BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN QUANG
ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP SFA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN QUANG
ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP SFA
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ VIỆT QUẢNG
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018
quả trong lĩnh vực ngân hàng: .................................................................................8
2.1.1 Những kỹ thuật liên quan đến việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân
hàng: .....................................................................................................................8
2.1.2 Mô hình đường biên ngẫu nhiên: ..............................................................17
2.1.3 Ước lượng giá trị các tham số cho mô hình đường biên ngẫu nhiên: .......19
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của việc tự do hóa tài chính
lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng: ..................................................................21
2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới: ....................................................................21
2.2.2 Các nghiên cứu về hiệu quả ngân hàng tại Việt Nam: ..............................32
2.3 Tóm tắt lại nội dung của chương: ....................................................................35
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM .............................................................................36
3.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam từ năm 1986 đến giai đoạn
hiện nay: .................................................................................................................36
3.1 Dữ liệu và mô hình nghiên cứu: ......................................................................39
3.1.1 Dữ liệu: ......................................................................................................39
3.1.2: Mô hình nghiên cứu: ................................................................................40
3.2 Bằng chứng thực nghiệm: ................................................................................45
3.2.1 Hiệu quả về chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng đang hoạt động tại
Việt Nam: ...........................................................................................................45
3.2.2 Lợi nhuận theo phạm vi và doanh thu theo quy mô: .................................54
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM ....................66
4.1 Các kết luận chính của luận văn: .....................................................................66
4.2 Những hàm ý chính sách đưa ra: .....................................................................67
4.3 Hạn chế của đề tài: ...........................................................................................69
4.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài: ...........................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tên viết tắt
DEA
IMF
SFA
BCTC
DMU
TE
EE
AE
TMCP
ATM
VNĐ
SOEs
FE
ROA
ROE
TA
TC
Tên tiếng Việt đầy đủ
Tên tiếng Anh đầy đủ
Data Envelopment
Phân tích bao dữ liệu
Analysis
International Monetary
Quỹ tiền tệ quốc tế
Fund
Stochatic Frontier
Phân tích đường biên ngẫu nhiên
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Goldsmith (1969) là người đầu tiên nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm về mối
quan hệ cùng chiều giữa mức độ phát triển trong lĩnh vực tài chính và sự phát triển
kinh tế. Rajan và Zingales (1998) cũng đã tìm thấy được mối quan hệ nhân quả giữa
tăng trưởng kinh tế và sự phát triển trong lĩnh vực tài chính. Các tác giả đã tìm thấy
bằng chứng cho rằng những ngành công nghiệp mà có sự phụ thuộc vào nguồn tài
chính bên ngoài càng nhiều thì sẽ có xu hướng phát triển nhanh hơn tại những nước
có nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy mà tài chính phát triển hơn thì sẽ làm cho
nền kinh tế cũng sẽ tăng trưởng hơn.
Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây thì lại đưa ra một số điểm nghi ngờ về mối
quan hệ cùng chiều giữa phát triển tài chính và phát triển kinh tế. Thậm chí có một
số những nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát triển tài chính thì có ảnh hưởng tiêu cực
đến phát triển kinh tế. (Arcand, Berkes và Panizza, 2015) cho rằng khi tốc độ phát
triển tài chính quá nhanh thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho một nền kinh tế.
Orhangazi (2008) cho rằng khi mà lĩnh vực tài chính ngày càng rộng lớn hơn thì
cũng sẽ có một tác động lấn át đối với nền kinh tế thực, ví dụ là việc thu hút quá
nhiều những nguồn vốn tài chính và vốn nhân lực mà lẽ ra, những nguồn vốn này sẽ
có thể được sử dụng một cách hiệu quả hơn trong một nền kinh tế thực. Quy mô của
một lĩnh vực tài chính thì có thể được giải thích như là một phản ánh về chi phí của
một lĩnh vực tài chính, trong khi doanh thu của lĩnh vực tài chính thì lại phản ánh
các thành phần kinh tế còn lại hoạt động hiệu quả như thế nào.
