từ cho vay lĩnh vực phi sản xuất chuyển sang để cho vay lĩnh
vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, cho vay xuất khẩu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cũng tương tự như vậy, một ngân hàng thương mại hoạt động lâu năm, có mục tiêu hàng
đầu là lợi nhuận, nhưng chiến lược đạt lợi nhuận cảu ngân hàng là từ các hoạt động dịch
vụ phi lãi/ thu phí, thì trong danh mục tài sản của ngân hàng đó, danh mục tín dụng chỉ
có một quy mô khiêm tốn, tủ trong so với tổng giá trị của danh mục tài sản không thể cao
bằng một ngân hàng có mục tiêu lợi nhuận chủ yếu từ lãi trong hoạt động tín dụng. Vì
vậy, có thể thấy hoạt động tín dụng của một ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn và phản
ánh rõ mục tiêu cũng như đường lối kinh doanh của ngân hàng đó.
2. Vốn tự có và các điều kiện nội lực của ngân hàng
Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ an
toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Ðối với tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu (mức đủ vốn tối thiểu), quy định cụ thể có liên quan đầu tiên là Quyết
định 297/1999/QÐ-NHNN5 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của
ngân hàng thương mại (NHTM). Ðến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định
457/2005/QÐ-NHNN với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp tính
toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel I. Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư số
13/TT-NHNN thay thế Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN, nâng tỷ lệ an toàn tối thiểu lên
9% và phương pháp tính toán đã từng bước tiếp cận Basel II. Như vậy, quản lý Nhà nước
đối với mức độ đủ vốn của các NHTM luôn hướng theo chuẩn mực quốc tế.
Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 - 2011
Tỷ lệ an toàn vốn
STB
ACB
EAB
2010
9
8.02
6.09
9.32
10.32
10.4
10.84
13.11
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các báo cáo thường niên của các NHTM
Ðối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được yêu cầu mới
của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự gặp khó khăn trước
yêu cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn. Cụ thể đến thời điểm 31/6/2011, tỷ lệ
CAR của nhiều các ngân hàng cổ phần như ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank,
giá lại.
Hình 2.2: Các chỉ tiêu tài chính hệ thống ngân hàng Việt Nam giai
đoạn 2008 – 9/2011
Nguồn: UBGSTCQG
Thứ nhất, đối với khối NHTMCP, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, đã chứng
kiến sự mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam, đặc
biệt là ở nhóm NHTMCP với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản trung bình vào khoảng
45%/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn tự có của nhóm NHTMCP lại không theo kịp tốc
độ mở rộng tổng tài sản. Ðiều đó dẫn đến hiện tượng hệ số an toàn vốn của nhóm ngân
hàng này có xu thế giảm, đặc biệt trong năm 2010 và 2011. Hơn thế, như khuyến nghị
của Basel III, trong tình huống hệ số an toàn vốn ổn định nhưng tỷ lệ đòn bẩy tăng cao
cũng có thể báo hiệu những rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống NHTM. Ðối với khối
NHTMCP, xu hướng hệ số đòn bẩy tài chính cao có thể nhận thấy khá rõ. Trên đà tăng
như hiện nay, khả năng chống đỡ của NHTMCP trước rủi ro là rất đáng lo ngại.
