LỜI NÓI ĐẦU
BAN BIÊN TẬP
Chuyên đề:
1
DÂN CƯ VIỆT NAM VÀ CÁC DẠNG BÀI TẬP
TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
Nhóm Địa lí - Trường THPT Chuyên Bắc Giang
(Chuyên đề đạt giải Nhất)
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam với thiên nhiên trù phú, bốn mùa nổi bật “xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh
biển”, con người cần cù lao động, biết vượt qua khó khăn của tự nhiên để phát triển kinh
tế, cuộc sống nhân dân ngày càng ấm no, tiếp bước công cuộc phát triển theo con đường
công nghiệp hóa – hiện đại hóa, định hướng kinh tế thị trường. Đó chính là những nét nổi
bật của Địa lí Việt Nam được giới thiệu trong của chương trình Địa lí 12. Trong đó, phần
Địa lí dân cư Việt Nam nổi bật với những đặc điểm của con người nước ta thông qua tình
hình phát triển, cơ cấu dân số, tình hình lao động – việc làm và quá trình đô thị hóa.
Địa lý dân cư Việt Nam là một trong những chương quan trọng của Địa lý Việt Nam và
chiếm 1/7 câu trong đề thi học sinh giỏi quốc gia môn Địa lý. Địa lý dân cư Việt Nam mở
đầu cho phần địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, dân cư cũng là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới hệ thống tự nhiên và đặc biệt là hệ thống các ngành kinh tế, các vùng kinh tế. Vì
vậy, việc nắm chắc kiến thức địa lý dân cư Việt Nam cũng như là xây nền móng cho việc
học địa lý kinh tế - xã hội. Hơn thế nữa, học phần này cũng chứa đựng không ít những câu
hỏi địa lí hay, khó, đòi hỏi tư duy, sự logic của học sinh. Trong quá trình trả lời các câu hỏi
về học phần này, học sinh phải thực sự động não suy nghĩ để tìm ra đáp án, càng giải nhiều
bài tập bao nhiêu thì lượng kiến thức cũng theo đó mà tăng lên bấy nhiêu. Rõ ràng, việc trả
lời các câu hỏi chứng minh, giải thích, phân tích sẽ giúp cho học sinh hiểu cặn kẽ vấn đề,
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng
Các dạng câu hỏi trong phần dân cư Việt Nam trong dạy học Địa lí ở trường THPT và
THPT Chuyên.
2. Phạm vi nghiên cứu
Các nội dung liên quan đến dân cư Việt Nam được sử dụng rộng rãi trong dạy học Địa lí để
dạy học theo hướng tích cực. Ở trong phạm vi chuyên đề này chỉ xin nghiên cứu các câu
hỏi trong chương trình Địa lí 12 và bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp thu thập tài liệu
Việc thu thập tài liệu được thực hiện dựa vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Các nguồn tài liệu gồm sách báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học, các đề tài
nghiên cứu, các trang web cung cấp thông tin và các chỉ thị, nghị quyết của ngành giáo dục
có liên quan đến đề tài. Để đề tài đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm, trong quá trình
thu thập tài liệu phải đặc biệt chú ý đến nội dung chương trình SGK Địa lí 12, nội dung bồi
dưỡng học sinh giỏi Quốc gia, sách hướng dẫn của giáo viên, cùng với các tài liệu tham
khảo khác. Vì vậy, nguồn tài liệu thu thập được hết sức phong phú và đều liên quan đến nội
dung của đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, việc lựa chọn và sắp xếp nội dung sao cho chính
xác, phù hợp với quá trình dạy học hiện nay cần khá nhiều thời gian và công sức của các
tác giả.
2. Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh số liệu thống kê.
Sau khi thu thập tài liệu, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích và so sánh tài liệu để phù
hợp với mục đích nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu này có tác dụng “làm sạch” tài
liệu, biến tài liệu “thô” thành tài liệu “tinh”, giảm độ “vênh” giữa các tài liệu do được thu
thập từ nhiều nguồn khác nhau.
3. Sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình nghiên cứu
Đây là phương pháp không chỉ được sử dụng trong nghiên cứu địa lí mà còn được sử dụng
rất phổ biến trong các lĩnh vực khác. Các phần mềm và công cụ hỗ trợ được sử dụng trong
đề tài bao gồm: Microsoft Word, Internet Explorer...