Tại Việt Nam, khi mà đóng góp của hệ thống ngân hàng trong việc cung cấp vốn
cho toàn nền kinh tế chiếm khoảng 90% (IMF, 2014) thì tính hiệu quả của hệ thống
ngân hàng trong phát triển kinh tế của đất nước là điều tối quan trọng. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của hệ thống ngân hàng những
năm gần đây thì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tổ chức tín dụng với nhau
sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển của các loại hình ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam bằng phương pháp SFA”.
3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại hoạt động tại Việt Nam, đánh giá tính hiệu quả theo quy mô cũng như
tính hiệu quả theo phạm vi.
Mục tiêu cụ thể sẽ như sau:
Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại hoạt động tại
Việt Nam, phân chia theo các loại ngân hàng chính bao gồm: Các ngân hàng
thuộc nhóm Big Four, nhóm các ngân hàng thuộc các ngân hàng thương mại
còn lại trong nước và cuối cùng là nhóm các ngân hàng nước ngoài.
Đánh giá hiệu quả của các loại ngân hàng theo phạm vi cũng như theo quy
mô.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng ngân
hàng trong thời gian tới.
Xuất phát từ những mục tiêu nghiên cứu nêu trên thì câu hỏi nghiên cứu của đề tài
sẽ bao gồm những câu hỏi sau đây:
Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt
Nam bao gồm 03 nhóm ngân hàng là: Nhóm các ngân hàng thuộc nhóm Big
Four, nhóm các ngân hàng thuộc nhóm các ngân hàng thương mại nội địa
còn lại và nhóm các ngân hàng nước ngoài là như thế nào?
Hiệu quả hoạt động của các loại ngân hàng theo phạm vi và theo quy mô là
như thế nào?
Những giải pháp được đưa ra để cải thiện hiệu quả hoạt động của từng nhóm
các ngân hàng trong thời gian tới là gì?
5
có 02 loại phương pháp là phương pháp phi tham số và phương pháp tham số.
Trong đó, phổ biến nhất đối với phương pháp phi tham số là phương pháp DEA và
đối với phương pháp tham số là phương pháp SFA (Lensink, Messters, Naaborg,
2008). Tuy nhiên, Coelli và cộng sự (2005) thì phương pháp DEA cũng có những
hạn chế nhất định. Cụ thể là phương pháp DEA không tách rời được thành phần sai
số và thành phần nhiễu ra thành 2 phần riêng biệt, trong đó phần nhiễu có thể ảnh
hưởng đến hình dáng và vị trí của một đường biên hiệu quả. Việc loại trừ hoặc bao
gồm chỉ một yếu tố đầu vào hoặc đầu ra cũng sẽ làm cho kết quả bị lệch. Ngoài ra
trong phương pháp DEA chỉ chú trọng đến những yếu tố đầu vào cho trước để sản
xuất ra yếu tố đầu ra hay là đầu ra cho trước và phải cần bao nhiêu lượng yếu tố đầu
vào cho trước để sản xuất ra nó, mà không chú trọng đến những yếu tố về quản lý
có thể ảnh hưởng đến yếu tố đầu vào và đầu ra. Ngược lại phương pháp SFA thì lại
tách riêng được thành phần sai số và thành phần nhiễu, thành phần mà sẽ ảnh hưởng
đến hình dáng cũng như vị trí của đường biên ngẫu nhiên ra làm 2 phần riêng biệt.
Đồng thời phương pháp SFA cũng cho phép thực hiện những kiểm định thống kê về
những giả thuyết liên quan đến hàm sản xuất và mức độ không hiệu quả (Hosian,
Kamil, Baten, Mustafa, 2012). Kumbhakar và Lovell (2000) đã chứng minh rằng
phương pháp SFA khắc phục được hiện tượng phương sai thay đổi và việc ước
lượng các tham số cũng không bị lệch trong mô hình.