6
Hình 2.3: Các chỉ tiêu tài chính của nhóm NHTMNN và NHTMCP giai đoạn 2008 – 9/2011
Nguồ
n: UBGSTCQG
Bên cạnh đó, danh mục tài sản có của các NHTMCP trong giai đoạn 2010-2011 đang có
sự thay đổi đáng chú ý: tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM và chứng khoán đầu tư tăng lên
đáng kể trong khi tỷ trọng tín dụng giảm xuống. Bên cạnh tác động khách quan từ nền
kinh tế và hạn mức tăng trưởng tín dụng 20%, việc NHNN yêu cầu các NHTM giảm tín
dụng phi sản xuất xuống còn 16% vào cuối năm 2011 có thể đã hạn chế năng lực mở
rộng các khoản cho vay đối với các ngân hàng này, đặc biệt là các NHTMCP nhỏ vốn có
tỷ lệ dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản trên tổng dư nợ ở mức cao. Do thị trường
chỉ xác định rủi ro tín dụng chứ chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (rủi
ro tác nghiệp). Hơn thế, theo khuyến nghị của Basel III, cần nâng mức an toàn vốn tới
13% để bao gồm cả rủi ro do biến động kinh tế vĩ mô (rủi ro có tính chu kỳ) và rủi ro
chéo trong trường hợp ngân hàng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính. Nếu xét
tình huống Việt Nam trong năm 2011 thì cả hai vấn đề rủi ro có tính chu kỳ và rủi ro chéo
cần được tính tới. Hơn thế, khi đánh giá trong mối quan hệ với các NHTM trong khu
vực, mức độ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam ở mức khá thấp.
Hệ số an toàn vốn hệ thống các TCTD tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Quốc gia
CAR
Việt Nam
11,85%
TCTD Việt Nam
11,13%
TCTD nước ngoài
28,58%
Trung Quốc
11,8%
Ấn Độ
13,6%
3. Môi trường kinh tế xã hội trong nước
3.1.
Chu kỳ phát triển kinh tế
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến mọi
hoạt động của các ngân hàng thương mại nên ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng. Từ năm
2009 đến nay, mặt bằng lãi suất đã có nhiều biến động theo những thăng trầm của nền
kinh tế. Về cơ bản, lãi suất tăng mạnh trong giai đoạn 2009-2011 do lạm phát tăng cao
khiến NHNN phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ. Điều này đã dẫn tới hiện tượng
khan hiếm tiền đồng trên toàn hệ thống, thúc đẩy các ngân hàng bước vào cuộc chạy đua
lãi suất mặc dù NHNN đã đưa ra nhiều chính sách để hạn chế tình trạng tăng lãi suất.
Độ sâu tài chính, hay quy mô của ngành ngân hàng so với tổng thể nền kinh tế Việt Nam
đã thay đổi đáng kể cùng với sự tăng trưởng tín dụng. Năm 2000, tỷ lệ tín dụng/GDP chỉ
đạt 35,1%, khá thấp so với các nước trong cùng khu vực (Thái Lan (138%), Singapore
(78%), Philippines (58%), Trung Quốc (120%)). Tuy nhiên, sau mười năm tăng trưởng
tín dụng quá mức, năm 2010, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đạt đỉnh ở mức 135,8%.
Tỷ lệ tín dụng/GDP ở Việt Nam năm 2012 đạt 115,4%.
Hình 3.1
-
Năm 2009: Tình trạng mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay đã khiến cho
hầu hết các NHTM tham gia vào cuộc chạy đua lãi suất huy động bắt đầu từ tháng 2 khi
Chính phủ triển khai chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4% đến hết năm 2009. Để thu
hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, các NHTM đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động tại
tất cả các kỳ hạn. Trong 10 tháng khi lãi suất cơ bản ở mức 7%, lãi suất huy động tăng từ
1-2,5% cho mỗi kỳ hạn. Từ đầu tháng 12 khi lãi suất cơ bản tăng 1% lên mức 8%, các
ngân hàng tiếp tục nâng lãi suất huy động, đặc biệt tại các kỳ hạn ngắn, khoảng từ 1-1,6%
cho các kỳ hạn khác nhau. Với diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước phát thông điệp kiểm
tra toàn diện các trường hợp có lãi suất huy động từ 10,5%/năm trở lên khiến nhiều
NHTM đồng loạt áp lãi suất ở mức 10,49%/năm. Đáng chú ý, mặc dù lãi suất huy động
quân cả năm 2011 ở mức 18,58% so với năm 2010), hơn mức trần lãi suất (14%/năm) đã
khiến lãi suất huy động thực tế đang ở mức âm. Vì thế, trong thời gian này các ngân hàng
thương mại đã “xé rào” lãi suất huy động cả VNĐ và USD, huy động vốn với mức lãi
suất bình quân khoảng 17-18%/năm, lãi suất cho vay VNĐ bình quân thực tế khoảng
18,74%/năm, trong đó lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất đã lên đến 22-25%/năm.Lãi
suất cho vay VNĐ phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức
14,5-17%/năm, thấp nhất 13,5%/năm; cho vay sản xuất - kinh doanh khác 17-20%/năm,
thấp nhất 15%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 22-25%/năm.