-
Thế giới
Dân số
( người)
Thời điểm thống % so với dân số
kê
thế giới
2017
100%
001
Trung Quốc
1.388.232.693
Tháng 12, 2017
18,50
002
Ấn Độ
1.342.512.706
Tháng 12, 2017
2,8
006
Pakistan
196.744.376
Tháng 12, 2017
2,6
007
Nigeria
191.835.936
Tháng 12, 2017
2,6
008
Bangladesh
164.827.718
Tháng 12, 2017
1,7
012
Ethiopia
104.344.901
Tháng 12, 2017
1,4
013
Philippines
103.796.832
Tháng 12, 2017
1,4
014
Việt Nam
95.414.640
* Dòng Nam Á có 5 nhóm ngôn ngữ khác nhau, đó là:
- Ngôn ngữ Việt- Mường: Việt (kinh), Mường, Thổ, Chứt.
- Ngôn ngữ Môn-Khơ Me: Khơ Me, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, M’nông, Xtriêng, Bru-Vân
Kiều, Cơ Tu, Giẻtriêng, Mạ, Khơ Mú, Co, Tà Ôi, Chơ Ro, Kháng, Xinh Mun, Mảng, Brâu,
Ơ Đu, Rơ Măm.
- Ngôn ngữ Tày-Thái: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay (Cao Lan-Sán Chỉ), Giáy, Lào, Lự, Bố Y.
- Ngôn ngữ Mèo-Dao: Mông (Mèo), Dao, Pa Thẻn.
- Ngôn ngữ Ka Đai: La Chỉ, La Ha, Cơ lao, Pu Péo.
* Dòng Nam-Đảo có 1 nhóm ngôn ngữ : Ngôn ngữ Malayô-Pôlinêđiêng (Gia Rai, Ê Đê,
Chăm, Raglai, Chu Ru).
* Dòng Hán-Tạng. Có 2 nhóm ngôn ngữ chính: Ngôn ngữ Hán (Hoa (Hán), Ngái, Sán
Dìu). Ngôn ngữ Tạng-Miến: (Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Lô Lô, Cống, Si la).
Các dân tộc sinh sống đoàn kết, hoà bình trên khắp lãnh thổ trong đó lớn nhất là người
Kinh. Phát huy được các truyền thống, kinh nghiệm sản xuất của các dân tộc, tạo nên bản
sắc dân tộc Việt nam. Ngoài ra, nước ta còn khoảng 3,2 triệu Việt kiều đang sinh sống ở
khắp nơi trên thế giới và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.1.2. Dân số nước ta còn tăng nhanh.
1.1.2.1 Về tỉ lệ gia tăng dân số
Tỉ lệ gia tăng dân số nước ta không đều giữa các thời kỳ, điều này có thể hiện rất rõ qua
biểu đồ về tỉ lệ gia tăng dân số qua các thời kì của nước ta dưới đây.
Hình 1 : Biểu đồ thể hiện tỉ lệ gia tăng dân số qua các thời kì ở nước ta.
Ta có thể chia ra làm các giai đoạn phát triển dân số của nước ta như sau:
Trước nằm 1954, dân số nước ta tăng không ổn định, có thời kỳ tăng cao, có thời kỳ thấp,
nhìn chung cả thời kỳ là 1,85% (do nước ta là nước thuộc địa, đời sống nhân dân thấp, sản
xuất không phát triển, y tế không được quan tâm, ảnh hưởng của nạn đói và ảnh hưởng
của chiến tranh.)
19,7
2005
18,6
15,6
19,9
2009
17,6
17,3
17,8
2012
16,9
16,0
17,4
2014
17.2
50
77.6
82.4
84.2
85.1
85.8
89.6
92.7
64.4
52.5
40
30
20 15.6
17.7
20.9
25.5
Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động về dân số, sức khỏe sinh sản, chính sách dân số và
các chính sách có liên quan, cần tiếp tục thúc đẩy việc chấp nhận quy mô gia đình ít con,
thực hiện đối với vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển và miền núi.
1.1.3. Cơ cấu dân số
1.1.3.1.Cơ cấu dân số theo giới tính đã dần dần cân bằng
Bảng 3: Tỉ số giới tính của dân số Việt Nam, giai đoạn 1943-2016. (%)
Năm
Tỉ số
giới tính
1943
1960
1979
1989
1999
2005
2009
2012
2014
2016
còn 106, nhưng đến năm 2008, tỉ số này đã tăng lên 112. Kết quả tổng điều tra dân số mới
nhất cho thấy năm 2009, SRB trung bình cả nước là 111. Năm 2016, chỉ số SRB của nước
ta tăng lên nhanh chóng, đạt con số 112,2
Bảng 4 :Tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam giai đoạn 1999-2016.