Xuất phát từ những nhận định trên, người viết lựa chọn phương pháp SFA để làm
phương pháp nghiên cứu chính trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của các loại
ngân hàng tại Việt Nam.
1.5 Kết cấu nghiên cứu của đề tài:
Toàn bộ nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ được bố trí theo từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu. Đây là chương đưa ra những lý do để lựa chọn đề tài, những
vấn đề cần nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như
bộ dữ liệu sẽ được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của người viết.
7
với từng ngân hàng cụ thể. Ngoài ra bài viết cũng đã tổng hợp lại những nghiên cứu
trước đây trên thế giới về việc đánh giá hiệu quả kinh tế theo quy mô cũng như theo
phạm vi mà các bài nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa được bao gồm, hiệu
ứng too – big – to – fail cũng đã được đề cập trong bài viết.
Tuy nhiên, bài viết cũng còn có những hạn chế đã được người viết liệt kê ra trong
chương 4 để từ đó, tìm được những hướng phát triển tiếp theo cho bài viết trở nên
hoàn chỉnh và khoa học hơn.
Người viết sẽ liệt kê ra các các kết quả nghiên cứu thu được từ việc đánh giá hiệu
quả của hệ thông các ngân hàng theo 03 loại theo sơ đồ sau đây:
Xét về mặt chi phí: Ngân hàng Big
Four, Ngân hàng nội địa còn lại,
Ngân hàng nước ngoài
Lợi thế kinh tế
theo phạm vi:
Ngân hàng Big
Four, Ngân hàng
nội địa còn lại
Hiệu
quả hoạt
động
Lợi thế kinh tế theo quy mô:
Ngân hàng nước ngoài, ngân
dỡ bỏ và việc tự do hóa tài chính ngày càng được quan tâm, thì xu thế hiệu quả của
ngân hàng cũng sẽ được quan tâm xem xét và đánh giá. Cuối cùng, mục 2.3 sẽ là
tổng kết lại nội dung trong chương 2.
2.1. Những kỹ thuật đánh giá liên quan đến việc đo lường và phân tích tính
hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng:
2.1.1 Những kỹ thuật liên quan đến việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân
hàng:
Xuyên suốt những thập niên đã qua, đã có khá nhiều những nghiên cứu liên quan
đến việc đo lường hiệu quả của những tổ chức tài chính, đặc biệt là những nghiên
cứu về đo lường hiệu quả đối với những ngân hàng thương mại (Berger và
9
Homphrey, 1997; Fethi và Pasiouras, 2010). Các phương pháp đo lường và đánh giá
chủ yếu tập trung việc việc xác định và phân loại xem đâu là những ngân hàng hoạt
động với thành quả tốt, đâu là những ngân hàng hoạt động với thành quả xấu
(Berger và Homphrey, 1997).
Dựa trên việc đánh giá, phân loại đâu là những ngân hàng hoạt động mang lại thành
quả hoạt động hiệu quả, đâu là những ngân hàng hoạt động mang lại thành quả kém
hiệu quả, các ngân hàng có thể đối chiếu, so sánh để từ đó đưa ra được những biện
pháp quản lý cũng như định hướng phát triển cho riêng mình để cải thiện hiệu quả
hơn.
Mục này tập trung vào việc tổng quan lại các phương pháp đo lường hiệu quả của
một đơn vị ra quyết định (DMU – Dicision Marking Unit) (mỗi ngân hàng riêng lẻ
cũng sẽ đươc xem như một DMU) – xét cả về mặt đo lường hiệu quả về mặt chi phí
cũng như đo lường hiệu quả về mặt lợi nhuận.