Năm 2012, sau 5 lần điều chỉnh của NHNN, trần lãi suất huy động VND đã giảm tổng
cộng 6%, từ mức 14% xuống còn 8% tại thời điểm cuối năm. Cũng giống như lãi suất
huy động, lãi suất cho vay VND được điều chỉnh giảm từ 1-3%/năm đối với lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản
xuất – kinh doanh… phổ biến ở mức 14,5-16%/năm, thấp nhất 13,5%/năm áp dụng đối
với khách hàng doanh nghiệp cam kết bán ngoại tệ cho ngân hàng; cho vay sản xuất –
kinh doanh khác 16,5-20%/năm, thấp nhất 15%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 2025%/năm. Lãi suất cho vay USD vẫn ở mức cao, phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối với
ngắn hạn, 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn.
Năm 2013, trong năm 2013, mặt bằng lãi suất trên thị trường có mức giảm mạnh, vào
khoảng 0,8-1,5% đối với các kỳ hạn dưới 1 năm và lên tới 2,5-3,5% đối với các kỳ hạn
trên 1 năm so với cuối năm 2012. Nguyên nhân là do năng lực tài chính của các TCTD
được cải thiện đáng kể, các TCTD cũng điều chỉnh giảm lãi suất thay vì bám sát trần huy
10
động như giai đoạn trước. Đến cuối năm 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong khoảng 811,5%/năm kỳ hạn ngắn và 11,5-13%/năm trung dài hạn. Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên
lần lượt là 8-9%/năm và 11-12%/năm; các lĩnh vực khác là 9-11%/năm và 11,513%/năm. Đặc biệt, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch,
phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được vay với mức lãi suất chỉ từ 77,5%/năm.
Qua lãi suất của các năm ta có thể thấy được lãi suất thay đổi liên tục và nó có ảnh
hưởng đến huy động vốn và sâu xa hơn là ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của
ngân hàng.
buộc phải hủy bỏ bởi sự phản đối của cộng đồng và xã hội dù đã được chính phủ chấp
thuận triển khai, thậm chí đã được ngân hàng cam kết cấp tín dụng.
12
3.3.
Thị trường tài chính
Sự phát triển năng động của thị trường tài chính tác động đến hoạt động tín dụng nói
chung và danh mục tín dụng của ngân hàng nói riêng, khiến cho các khoản tín dụng của
ngân hàng có thể linh hoạt và uyển chuyển hơn, thông qua hoạt động trao đổi, mua bán
các khoản cho vay trên thị trường.
− Lạm phát là một trong những nhân tố chủ chốt ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng.
Giai đoạn 2009-2011, mặt bằng lãi suất đã có nhiều biến động theo những thăng trầm của
nền kinh tế. Về cơ bản, lãi suất tăng mạnh trong giai đoạn 2009-2011 do lạm phát tăng
cao khiến NHNN phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ. Điều này đã dẫn tới hiện
tượng khan hiếm tiền đồng trên toàn hệ thống, thúc đẩy các ngân hàng bước vào cuộc
chạy đua lãi suất mặc dù NHNN đã đưa ra nhiều chính sách để hạn chế tình trạng tăng lãi
suất.
− Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một khách hàng,
kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho vay, hướng giải
quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có vấn đề...tất cả các yếu
tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay của Ngân hàng.
