z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN
2009-2013
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Minh Châu
Lớp: D09
Mục lục
A. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
I. Các nhân tố từ ngân hàng
1. Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Chính sách tín dụng của là một trong những chính sách trong chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp. Đó là yếu tố đầu tiên tác động dến việc cung ứng vốn cho nền kinh
tế.Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh
lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính
sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa chất lượng tín
dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng
đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải có
chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như của thị trường.
2. Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành
trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng.Trong quy trình tín
dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng . Bao gồm 3 giai đoạn: khai thác và tìm kiếm
khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích
thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều
vào chất lượng công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng
ngân hàng thương mại.
Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản
tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần
thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình
thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng,
nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng. Sự nhạy bén của
ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng
cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được
những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng.
Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là công tác thu thập thông tin. Thông tin
tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng
càng tốt.
Tỉ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2009 – 2013 có xu hướng tăng nhanh,Đến cuối năm 2009
tỷ lệ nợ xấu là 2,6% và 2010 khoảng 3% tổng dư nợ tín dụng nên vẫn nằm trong tỷ lệ an
toàn cho phép của NHNN. Năm 2011,nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 3,6 - 3,8%
tổng dư nợ. Con số này tới cuối năm 2012, theo công bố của NHNN là 4,08 %, cho dù
theo các tổ chức đánh giá độc lập thì con số thực tế cao hơn nhiều. Bước sang năm 2013,
tỷ lệ nợ xấu vẫn tiếp tục tăng cao, chạm mức 4,67% vào giữa năm 2013,về cuối năm 2013,
tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là 3,79% - giảm gần 1% so với hồi đầu
năm 2013. Việc tỉ lệ nợ xấu tăng cao trong giai đoạn này do những hạn chế trong công tác
quản trị, thẩm định, giám sát sử dụng vốn vay của ngân hàng. Nhìn chung, nguyên nhân sự
gia tăng tỉ lệ nợ xấu do áp lực cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước từ các ngân hàng
cao, thì rủi ro càng cao.
4. Phẩm chất và trình độ cán bộ
Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực được phát triển rất sôi động về cơ cấu, số
lượng, chất lượng do nhu cầu mở rộng nhanh mạng lưới kinh doanh. Sự phát triển quá
nhanh của các tổ chức tín dụng dẫn đến nguồn nhân lực có chất lượng cao, có đạo đức
nghề nghiệp thiếu, không đáp ứng được nhu cầu trong khi các công tác tuyển dụng, đào
tạo lại chưa được coi trọng nên rủi ro tác nghiệp và đạo đức gia tăng. Theo nghiên cứu của
Trường ĐH Tài chính- Marketing thực hiện vào tháng 5/2012 cho thấy, có khoảng 70%
nhân viên của ngân hàng đáp ứng được yêu cầu của công việc, 30% còn lại phải tiếp tục
đào tạo. Riêng đối với chi nhánh mới, nhất là ở tỉnh chỉ có 50% nhân viên đáp ứng được
yêu cầu công việc.
Ngoài ra khoảng 20-30% nhân viên tín dụng chưa nắm rõ các quy trình nghiệp vụ, yếu
về kiến thức pháp lý trong hồ sơ tín dụng, phân tích tài chính, quản lý và xử lý nợ; 50-60%
nhân viên yếu kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, bán chéo sản phẩm, tổ chức công việc.
Mặt khác, đa số các quản lý trung và cao cấp tại các ngân hàng thương mại chủ yếu
được đề bạt qua hoạt động chuyên môn, thiếu kiến thức về quản lý, điều hành một chi
nhánh, một ngân hàng hiện đại, nên đôi khi chỉ một sơ suất nhỏ trong hoạt đọng quản lý
cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng.
5. Thực trạng hệ thống KSNB của ngân hàng thương mại
Thực trạng về môi trường kiểm soát:
Các yếu tố của môi trường kiểm soát có chỉ số trung bình rất thấp cho thấy chất lượng
môi trường kiểm soát trong các NHTM hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập:
Hầu hết các NHTM chưa chú trọng đến việc quy định, truyền thông về tính chính
trực và các giá trị đạo đức;
- Ban Quản trị chưa thực sự quan tâm tới việc duy trì và phát triển KSNB trong ngân
hàng;
- Không phải lúc nào Ban Giám đốc cũng thận trọng trong việc xây dựng các ước
tính kế toán như trong việc phân loại nợ, trích lập dự phòng.
Lãi suất huy động VNĐ được điều chỉnh tại tất cả các kỳ hạn, đặc biệt tại các kỳ hạn
ngắn.