2.1.1.1 Lý thuyết về tính hiệu quả và tính năng suất:
Việc nghiên cứu về cấu trúc tối ưu trong ngành ngân hàng và sự hiệu quả của nó
phải được xem xét từ khía cạnh với định nghĩa về sự tối ưu hóa. Hiệu quả được hiểu
(Grosskopf và Lovell, 1994).
Theo định nghĩa thì khi nói đến hiệu quả thì sẽ là việc so sánh giữa giá trị thực tế
quan sát được so với giá trị tiềm năng của các sản lượng đầu vào và đầu ra. Tính
hiệu quả có thể được xem xét trên các khía cạnh: Sản lượng đầu ra thực tế so với
sản lượng đầu ra tiềm năng của yếu tố đầu vào cho trước hoặc sản lượng vào thực tế
so với sản lượng đầu vào nhỏ nhất để sản xuất ra sản lượng đầu ra cho trước, hoặc
là sự kết hợp của cả hai.
Farell (1957) đưa ra ý tưởng về việc sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất
(PPF) để làm tiêu chí cho việc đánh giá hiệu quả giữa các công ty (DMUs) trong
cùng một ngành. Theo đó thì các công ty đạt được đến đường giới hạn sẽ được coi
là hiệu quả hơn so với các công ty không đạt đường giới hạn PPF. Ông đã phân loại
hiệu quả ra thành ba loại: Hiệu quả về mặt kỹ thuật (TE), hiệu quả về mặt phân bổ
(AE), và hiệu quả về mặt kinh tế (EE). Trong đó, hiệu quả về mặt kỹ thuật (TE) của
11
việc sử dụng yếu tố đầu vào x để sản xuất được yếu tố đầu ra y sẽ được đo lường
theo công thức sau:
Đầ
TE
Đầ
(1)
à
Cụ thể hơn, trong hình 2.1, các DMU hoạt động tại các điểm B, C, D’ có TEB = TEC
à
(2)
Khi mà lượng thông tin về yếu tố đầu vào và đầu ra là có sẵn, và giả thiết về hành vi
như là việc tối đa hóa về lợi ích và tối thiểu hóa về chi phí là phù hợp, thì những
thông tin tổng hợp này có thể được sử dụng để đo lường thành quả hoạt động của
một DMU. Trong trường hợp này thì bên cạnh hiệu quả về kỹ thuật (TE), thì hiệu
12
quả về sự phân bổ (AE) cũng sẽ được đề cập. Hiệu quả về phân bổ được định nghĩa
là sử dụng tối ưu cho sự kết hợp của việc tối thiểu hóa chi phí đầu vào. Vì vậy mà
để đạt được tổng hiệu quả thì một DMU phải đạt được hiệu quả cả về mặt hiệu quả
về kỹ thuật cũng như hiệu quả về sự phân bổ. Khi đó, hiệu quả kinh tế (EE) được
mô tả bằng biểu thức như sau:
EE = TE * AE
Như đã được đề cập, hiệu quả kinh tế (EE) có thể được tiếp cận bằng 02 cách: Đầu
vào và đầu ra.
Phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế theo định hướng đầu vào:
Phương pháp này dựa trên ý tưởng liên quan đến việt cắt giảm chi phí dựa trên việc
tối thiểu hóa số lượng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra được một số yếu tố đầu ra
xác định trước. Giả sử rằng một DMU sử dụng 2 yếu tố đầu vào là x1 và x2 để sản
xuất một yếu tố đầu ra (y), có thể được biểu diễn bằng một đường đẳng lượng (SS’)
như hình 2.2. CC’ là một đường đẳng phí và được biết đến như là một tỷ lệ tối ưu
các yếu tố đầu vào sao cho chi phí là thấp nhất.
