bồi dưỡng học sinh giỏi địa lý chuyên đề địa hình việt nam và các dạng bài tập trong thi học sinh giỏi quốc gia môn địa lí (3) - Pdf 42

CHUYÊN ĐỀ ĐỊA LÍ
ĐỊA HÌNH VIÊT NAM VÀ CÁC DẠNG BÀI TÂP TRONG ÔN THI
HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA.
A- PHẦN MỞ ĐẦU
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Điạ hình là nội dung kiến thức quan trọng trong phần địa lí tự nhiên Việt
Nam và cũng là nội dung thường được đưa vào các câu hỏi của đề thi quốc gia.
Đây là thành phần quan trọng nhất của môi trường địa lí tự nhiên, đồng thời
cũng là thành phần bền vững nhất, tạo nên diện mạo và dấu mốc của cảnh quan
trên thực địa. Địa hình chi phối mạnh mẽ các thành phần khác của cảnh quan
nhưng cũng chịu ảnh hưởng của các thành phần khác trong tác động qua lại của
tổng thể tự nhiên thống nhất. Đối với hoạt động kinh tế xã hội, địa hình cũng là
nơi xây dựng các điểm quần cư, các cơ sở sản xuất – dịch vụ, do đó địa hình là
yếu tố được con người quan tâm đầu tiên.
Là yếu tố tự nhiên có đặc điểm phân hoá đa dạng nhưng bền vững và có
tính thống nhất, kế thừa đặc điểm của các giai đoạn trong quá trình hình thành
và phát triển. Vì vậy với nội dung kiến thức này đòi hỏi giáo viên bồi dưỡng đội
tuyển phải có sự nghiên cứu, tìm tòi để có được nguồn kiến thức đầy đủ, chính
xác, khoa học và cách truyền đạt phương pháp làm bài mang lại hiệu quả cho
học sinh.
Trong giới hạn của chuyên đề “Địa hình Việt Nam và các dạng bài tập
trong thi học sinh giỏi Quốc gia” nhằm mục đích hệ thống hóa các nội dung
kiến thức cơ bản về yếu tố địa hình Việt Nam, ảnh hưởng của nó đến tự nhiên,
dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội, các dạng bài tập có liên quan... Hi vọng
chuyên đề sẽ là tài liệu hữu ích trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
II. MỤC ĐÍCH CỦA CHUYÊN ĐỀ


- Cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản về đặc điểm địa hình Việt Nam,
ảnh hưởng của địa hình đến tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hôi, phục vụ cho bồi
dưỡng học sinh giỏi quốc gia một cách chính xác, đầy đủ và khoa học.

+ Đồi núi nhấp nhô trên mặt biển làm thành các hải đảo, quần đảo ở Quảng
Ninh, Hải Phòng, các đảo ở ngoài khơi Trung Bộ như Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù
Lao Chàm (Quảng Nam), Lí Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn
Đảo (Bà Rịa -Vũng Tàu), Phú Quốc và các quần đảo ở Kiên Giang.
+ Đồi núi còn lan ngầm dưới đáy biển, tạo ra những thân ngầm làm chỗ dựa cho
san hô phát triển hình thành các đảo san hô như Hoàng Sa, Trường Sa.
+ Bản thân nền móng các đồng bằng cũng là miền đồi núi sụt võng, tách dãn
được phù sa sông bồi đắp mà thành. Vì thế hiện tại trên các đồng bằng của nước
ta còn có nhiều núi sót, nhô cao như Sài Sơn (Hà Tây), Non nước (Ninh Bình),
Thất Sơn (An Giang), Hòn Đất (Kiên Giang)...
=> Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nên quy định thiên nhiên VN có
đặc điểm chung là thiên nhiên của đất nước nhiều đồi núi.
- Đồi núi thấp chiếm 60% diện tích, địa hình dưới 1000m (kể cả đồng bằng)
chiếm 85% diện tích, địa hình cao trên 2000m chiếm khoảng 1% diện tích (phân
bố chủ yếu ở khu vực Tây Bắc).
I.2. Cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng:
a. Địa hình cổ được vận động Tân kiến tạo làm trẻ lại và có tính phân
bậc rõ ràng :


Địa hình nước ta là một bộ phận của lớp vỏ địa lí, được hình thành trong
các giai đoạn: Tiền Cambri, Cổ kiến tạo và Tân Kiến tạo địa hình Việt Nam thể
hiện tính chất kế thừa và thống nhất giữa các giai đoạn của lịch sử kiến tạo.
Các nền móng cổ của địa hình được hình thành trong giai đoạn Tiền
Cambri (khối vòm sông Chảy, Hoàng Liên Sơn, khối núi Trung trung bộ,...)
Tác động của nội lực, ngoại lực làm thay đổi diện mạo của tự nhiênViệt
Nam: Trong giai đoạn cổ kiến tạo, nhiều biến động mạnh mẽ đã quyết định sự
hình thành các đặc điểm của địa hình VN. Trong giai đoạn này, bề mặt địa hình
nước ta đã có nhiều lần biến đổi bởi các quá trình biển tiến, biển lùi, các quá
trình sụt lún kèm theo sự bồi lấp trầm tích, các quá trình nâng lên và uốn nếp