Trong năm 2009, những ngân hàng đã lỡ lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá
nhiều hoặc vay nhiều trên thị trường liên ngân hàng để đem cho vay lại đã phải điều chỉnh
tăng liên tục lãi suất huy động để thu hút nguồn tiền từ dân cư nhằm thu hút 1 nguồn nhàn
rỗi nhằm giải quyết bài toán thanh khoản. Trong 10 tháng khi lãi suất cơ bản ở mức 7%,
lãi suất huy động tăng từ 1-2,5% cho mỗi kỳ hạn. Từ đầu tháng 12 khi lãi suất cơ bản tăng
1% lên mức 8%, các ngân hàng tiếp tục nâng lãi suất huy động, đặc biệt tại các kỳ hạn
ngắn, khoảng từ 1-1,6% cho các kỳ hạn khác nhau. Tuy nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy
động hơn mức cho phép qua các hình thức khuyến mãi nhưng vẫn không đáp ứng được
nhu cầu của thị trường.
Nguồn: TCTK
Năm 2011, lãi suất huy động tăng mạnh, Trong 3 tháng đầu năm, lạm phát tăng cao dẫn
đến lãi suất huy động có xu hướng tăng trên thị trường (lạm phát bình quân cả năm 2011 ở
mức 18,58% so với năm 2010), hơn mức trần lãi suất (14%/năm) đã khiến lãi suất huy
động thực tế đang ở mức âm. Vì thế, trong thời gian này các ngân hàng thương mại đã “xé
rào” lãi suất huy động cả VNĐ và USD, huy động vốn với mức lãi suất bình quân khoảng
17-18%/năm, lãi suất cho vay VNĐ bình quân thực tế khoảng 18,74%/năm, trong đó lãi
suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất đã lên đến 22-25%/năm.
Năm 2013, lãi suất huy động và cho vay VNĐ duy trì xu hướng giảm nhưng tốc độ đã
chậm lại so với năm 2012. Mặt bằng lãi suất trên thị trường có mức giảm mạnh, vào
khoảng 0,8-1,5% đối với các kỳ hạn dưới 1 năm và lên tới 2,5-3,5% đối với các kỳ hạn
trên 1 năm so với cuối năm 2012. Lãi suất cho vay VND cũng được điều chỉnh giảm thêm
3-4%/năm để hỗ trợ khách hàng. Đến cuối năm 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong
khoảng 8-11,5%/năm kỳ hạn ngắn và 11,5-13%/năm trung dài hạn.
II. Các nhân tố từ khách hàng
Khách hàng vay:
quả, khả thi. Tuy nhiên vẫn có những doanh nghiệp làm đẹp báo cáo tài chính, các
phương án, số liệu của công ty để cố ý chiếm dụng vốn của ngân hàng dùng váo
những việc khác nhau. Nếu cán bộ ngân hàng không có đủ trình độ chuyên môn để
thẩm định thì khả năng gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng là rất cao, làm ảnh
hưởng đến uy tín ngân hàng .
Tiềm lực tài chính khách hàng vay: năng lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến rủi
ro tổng thể của khách hàng trong vấn đề trả nợ của khách hàng.
Sử dụng vốn vay: mục đích sử dụng vốn là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét
cấp tín dụng cho khách hàng. Mục đích vay vốn phải rõ ràng, đảm bảo khả năng trả
nợ cho ngân hàng. Điều này liên quan tới việc ngân hàng đã xem xét các rủi ro có
thể gặp phải và dự phòng phương án khắc phục.
Uy tín, lịch sử trả nợ: Bằng cách xem xét lịch sử trả nợ của khách hàng trong quá
khứ là quan trọng bởi đây tín hiệu cho biết khách hàng có đang gặp khó khăn về tài
chính không và có ý định, thiện chí trả nợ không. Nếu khách hàng có lịch sử trả nợ
không tốt thì có khả năng sẽ tiếp diễn hiện tượng đó trong tương lại.