Năm
Tỉ số giới tính khi sinh
Năm
Tỉ số giới tính khi sinh
1999
107
2005
106
8
2000
106
2007
112
112,2
Nguồn:
Như vậy, trong giai đoạn 1999 – 2016, SRB của Việt Nam không ổn định. Từ năm 19992005, SRB biến động không theo xu hướng rõ ràng và chỉ dao động trong khoảng 104109/100, nghĩa là tương đương hoặc cao hơn không đáng kể so với mức chuẩn sinh học,
phản ánh một phần nào đó mức độ mất cân bằng giới tính khi sinh là không đáng kể.
Nhưng từ năm 2005 trở lại đây, SRB có xu hướng tăng nhanh và đạt đến mức 112/100 vào
năm 2007 và năm 2008, tăng 6 điểm phần trăm so với năm 2005. Năm 2016, SRB của
nước ta đạt ngưỡng 112,2. Nhiều chuyên gia dự đoán với tốc độ này, SRB có thể vượt
ngưỡng 115 trong vòng vài năm tới. Đến năm 2035, nam giới sẽ nhiều hơn phụ nữ 10%.
Như vậy, yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ số giới tính là chỉ số giới tính khi sinh. Hiện nay
chỉ số này đang tăng ở nước ta và hậu quả của nó là sẽ dẫn đến tình trạng thừa nam thiếu
nữ. Trong đó, đáng lo ngại nhất là tình trạng nam giới trong độ tuổi kết hôn sẽ rất khó khăn
trong việc tìm kiếm bạn đời. Mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam sẽ có những tác
động tiêu cực đến các chỉ số nhân khẩu học của dân số, đến hôn nhân và gia đình, đến trật
tự trị an xã hội, ngay cả một số ngành nghề vốn thích hợp với phụ nữ sẽ phải đối mặt với
nguy cơ thiếu lao động như giáo viên mầm non, tiểu học, y tá, may mặc… Vấn đề đặt ra hiện
nay là Chính phủ, các tổ chức xã hội và mỗi cá nhân phải cùng nhau thực hiện các giải pháp
nhằm khống chế mức tăng của mất cân bằng giới tính khi sinh. Tình trạng này sẽ diễn ra dần dần
và càng về những năm sau thì số lượng nam thừa càng lớn do mất cân bằng giới tính khi sinh cao
kết hợp với số lượng những người trong độ tuổi kết hôn của các năm trước chưa kết hôn được.
Theo tính toán của UNFPA Việt Nam thì đến năm 2040, số lượng nam giới sẽ thừa khoảng 12%
và đến năm 2050 là 20% (dự báo mức trung bình).
SRB của nước ta có sự khác biệt giữa các vùng.
Bảng 5: Tỉ số giới tính khi sinh theo vùng (nam/100 nữ)
Vùng
1999
2009
109,7
115,2
Tây Nguyên
104,0
105,6
117,3
Đông Nam Bộ
109,0
110,1
103,1
Đồng bằng sông Cửu Long
113,0
109,9
102,9
Nguồn:
61%, năm 2005- 2006 tăng lên đến 66%, năm 2007- 2008 là 73% và 98% các bà mẹ này
biết là do siêu âm.
+ Về kinh tế, trong nền sản xuất nông nghiệp, thủ công, sự vượt trội về cơ bắp của con trai
trở thành một ưu điểm. Năng suất lao động thấp nên cha mẹ thường không có tích lũy để
dành cho tuổi già nên khi hết khả năng lao động cuộc sống hoàn toàn phải dựa vào con, chủ yếu
là con trai, vì con gái đã đi lấy chồng. Việt Nam với 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và
52% lao động hoạt động trong khu vực nông- lâm- thủy sản cùng với xu hướng chuyển đổi nền
kinh tế càng làm cho hành vi sinh sản của các cặp vợi chồng mang theo những toan tính có tính
kinh tế, và càng dễ dẫn tới việc tìm cách lựa chọn có con trai.
+ Về chính sách dân số, sự hạn chế sinh con kết hợp với sự quá độ về dân số tại Việt Nam
đặc trưng bởi mức sinh thấp và giảm nhanh trong vòng 10- 15 năm gầy đây càng làm cho
việc lựa chọn giới tính thai nhi diễn ra mạnh hơn.
+ Về thống kê, cũng cần phải lưu ý rằng, đăng ký dân số không đầy đủ, thống kê không chính xác
cũng làm mất cân đối giới tính một cách giả tạo. Chẳng hạn, do tâm lý “trọng nam, khinh nữ” nên
nếu sinh được con trai, cha mẹ có thể “sốt sắng” đi khai sinh ngay, nhưng nếu sinh con gái, cha mẹ
lại “lần lữa” làm việc này.