y/x2
C
bất kỳ điểm nào trên đường đẳng lượng thì cũng sẽ đạt được hiệu quả về mặt kỹ
thuật. Tuy nhiên khi một DMU sản xuất tại điểm R thì sẽ không đạt hiệu quả về mặt
phân bổ. Và khi đó, tỷ số hiệu quả về mặt phân bổ AE sẽ được tính toán là tỉ lệ
OR/OQ. Khi đó, hiệu quả về mặt kinh tế (hiệu quả chi phí trong cách tiếp cận đầu
vào) trong trường hợp đo lường theo yếu tố đầu vào sẽ là:
EE = TE*AE =
=
Theo Colie (2005) thì hiệu quả về mặt chi phí tổng thể có thể được xem là hiệu quả
kinh tế trong trường hợp đầy đủ lượng thông tin của các yếu tố đầu vào. Do đó,
đoạn RQ trong trường hợp này là đại diện cho chi phí sản xuất và sẽ giảm đi nếu
DMU sản xuất tại càng gần điểm Q’, và tại Q’ thì khi đó DMU sẽ đạt được cả hiệu
quả về mặt kinh tế và phân bổ hay đạt được hiệu quả kinh tế tổng thể.
Phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế theo định hướng đầu ra:
14
q2/x1
D
Z
C
B
A
B’
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều phương pháp đo lường tính hiệu quả, trong đó
phổ biến nhất là hai phương pháp: Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và
phương pháp đường biên ngẫu nhiên (SFA). Trong bài nghiên cứu này, người viết
sử dụng phương pháp về đường biên ngẫu nhiên, do đó, phương pháp đường biên
ngẫu nhiên (SFA) sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.
2.1.1.2 Hiệu quả kinh tế theo quy mô và hiệu quả kinh tế theo phạm vi:
Hiệu quả kinh tế theo quy mô (Economic of Scale):
Bước tiếp theo của việc nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả là quyết định xem
mục tiêu tối ưu hóa nào cần phải được xem xét, chẳng hạn như chi phí, lợi nhuận và
doanh thu (Thakor và Boot, 2008). Những nghiên cứu trong những giai đoạn đầu
thường giả sử rằng các ngân hàng chỉ sản xuất một sản phẩm đầu ra. Ngay khi các
kỹ thuật về đo lường hiệu quả kinh tế theo quy mô và theo phạm vi đã được áp dụng
tại các công ty đa quốc gia thì chúng cũng đã được áp dụng cho các tổ chức tài
chính (Baumo, Banzar, và Willig, 1982).
Hiệu quả kinh tế theo quy mô có thể được tiếp cận từ 02 cách: Chi phí và doanh thu.
Theo cách tiếp cận về chi phí thì thông thường được mô tả bằng một hàm chi phí.
Theo đó, các biến phụ thuộc là các biến chi phí thì phụ thuộc vào các biến độc lập
bao gồm các biến về giá cả của các biến đầu vào, sản lượng các biến đầu ra, các đầu
vào hoặc đầu ra cố định, các yếu tố về môi trường cũng như các thành phần sai số
tổng hợp, trong đó thành phần sai số tổng hợp bao gồm thành phần không hiệu quả
ui và thành phần sai số vi. Và thông thường, thì hàm chi phí có thể được viết dưới
dạng logarit tự nhiên như sau:
lnCi = lnf (yi,wi,zi,hi)+ui+vi
16
Trong đó, C đo lường về các biến chi phí, y là một véc tơ về sản lượng của các biến
đầu ra, w là một véc tơ về giá cả của các biến đầu vào, z là một véc tơ của các yếu
lnf
lnyi
=
1
∑N
1
lnC
lnyi
Với N là số lượng sản phẩm đầu ra. Từ biểu thức trên ta có thể dễ dàng nhận thấy
được: Hiệu quả kinh tế theo quy mô gia tăng khi EC>1, không đổi khi EC = 1 và
giảm dần khi EC
∑
profit(
Khi đó, nếu DMU có EOC > 0 thì DMU đó sẽ có hiệu quả kinh tế theo phạm vi,
DMU có EOC = 0 thì DMU đó không đạt hiệu quả theo phạm vi và DMU có EOC