III. Các nhân tố khác
1. Môi trường kinh tế
Năm 2009 nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng lớn bởi khủng hoảng kinh tế, sau đó
phục hồi vào băm 2010, nhưng từ 2011 đến 2013 tình hình kinh tế vẫn khó khăn và chưa
có dấu hiệu phục hồi rõ ràng. Sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút,
lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm,vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có
hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng ngân hàng giảm sút về
quy mô và chất lượng.Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng, lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lợi nhuận của
doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng, nên với mức lãi suất cao các doanh nghiệp vay
vốn ngân hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hoạt động tín dụng ngân hàng lúc
hàng đối với ngân hàng sẽ làm tăng thêm tính ổn định của nguồn vốn huy động để đáp ứng
nhu cầu của người vay. Đối với người vay, họ đến với ngân hàng với mong muốn nhu cầu
vay của mình được đáp ứng để có được một khoản tín dụng sử dụng trong mục đích sản
xuất kinh doanh của mình với sự xác định rõ ràng khối lượng tiền vay, thời hạn vay và lãi
suất. Nếu nhu cầu của khách hàng được chấp nhận trong một thái độ niềm nở và thủ tục
đơn giản thì chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động tín
dụng được thuận lợi, chất lượng tín dụng được bảo đảm. Ngân hàng:là chủ thể đại diện
cho bên cầu về huy động vốn đồng thời cũng là người cung cấp tín dụng . Quy mô và
phạm vi hoạt động phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn tự có của ngân hàng thương mại, khả
năng huy động vốn cũng như uy tín và trình độ quản lý của ngân hàng, ngoài ra còn phụ
thuộc vào trình độ kỹ thuật nghiệp vụ, mạng lưới hoạt động... khả năng tạo tiền của các
ngân hàng thương mại và việc sử dụng các công cụ tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
4. Các yếu tố khác
Ngoài những yếu tố nêu trên,còn phải kể đến một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng như: đạo dức xã hội có liên quan đến rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng
lòng tin để lừa đảo, hoặc do điều kiện sống còn khó khăn hay trình độ dân trí chưa cao,
kém hiểu biết dẫn đến chưa hiểu đúng bản chất hoạt động của ngân hàng nói chung cũng
như hoạt động tín dụng nói riêng, làm ăn kém hiệu quả, nhiều khi không phát huy tốt chức
năng của các phương tiện tín dụng ngắn hạn. Bên cạnh đó là các biến động kinh tế, chính
trị, xã hội ở các nước trong khu vực cũng như trên thế giới cũng ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng ngắn hạn. Trong tình hình hiện tại bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều
đặt mình trong hợp tác toàn diện với các nước khác nhau trên thế giới, các quan hệ kinh tế,
xã hội được mở rộng, theo đó là loại hình doanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng
về số lượng và quy mô hoạt động. Vì vậy, mọi sự biến động về kinh tế, văn hoá, xã hội ở
nước ngoài cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong
nước và cũng ảnh hưởng đến chất lương tín dụng ngắn hạn. Có thể dễ dàng nhận ra rằng,
do cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực mà các mặt hàng xuất khẩu của ta đi các nước
liên tiếp bị hạ giá để cạnh tranh, điều này có nghĩa là các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn
là, gia tăng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng; hai là, giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu; ba là,
rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống ngân hàng. Và các giải pháp được sử
dụng để xử lý nợ xấu năm 2011 phân tán ở từng ngân hàng thông qua siết chặt thẩm định
khách hàng vay vốn; hay đảo nợ, giãn/ hoãn/ giảm nợ; và tuân thủ quy định, điều kiện cho
vay với doanh nghiệp nhà nước.
Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện “hỏa mù” về số
liệu nợ xấu. Trong giai đoạn, 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là
26,56%, nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51%. Do đó, nợ xấu được quan tâm
không chỉ ở cấp độ NHTM, hay NHNN mà còn lên ở nghị trường Quốc hội lẫn Chính phủ.
Lúc này đây, số liệu nợ xấu và tình trạng nợ xấu – xấu đến đâu, không có gì là rõ ràng.
Chẳng hạn, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống
là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47%. Còn số liệu của Cơ quan giám sát ngân hàng thì tỷ lệ nợ
xấu có khi lên đến 8,6%. Và bất ngờ hơn cả là số liệu của Fitch Ratings, tỷ lệ nợ xấu Việt
Nam là 13% trên tổng dư nợ. Chính vì vậy, ngày 03/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết 01/NQ – CP, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012.
Năm 2013, có thời điểm nợ xấu tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam tăng mạnh tới
23,73% so với năm 2012. Lúc này, nợ xấu thật sự là mối đe dọa đến an ninh hệ thống ngân
hàng và ổn định tài chính quốc gia. Nợ xấu đã ngày càng xấu lẫn vượt tầm kiểm soát của
từng ngân hàng. Do đó, trong năm 2013, Chính phủ và NHNN phải tất bật thông qua nhiều
giải pháp, sáng kiến nhằm xử lý triệt để nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Và nhiệm vụ
của NHNN trong đề án 254 được thực thi sang giai đoạn hai, là lành mạnh hóa tài chính hệ
thống ngân hàng với việc tăng cường xây dựng các quy định về an toàn vốn, xử lý nợ xấu
hệ thống qua việc thành lậpVAMC và nâng cao quản trị rủi ro, hướng đến hoàn thiện
chuẩn mực Basel II.
Nguồn: www.cafef.vn
hiện xu hướng tốt cho ngân hàng giúp ngân hàng tăng lợi nhuận khi số tiền trích lập trên
tổng dư nợ giảm xuống.
IV. Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một khoản
thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân
hàng tồn tại và phát triển, tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng luôn chiếm trên 50%
trong tổng thu nhập của ngân hàng. Nếu ngân hàng chỉ chú trọng duy trì một tỷ lệ nợ xấu
thấp mà không sinh lợi thì hoạt động tín dụng cũng không còn ý nghĩa. Do đó, để hoạt
động tín dụng có chất lượng thì ngân hàng có kế hoạch cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> /> /> />
/>