1.1.3.2. Cơ cấu dân số theo tuổi đang ở thời kỳ kết thúc giai đoạn “dân số trẻ”, bước
vào cơ cấu “dân số vàng” và đanh có xu hướng già hóa.
Bảng 6: Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 1979- 2016 (%)
Nhóm tuổi
1979
1989
1999
2009
2016
7,1
7,9
8,1
9,0
8,6
Tổng
100,0
100,0
100,0
100,0
100
Nguồn:
Số người dưới 15 tuổi chiến tỉ lệ khá cao: 42,5% năm 1979; 38,9% năm 1989, 33,6% năm
1999 và giảm xuống còn 25% năm 2009, vào năm 2016 tỉ lệ này là 24,4 % số người già
trên 60 có tăng lên qua các năm nhưng chậm và còn thấp: 7,1% năm 1979; 7,9% năm
1989; 8,1% năm 1999 và 9% năm 2009 và năm 2016 là 8,6 %.
Dân số trẻ làm nặng gánh nuôi, dạy và chăm sóc trẻ em; sức ép về lao động, việc làm sẽ
ngay càng tăng lên. Tuy nhiên, do quá trình giảm sinh tương đối nhanh trong những năm
qua, tỷ trọng dân số trẻ đã có xu hướng giảm mạnh và tỉ trọng dân số già tăng lên từ 7,1%
tuổi thọ của dân số đang tăng khá nhanh.
Cùng với xu hướng giảm sinh và nâng cao tuổi thọ, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (1564) tăng lên. Năm 1979, gần một nửa (42,6%) dân số Việt Nam dưới 15 tuổi. Tháp dân số
năm 2016 có sự thay đổi đáng kể, số người trong độ tuổi lao động rất cao lên đến 67%,
dưới độ tuổi lao động giảm còn 24,4 %, trên độ tuổi lao động chiếm 8,6%
Hình 4: Tháp dân số Việt Nam năm 2016
Như vậy, Bắt đầu từ năm 2007, với tỷ số phụ thuộc chung (nhóm dân số 0 -14 tuổi và nhóm dân
số trên 65 tuổi tính trên nhóm dân số 15-64) dưới 50%, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ
cấu “dân số vàng”. Mới đây, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) dẫn phân
tích của Liên hợp quốc đánh giá, Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu "dân số vàng" từ năm
2007 đến năm 2040. VCCI cũng dẫn kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, đây là giai
đoạn các nền kinh tế có khả năng cất cánh để trở thành nước công nghiệp. Cơ cấu “dân số vàng”
đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho nền kinh tế của nước ta.
Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, giai đoạn này chỉ xuất hiện một lần và thời
gian kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào việc điều chỉnh mức sinh. Hiện nay, mức sinh ở Việt
Nam đã giảm nhanh. Năm 2006, Việt Nam đã đạt và duy trì mức sinh thay thế (tổng tỷ suất
sinh 2,1 con) và từ đó đến nay, mức sinh luôn dưới mức sinh thay thế.
Do đó, nếu không tận dụng được cơ cấu “dân số vàng”, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn
khi tỷ số phụ thuộc chung lại có xu hướng tăng với tác động chủ yếu từ sự gia tăng tỷ số
phụ thuộc người già. Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho biết, cơ cấu “dân số
vàng” thực sự là cơ hội để cải thiện sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản cho thanh niên,
vị thành niên, sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ
cấu “dân số vàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế,
giáo dục, việc làm trong tương lai. Mặt khác, dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc giảm tỷ số giữa học sinh và giáo viên, qua đó
nâng cao chất lượng chăm sóc y tế cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân số tương
lai. Đồng thời, dân số trong độ tuổi lao động lớn, cùng với sự phát triển của khu vực công
nghiệp và dịch vụ tạo nhu cầu lớn về đào tạo nghề. Chi tiêu y tế trong độ tuổi lao động
giảm sẽ tiết kiệm được y tế. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng sẽ là nguồn
lực quan trọng cho việc phát triển kinh tế trong điều kiện đảm bảo việc làm và cải thiện
1.1.4. Phân bố dân cư
Với mật độ dân số 280 người/km2- năm 2016 (nguồn ). Việt Nam là một
trong những nước có mật độ dân số cao trong khu vực cũng như trên thế giới. Mật độ dân
số Việt Nam đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Phi-líp-pin (307 người/km 2) và
Xin- ga-po (7.486 người/km2) và đứng thứ 16 trong số 51 quốc gia và vùng lãnh thổ của
khu vực Châu Á. Các nhà khoa học của Liên Hợp quốc đã tính toán rằng, để cuộc sống
thuận lợi, bình quân trên 1km 2 chỉ nên có từ 35 đến 40 người. Như vậy, ở Việt Nam, mật
độ dân số đã gấp khoảng 6 – 7 lần “mật độ chuẩn”. Căn cứ vào chỉ số này, có thể khẳng
định Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao. Tuy nhiên, sự phân bố
dân cư của nước ta không đều.