Giai đoạn 2006 - 2011, chính sách tín dụng đầu tư nhà nước có nhiều thay đổi quan
trọng, đặc biệt là sự ra đời của VDB. Điểm nổi bật của chính sách tín dụng đầu tư nhà
nước giai đoạn 2006 - 2011 là đã bước đầu xây dựng danh mục các dự án vay vốn tín
dụng đầu tư, tập trung nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho các dự án đầu tư phát triển
thuộc các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thông qua đó tác động tích cực tới tăng
định 254/QĐ – TTg ra đời.
Trên thực tế, NHNN đã rất quyết liệt triển khai nhiệm vụ theo tinh thần đề án 254, bằng
cách phân loại hệ thống NHTM thành ba nhóm: Nhóm 1, gồm các NHTM có tình hình tài
chính lành mạnh, có năng lực quy mô đủ lớn để phát triển thành các ngân hàng trụ cột
của hệ thống; Nhóm 2, gồm các NHTM có tài chính lành mạnh, nhưng quy mô nhỏ;
Nhóm 3, gồm các NHTM có tình hình tài chính khó khăn buộc phải thực hiện tái cơ
cấu. Đến hết năm 2012, NHNN chỉ tập trung củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng,
lành mạnh hóa hoạt động tài chính, tái cơ cấu tổ chức, tăng cường quản trị hệ thống ngân
hàng…để tiến đến xử lý nợ xấu toàn diện.
Hệ thống NHTM và các TCTC giữ vai trò quan trọng trong khu vực tài chính Việt Nam,
vì đây là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp (DN). Tốc độ tăng
trưởng tín dụng ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tính đến 31/12/2013,
tổng tài sản của toàn hệ thống các TCTD đạt khoảng 5,75 triệu tỷ đồng, tăng 13,2% so
với năm 2012; Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 3,48 triệu tỷ đồng (khoảng
100% GDP), tăng 12,52% so với dư nợ tại thời điểm 31/12/2012. Về lãi suất, từ năm
2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nhiều lần điều chỉnh các mức lãi suất
điều hành để hạ mặt bằng lãi suất cho vay của NHTM và giúp các DN có thể tiếp cận
vốn. Ở thời điểm năm 2014, lãi suất huy động vốn được quy định ở mức 6% đối với tiền
gửi dưới 6 tháng. Theo đó, các mức lãi suất cho vay được thị trường điều chỉnh tương
ứng ở mức khoảng 8,5-10% tùy theo đối tượng khách hàng.
3.4.
Môi trường pháp lý
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động
sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ của pháp luật.
Do đó hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng thương
mại.
14
phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Thông tư này quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng hướng theo chuẩn mực
Basel II mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng.
- Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/05/2013, về việc thành lập, tổ
chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
(VAMC)
- Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 31/5/2013 theo Quyết định 843/2013/QĐ-TTg, với nguyên tắc xử lý nợ xấu phải
khẩn trương, quyết liệt, đồng bộ, bằng nhiều biện pháp, và đặt trong tổng thể chương
trình tái cơ cấu nền kinh tế.
- Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 09/09/2013, quy định về việc mua, bán và xử lý nợ
xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD (VAMC).
4. Xu thế hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi những tác động của quá trình hội nhập quốc tế, điều này thể hiện rõ trong giai
đoạn từ năm 2009 đến 2013.
-
Năm 2009, khủng hoảng tài chính toàn cầu tuy ít ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam vì
chưa tham gia nhiều vào thị trường tài chính thế giới nhưng cuộc khủng hoảng này đã
ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng cho vay giữa các ngân hàng (Libor và Sibor, tức London
Inter Bank offer rate, Singapore Inter Bank Offer rate) thường được dùng làm lãi suất cơ
sở để cho các xí nghiệp và ngân hàng Việt Nam vay.