1.1.4.1 Dân số nước ta phân bố không hợp lí giữa đồng bằng và miền núi.
Dân số nước ta tập trung dày đặc ở các đồng bằng. Đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tích lãnh
thổ nhưng lại chiếm 75% dân số. Điều đó khiến cho mật độ dân số ở đồng bằng rất cao.
Tuy nhiên mật độ dân số cũng không đều giữa các đồng bằng và trong nội bộ 1 đồng bằng.
+ Đồng bằng sông Hồng 994 người/km2.
+ Đồng bằng sông Cửu Long: 433 người/km2
+ Đồng bằng duyên hải miền trung: 207 người/km2.
Dân cư nước ta thưa thớt hơn ở miền núi và cao nguyên. Miền núi và cao nguyên chiếm ¾
diện tích lãnh thổ thổ nhưng chỉ chiếm 25% dân số. Mật độ dân số miền núi thấp càng lên
cao mật độ dân số càng thấp.
13
1.1.4.2 Dân cư nước ta phân bố không đều giữa các vùng
Dân cư nước ta phân bố không đều giữa các vùng kinh tế. Đều này phản ánh sự phân bố
dân cư của nước ta không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc sâu sắc
vào tính chất nền kinh tế cũng như trình độ phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, những
vùng kinh tế phát triển, đặc biệt là những vùng có khu vực công nghiệp và dịch vụ phát
triển là những vùng có sức hút mạnh mẽ đối với dân cư và lao động. Bảng mật độ dân số
Đồng bằng sông Hồng
4,5
22,8
994
Bắc Trung Bộ và DH miền Trung
25,6
21,3
207,0
Tây Nguyên
16,5
6,1
104
Đông Nam Bộ
10,6
17,7
của nước ta có sự thay đổi theo thời gian. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bảng số liệu
sau:
Bảng 8 :Mật độ dân số các vùng của nước ta, năm 2016
Vùng
Diện tích (%)
Cả nước
100,0
Dân số
1999
2009
2016
100,0
100,0
100
14
Trung du và miền núi Bắc Bộ
30,6
8,6
10,1
8,1
Tây Nguyên
16,5
4,0
6,0
6,1
Đông Nam Bộ
10,6
16,7
16,3
17,7
Đồng bằng sông Cửu Long
12,1
Tỷ lệ (%)
Triệu người
Tỷ lệ (%)
1995
34,929
6,008
17,2
28,921
82,8
1975
47,638
10,242
21,5
37,396
78,5
23,6
58,515
76,4
2009
86,025
25,463
29,6
60,562
70,4
2012
88,809
28,269
31,8
60,540
68,2
nhanh chóng.
1.1.4.4 . Dân cư nước ta phân bố không hợp lí là do tác động của nhiều nhân tố
Do các địa phương có điều kiện tự nhiên không giống nhau. Tại các đồng bằng thường có
các điều kiện tốt: địa hình thấp, bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, nguồn nước dồi dào và
15
phong phú, thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất nên thu hút dân cư. Ngược lại, ở miền núi
các điều kiện cho cư trú và sản xuất không được thuận lợi như ở các vùng đồng bằng: địa
hình cao hiểm trở, bị chia cắt, cô lập gây khó khăn cho phát triển kinh tế nên những vùng
này ít có sứ huát đối với dân cư. Những nơi có điều kiện thuận lợi cho giao thông vận tải,
các đầu mối giao thông vận tải thì dân cư tập trung đông.
Do trình độ phát triển kinh tế của các vùng khác nhau. Những vùng công nghiệp phát triển,
đô thị phát triển thì dân cư đông. Những vùng nông nghiệp có tính chất sản xuất phân tán
thì dân cư thưa. Những vùng nông nghiệp thâm canh, chuyên môn hóa thì đông dân hơn
vùng quảng canh và đa canh. Trong nông nghiệp thì vùng trồng trọt dân cư thường đông
hơn so với vùng chăn nuôi. Nơi có làng nghề truyền thống thì dân cư tập trung đông.
Do lịch sử khai thác lãnh thổ. Những lãnh thổ đựoc định cư sớm thì dân cư tập trung đông
như Đồng bằng sông Hồng đông dân cư hơn Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù điều kiện
tự nhiên khá tương đồng. Ngược lại, những nơi mới khai thác thì dân cư thưa thớt hơn.
1.1.4.5. Những ảnh hưởng của dân cư phân bố không hợp lí
Dân cư tập trung đông ở đồng bằng và ở các đô thị lớn tạo ra nguồn lao động dồi dào, thị
trường tiêu thụ rộng, có thể phát triển những ngành đòi hỏi kĩ thuật cao.
Dân cư tập trung quá đông ở đồng bằng, tạo ra sức ép lên nền kinh tế, giải quyết việc làm, nhà ở.
Miền núi giàu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng lại thiếu lao động, đặc biệt là lao động
lành nghề, chưa được khai thác hợp lí, các thế mạnh mới ở dạng tiềm năng. Kinh tế chậm
phát triển, đời sống nhân dân thấp kém. Các đô thị tập trung phần lớn ở các đồng bằng
châu thổ, quá trình đô thị hoá không phù hợp với công nghiệp hóa gây nhiều khố khăn cho
vấn đề việc làm, giao thông, các vấn đề xã hội khác. Nông thôn, diễn ra tinh trạng dư thừa
này là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.
Từ sau cách mạng tháng 8 cho đến hết kháng chiến chống Pháp, quá trình đô thị hoá không
có nhiều thay đổi. Đô thị không được mở rộng ở vùng tự do, vùng tạm chiến thì có các đặc
điểm đô thị nhưng lại là đặc điểm tập trung dân cư bất thường phục vụ cho chiến tranh.
Từ năm 1954 đến năm 1975, quá trình đô thị hoá của nước ta phát triển theo hai xu hướng.
Năm 1954, miền Bắc được giải phóng, quá trình đô thị hoá diễn ra phức tạp. Dân cư thành
thị trước đây lánh nạn về nông thôn nay trở lại các đô thị làm cho tỉ lệ dân cư đô thị tăng
lên, cùng với nó là công cuộc khôi phục và cải tạo kinh tế sau chiến tranh đã làm cho số
dân đô thị thời kì này tăng lên nhanh chóng. Đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa trên
cơ sở mạng lưới đô thị đã có từ trước. Một số trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải
Phòng, Nam định được cải tạo, mở rộng. Một số trung tâm công nghiệp và đô thị được xây
dựng mới như Việt Trì, Thái Nguyên…. (Tuy nhiều quá trình này cũng bị gián đoạn do sự
đánh phá, phá hoại của Mỹ, đặc biệt là thời kì 1968-1972, các đô thị bị thiệt hại nặng nề,
dân cư thành thị lại một lần nữa phải di tản về nông thôn). Như vậy, quá trình đô thị hóa ở
miền Bắc nước ta nhìn chung diễn ra chậm. Ở miền Nam, quá trình đô thị hoá diễn ra một
cách nhanh chóng do Mỹ – Ngụy dùng “đô thị hoá”, như một biện pháp dồn dân phục vụ
chiến tranh. Hậu quả là 12/20 triệu đân miền nam phải rời bỏ quê hương và sống bám vào
các đô thị bằng viện trợ của Mỹ. Ngoài ra còn có sự xuất hiện của quân đội viễn chinh Mỹ
vào thời kì 1965-1966 làm cho quá trình đô thị hóa ở đây được đẩy nhanh.
Từ năm 1975 đến nay: Sau khi thống nhất đất nước, ở miền nam dân thành thị tụt xuống do
dân cư hồi hương từ thành phố lớn về nông thôn và do sự điều động dân cư- lao động đi
xây dựng các vùng kinh tế mới. Ở miền Bắc, tỉ lệ dân thành thị không tăng nhiều. Từ
những năm cuối của thập niên 1980 của thế kỉ XX trở lại đây cùng với công cuộc đổi mới
toàn diện nền kinh tế xã hội đất nước đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội theo
hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang kinh tế thị trường,
quá trính đô thị hoá diễn ra khá mạnh.
Như vậy, quá trình đô thị hóa của nước ta diễn ra chậm chạp, cho đến nay ở mức rất thấp
so với khu vực và Thế giới. quá trình đô thị hóa nước ta không diễn ra theo đường thẳng
mà có nhiều thăng trầm, do tác động của nhiều yếu tố. tỉ lệ dân thành thị tăng chậm và còn
thấp phản ánh sự phát triển công nghiệp còn yếu cũng như tình trạng chậm phát triển của
25.00
20.00
34.50
33.10
19.70
15.00
10.00
5.00
0.00
1995
2000
2009
2014
2016
Hình 5: Biểu đồ tỉ lệ dân thành thị nước ta qua các năm
Quy mô các đô thị chủ yếu thuộc loại nhỏ và vừa. Trong tổng số 726 đô thị của cả nước
năm 2016, chỉ có 2 đô thị (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có quy mô lớn (trên 3 triệu
dân).