Ngoài ra, theo cam kết gia nhập WTO từ 2007, trong năm 2009 các ngân hàng ngoại
bắt đầu mở rộng tầm ảnh hưởng bằng việc thành lập những ngân hàng 100% vốn nước
ngoài tại Việt Nam như HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong. Điều
này tạo ra thách thức không nhỏ cho các NHTM Việt Nam, khiến cho sự cạnh tranh trên
thị trường tài chính ngày càng trở nên quyết liệt. Lợi nhuận từ dịch vụ thấp, các ngân
hàng cổ phần lao vào tín dụng, cho vay chỉ chiếm 20% cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng
nước ngoài, nhưng lại chiếm đến 75-80% lợi nhuận của Ngân hàng nội. Sự lệch pha đó
nhưng các tỷ lệ này được tính toán trên cở sở các chuẩn mực kế toán Việt Nam. Nếu tính
toán dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế, tỷ lệ này sẽ bị thiếu hụt. Hơn nữa, các ngân
hàng Việt Nam mới chỉ đo lường rủi ro tín dụng trong phép tính CAR mà chưa lượng hóa
những rủi ro quan trọng khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, do đó chưa tính toán
được tỷ lệ CAR thực sự.
Bước sang năm 2011, mọi rào cản đối với ngân hàng nước ngoài theo cam kết năm 2007
khi Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, được tháo dỡ. Tại Việt
nam, CAR của nhiều ngân hàng thương mại đã vượt 9% mà NHNN đặt ra tại Thông tư
13. Ví dụ, đến thời điểm 31/12/2010 : VCB xấp xỉ 10%; ACB: 10,6%; Eximbank:
17,8%...Nhưng, nếu theo cách tính hệ số an toàn vốn tối thiểu của Basel (có tính đến vốn
dành cho rủi ro thị trường) thì số các NHTMVN đạt chuẩn chắc chắn sẽ không nhiều. Nợ
xấu có chiều hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống các
NHTM là 2,5% . Dễ dàng nhận thấy một sự lệch pha nhau trong chiến lược kinh doanh
của các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài. Trong khi các NHTM trong
nước vẫn tiếp tục cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt nhằm phát triển tín dụng, chạy đua lãi
suất để thu được lợi nhuận cao thì các NH nước ngoài đi sâu phát triển các lĩnh vực tài
chính doanh nghiệp, kinh doanh vốn trên thị trường ngoại hối; nghiệp vụ ngân hàng toàn
17
cầu, TTQT và cung ứng dịch vụ lưu ký chứng khoán, vốn vẫn được coi là thế mạnh của
ngân hàng ngoại.
Hội nhập quốc tế còn là cơ hội để các ngân hàng thu hút vốn từ cổ đông chiến lược
nước ngoài, phục vụ cho hoạt động của mình. Năm 2011, hàng loạt ngân hàng đã tăng
vốn được nhờ việc bán cổ phần cho đối tác ngoại. Riêng hai ngân hàng lớn là Vietinbank
và Vietcombank đã tìm được đối tác chiến lược. Vietinbank chào bán hơn 168,58 triệu cổ
phần cho các tổ chức đầu tư thuộc Tổ chức tài chính quốc tế - IFC. Đồng thời, Vietinbank
bán tiếp 15% cổ phần cho Bank of Nova Scotia của Canada. Đến tháng 9/2011,
Vietinbank trở thành ngân hàng Việt đầu tiên vươn hệ thống của mình sang Đức, khi mở
Tài liệu tham khảo
Agribank giảm lãi suất ( />Ths. Nguyễn Đức Trung, An toàn vốn của các NHTM – thực trạng Việt Nam và giải
pháp cho việc áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel II & III.
Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam
( />ang_020114_VPBS.pdf)
Minh Đức (2009) , 10 điểm nổi bật trong hoạt động ngân hàng
( />Ngọc Bích (2013), Thách thức đối với hệ thống ngân hàng sau 5 năm gia nhập WTO
( />Phương Mai (2011) , 10 sự kiện tài chính ngân hàng nổi bật. ( />Trí Dũng, Hiệp ước vốn Basel ( />
19