1.2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị còn yếu kém.
29,6
33,1
34,5
18
Trung du và miền núi Bắc bộ
11,3
13,5
15,5
17,8
18,3
Đồng bằng sông Hồng
18,6
20,2
29,2
17,0
26.8
27,8
29,0
29,1
Đông Nam Bộ
19,7
52,1
57,2
62,7
63,0
Đồng bằng sông Cửu Long
15,1
17,6
22,8
- Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km 2 trở lên; khu vực nội thành tính trên
diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ
90% trở lên.
- Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy
định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
* Đô thị loại I
19
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Vị trí, chức năng,
vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn
hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu
trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên
tỉnh hoặc cả nước;
- Quy mô dân số:
+ Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000.000
người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên;
+ Đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương:
quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 200.000
người trở lên.
- Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km 2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện
tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ
85% trở lên.
* Đô thị loại II
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Vị trí, chức năng,
vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế,
tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành
20.000 người trở lên.
-Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.200 người/km2 trở lên; khu vực nội thị (nếu có) tính
trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 6.000 người/km2 trở lên.
-Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt
từ 70% trở lên.
* Đô thị loại V
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Vị trí, chức năng,
vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên
ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã.
- Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên.
- Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân số tính trên diện
tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên.
- Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy
định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
* Phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù:
- Đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô
dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu
chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng.
- Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì
tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí
khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng.
- Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị
tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của
loại đô thị tương ứng.
Bên cạnh đó còn nhiều cách phân loại khác:
Dựa vào cấp quản lí, nước ta có đô thị trực thuộc trung ương và đô thị trực thuộc tỉnh, %
đô thị trực thuộc Trung ương bao gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,
726
5
67
51
603
Đồng bằng sông Hồng
148
2
13
6
117
Trung du miền núi Bắc Bộ
159
15
4
8
33
Đồng bằng sông Cửu Long
148
1
14
13
120
1
Nguồn
Mạng lưới đô thị nước ta khác nhau về cấp đô thị, chủ yếu là đô thị vừa và nhỏ. Nếu xét
theo cấp đô thị theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội thì các đô thị nước ta được xếp như sau:
+ Đô thị loại đặc biệt: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Đô thị loại 1: Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I,
gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ, 16 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I,
gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam
Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Bắc
Ninh.
+ Đô thị loại 2: Hiện nay có 24 thành phố, huyện trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm các
trị, văn hoá của Việt nam. Đây đồng thời là trung tâm công nghiệp lớn thứ hai Việt Nam với cơ
cấu ngành đa dạng. Hà Nội được mệnh danh là thành phố “hoà bình”, mang dáng dấp của 1
thành phố vừa cổ kính vừa hiện đại.
- Thành phố Hồ Chí Minh: là đô thị loại đặc biệt, thành phố trực thuộc trung ương là trung
tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của khu vực phía Nam. Đây là 1 thành phố trẻ, hiện đại,
năng động là trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ lớn nhất Việt Nam.
- Hải Phòng: đô thị loại 1, thành phố thuộc trung ương, thành phố cảng.
- Đà Nẵng: đô thị loại 1: thành phố trẻ, trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ lớn nhất
miền trung Việt Nam, đây được đánh giá là thành phố đáng sống nhất Việt Nam.
1.2. 3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội
Đô thị hóa có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội đất nước. Bên cạnh những
ảnh hưởng tích cực thì đô thị hóa còn tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội, nhất là môi
trường.
1.2.3.1 Những tác động tích cực
Quá trình đô thị hóa đã tạo ra những thay đổi lớn về các mặt kinh tế - xã hội, môi trường…
+ Về phương diện kinh tế, đô thị hóa làm chuyển dịch các hoạt động của dân cư từ khu vực
I sang khu vực II, III. Đô thị hóa có khả năng làm tăng quy mô của ngành công nghiệp,
dịch vụ, thay đổi cơ cấu nền kinh tế và góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm qua, cùng vơi quá trình công nghiệp hóa, đô thi hóa đã làm cho tỉ trọng
công nghiệp va dịc vụ tăng lên nhanh chóng, làm cho tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ
tăng lên nhanh chóng. Các đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của
các địa phương, các vùng trong nước. Năm 2005, khu vực đô thị đóng góp 70,4%GDP cả
nước, 84% GDP công nghiệp –xây dựng, 87% GDP dịch vụ và 80% ngân sách Nhà nước.
Các thành phố, thị xã là các thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và dạng, là nơi sử
dụng đông đảo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật; có cơ sở vật chất kĩ
thuật hiện đại, có sức hút đối với đầu tư trong nước và ngoài nước, tạo ra động lực cho sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Về phương diện văn hóa - xã hội: đô thị hóa dẫn đến việc phổ biến lối sống thành thị. Đó
là các hoạt động của dân cư mang tính cộng đồng phức tạp, ít có quan hệ huyết thống và
thường xuyên được tiếp cận với nền văn minh của nhân loại.
cực trong đời sống kinh tế - xã hội.
Những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đã và đang để lại dấu ấn sâu sắc thông
qua các khía cạnh chủ yếu sau:
- Việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở các đô thị. Với việc phát triển nhanh của
quá trình đô thị hóa, dân cư tập trung ngày càng nhiều trong các thành phố. Vì vậy, việc
làm không thể thỏa mãn được cho mọi người lao động. Hơn nữa, không phải người lao
động nào cũng được đào tạo và có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đủ để đáp ứng nhu cầu
cho các ngành kinh tế. Chỉ một bộ phận trong số này mới tìm kiếm được việc làm. Kết quả
là nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và để lại những ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế xã hội của các đô thị, đặc biệt ở các thành phố triệu dân. Tỉ lệ thất nghiệp của nước ta tăng
lên nhanh chóng nhất là ở các đô thị. Năm 2016, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 3,23%,
thiếu việc làm là 0,73%.
- Nhà ở cũng là mối quan tâm đặc biệt đối với các đô thị. Dân cư ngày càng đông đúc trên
một lãnh thổ có hạn làm cho vấn đề nhà ở trở nên cấp thiết. Ở các thành phố lớn, ngoài khu
vực hành chính, buôn bán, dịch vụ và dãy phố, chung cư khang trang thường tồn tại các
khu ổ chuột, nơi tá túc của người lao động nghèo, thu nhập thấp. Như vậy, các đô thị sẽ
phải đối mặt với hàng loạt thách thức mới như nước sạch, không khí, xử lý nước thải, thực
phẩm, nơi cư trú và phương tiện chuyên chở.
- Kết cấu hạ tầng đô thị, trở nên quá tải trước sức ép rất lớn về số dân và các hoạt động
kinh tế - xã hội. Kết cấu hạ tầng đô thị trước hết là giao thông đô thị (mạng lưới đường và
phương tiện vận tải công cộng), cung cấp năng lượng (điện, xăng dầu, ga…), cấp thoát
nước, thu gom rác thải, công viên - cây xanh… Quy mô của các thành phố được mở rộng,
nhu cầu đi lại, vận chuyển không ngừng tăng lên. Vì thế, áp lực ngày càng gia tăng đối với
giao thông đô thị, mà một trong những biểu hiện rõ nét nhất là nạn tắc đường, kẹt xe. Điều
này còn ảnh hưởng đến cả môi trường đô thị.
24
- Chất lượng môi trường đô thị đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Quá trình
đô thị hóa đang diễn ra dưới tác động của sự bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm
Số lao động đã qua đào tạo 20, 6%. Trong đó số lao động có trình độ cao đẳng: 2,7 %, đại
học trở lên: 9,2% ; trung cấp chuyên nghiệp: là 3,9%, dạy nghề là 5,0 % (Theo
). Tuy nhiên, chất lượng lao động nước ta nước ta còn bộc lộ nhiều hạn
chế: Lao động nước ta còn thiều tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động chưa cao (do xuất
thân từ nền nông nghiệp, chủ yếu từ lĩnh vực nông- lâm – ngư nghiệp sang; Đội ngũ lao
động có chuyên môn kĩ thuật còn mỏng so với yêu cầu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất
nước.Với chất lượng lao động đó đã cho phép nước ta ngày càng phát triển được những
ngành kinh tế đòi hỏi kỹ thuật cao, giúp cho quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra được
thuận lợi. Bên cạnh đó vẫn phát triển mạnh những ngành truyền thống.
1.3.1.3. Về phân bố lao động
Lao động nước ta phân bố không đều trên phạm vi cả nước và nội bộ các vùng kinh tế.Lao
động và đặc biệt lao động có kỹ thuật tập trung ở những vùng đồng bằng, những vùng có
điều kiện phát triển kinh tế xã hội thuận lợi như Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông
Cửu Long, Đông Nam Bộ, lao động tập trung đông ở các đô thị lớn, các thành phố, thị xã,
25