rệt từ hữu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã), hướng vòng cung thể hiện ở
vùng núi Đông bắc và khu vực Nam trung bộ (Trường Sơn Nam).
III.3. Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
Dưới tác động của nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, các quá trình ngoại lực
diễn ra mạnh mẽ làm biến đổi địa hình hiện tại. Các quá trình đóng vai trò quan
trọng nhất đó là xâm thực mạnh ở kv đồi núi và bồi tụ nhanh ở đồng bằng ven
biển.
Quá trình xâm thực: Dưới tác động của nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, bề mặt
địa hình bị công phá tạo nên lớp vỏ phong hóa dày, có nơi tới 10-15m. Trên
cùng của lớp vỏ phong hóa là tầng đất mềm (thổ nhưỡng) và rừng cây che phủ
bảo vệ. Lớp vỏ phong hóa ở nước ta có đặc tính thấm nước, vụn bở, dễ dàng bị
phá hủy, xói mòn và rửa trôi, nhất là ở những nơi địa hình dốc, lớp phủ thực vật
và thổ nhưỡng bị tàn phá.
Quá trình phong hóa hóa học cũng diễn ra mạnh mẽ, hòa tan đá vôi tạo
nên những hang động lớn và sông suối ngầm (kaxto).Các hiện tượng đất trượt
và sụt lở, lũ bùn, lũ quét diễn ra phổ biến trên bề mặt địa hình. Hiện tượng kết
von và đá ong hóa xảy ra trong lớp vỏ phong hóa và thổ nhưỡng diễn ra khá
mạnh.


Quá trình bồi tụ: Các đồng bằng phía Đông và Đông nam được bồi tụ và
mở rộng từ vài chục đến trăm m (Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu
Long).
III.4. Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người:
Là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Trong
quá trình tổ chức lãnh thổ của mình, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người
đã tạo nên những dạng địa hình nhân tạo, tô điểm cho thiên nhiên và cũng làm
cho bề mặt địa hình thay đổi.
Ngoài ra những cảnh quan nhân tạo như cánh đồng, làng mạc, đường sá,
cầu cống, các công trình xây dựng đê điều, đập thủy điện, hồ chứa nước xuất

ven biên giới Việt-Lào như Puđenđinh, Pusamsao.
+ Độ cao địa hình: là vùng núi cao nhất nước ta do được nâng lên mạnh mẽ
trong các giai đoạn của lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ VN, với nhiếu
đỉnh núi cao trên 2000m, có một số đỉnh cao trên 3000m.
+ Giữa các dãy núi là các thung lũng sông cùng hướng TB-ĐN như: sông Đà,
sông Mã, sông Chu và các vùng trũng, nhiều nơi mở rộng thành các cánh đồng
giữa núi như Nghĩa Lộ, Điện Biên.
b. Vùng núi Đông Bắc:
+ Phạm vi: tả ngạn sông Hồng (từ sông Hồng đến biên giới Việt-Trung
+ Hướng nghiêng chung: TB-ĐN)
+ Hướng núi chính: vòng cung (4 cánh cung lớn: Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc
Sơn, Đông Triều -> chụm đầu ở Tam Đảo, mở ra về phía Bắc và Đông Bắc)


+ Độ cao địa hình: chủ yếu là địa hình đồi núi thấp với độ cao trung bình không
quá 1000m. Những đỉnh núi cao trên 2000m nằm ở vùng thượng nguồn sông
Chảy như Kiều Liêu Ti, Tây Côn Lĩnh. Giáp biên giới Việt-Trung là các khối
núi đá vôi ở Cao Bằng.Ở trung tâm là vùng đồi núi thấp 500-600m, vùng đồi
trung du và bán bình nguyên.
+ Theo hướng vòng cung của các dãy núi là hướng vòng cung của các con sông:
sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
c. Vùng núi Trường Sơn Bắc:
+ Phạm vi-ranh giới: Từ phía nam sông Cả cho đến dãy Bạch Mã.
+ Hướng nghiêng chung: TB-ĐN.
+ Hướng núi chính: TB-ĐN, ngoài ra có hướng Tây-Đông.
+ Độ cao địa hình: là vùng đồi núi trung bình và thấp.
+ Cấu trúc-hình thái: Vùng núi này hẹp ngang, gồm các dãy núi song song, so le
nhau theo hướng TB-ĐN với địa thế cao ở hai đầu và thấp trũng ở giữa. Phía
Bắc: là vùng núi phía Tây Nghệ An với các đỉnh như: Puxailaileng (2711m),
Rào Cỏ (2136m) chạy dọc theo biên giới Việt- Lào. Ở giữa là vùng núi đá vôi

mô hình nông, lâm kết hợp, đôi nơi được biến đổi để trồng lúa và hoa màu.
Nhiều đồi trung du đã trở thành vùng đất trống, bạc màu. Cần nhanh chóng
phục hồi lớp phủ thực vật và sử dụng hợp lí đối với vùng đất dễ bị thoái hóa này
2. Khu vực đồng bằng:
Phân theo nguồn gốc hình thành chia làm 2 loại: đồng bằng châu thổ sông và
đồng bằng ven biển
2.1..Đặc điểm 2 đồng bằng châu thổ:


Đồng bằng sông Cửu Long: Là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta
(40nghìn km2), có dạng hình thang cân, địa hình tương đối thấp 2-4m, thấp dần
từ TB-ĐN. Trên đb không có đê nhưng lại có mạng lưới kênh rạch chằng chịt
nên mùa lũ nước ngập sâu ở các vùng trũng Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp, còn
về mùa cạn, nước triều lấn mạnh làm 2/3 diện tích đồng bằng bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn. Chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm của hệ thống sông Tiền,
sông Hậu, tính chất đất phức tạp gồm 3 loại đất chính: phù sa ngọt, mặn, phèn.
Đồng bằng sông Hồng: S nhỏ hơn đồng bằng sông Cửu Long (15nghìn
km2) độ cao nhỏ hơn 50m và bị chia cắt hơn. ĐBSH có lịch sử khai thác lãnh
thổ từ lâu đời, người dân sống ở đây đã đắp đê ngăn lũ. Do vậy toàn bộ đb
không được bồi phù sa thường xuyên (vùng trong đê), 1 số vùng chuyển tiếp với
vùng trung du đất bị bạc màu.
2.2.. So sánh đặc điểm giữa đồng bằng ven biển và đồng bằng châu thổ sông:
Giống nhau
- Đều được hình thành do quá trình bồi tụ
- ĐH tương đối bằng phẳng
- Đất: nhóm đất phù sa được phân hóa thành nhiều loại khá phức tạp
Khác nhau
- Nguồn gốc:
+ ĐB châu thổ sông: được hình thành do phù sa của hệ thống sông lớn, bồi tụ
cho 1bồn trũng nông ở nơi thềm lục địa thoải và mở rộng. Tốc độ bồi đắp phải

núi lớn thường được ngăn cách với nhau bởi các thung lũng sông lớn.
a. Kiểu địa hình núi cao
- Độ cao trung bình: trên 2000m
- Phân bố: Phần lớn nằm sâu trong đất liền và ở vùng biên giới, đặc biệt ở biên
giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu và biên giới phía Tây thuộc 2 tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh.
vd: > Pu Tha Ca (2274m), Tây Côn Lĩnh (2419m), Kiều Liêu Ti (2402m) nằm ở
vùng thượng lưu sông Gâm, sông Lô, sông Chảy thuộc tỉnh Hà Giang.
> Dãy Hoàng Liên Sơn, dài 180km chạy theo hướng TB- ĐN từ biên giới phía
Băc thuộc 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu cho đến Yên Bái. Có đỉnh Phanxipang
(3143m) là đỉnh núi cao nhất Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương. Đỉnh Tả
Yang Phình (3096m), Phu Luông(2985m), Sà Phình(2874m).
> Ở kv Trường Sơn Nam có 1 số đỉnh núi cao trên 2000m như Ngọc Linh
(2598m), Ngọc kring (2025m) ở Kon Tum, đỉnh Vọng Phu (2015m) ở Khánh
Hòa, đỉnh Chư Yang Sin (2405m) ở ĐăcLăc.
- Cấu tạo: đều được cấu tạo bởi các loại đá macma và đá biến chất có thành
phần khá đồng nhất như granit, riôlit, cứng rắn, khó bị phong hóa tạo nên các
đỉnh sắc nhọn, lởm chởm hình răng cưa.=> địa hình núi cao hiểm trở, độ cao
lớn, sườn dốc với nhiều vách đứng bị xâm thực mạnh tạo nên độ chia cắt sâu tới
hàng nghìn m.
b. Kiểu địa hình núi trung bình:
- Độ cao trung bình: 1000-2000m.
- Phân bố: Chỉ chiếm 14% S cả nước nhưng lại phân bố khá rộng, khắp từ biên
giới phía bắc cho đến phía nam Trường Sơn. Kiểu núi trung bình có các dạng


đỉnh núi khối núi và núi đơn độc tách biệt với các vùng núi cao như: Phia Ya,
Phia Uắc ở Cao Bằng, Mẫu Sơn (lạng Sơn), Nam Châu Lãnh (Quảng Ninh),
Tam Đảo(Vĩnh Phúc), Tản Viên (Hà Tây), Bạch Mã, Bảo Lộc(Lâm đồng),...
- Cấu tạo: Cũng được cấu tạo bởi các nham thạch cứng chủ yếu là đá măcma, đá

xuống đồng bằng có độ cao trung bình từ 50-85m.
- Kiểu địa hình này thuộc kiểu địa hình bóc mòn do tác động của quá trình
ngoại lực phá hủy, xâm thực đá gốc hoặc thềm sông, thềm biển.
- Phân loại:
+ Đồi bát úp:gồm những quả đồi riêng biệt có kích thước tương tự nhau, ngăn
cách với nhau bởi các thung lũng xâm thực
+ Dãy đồi: gồm các đồi nối tiếp nhau dưới dạng yên ngựa hoặc lượn sóng, nằm
xen kẽ nhau, giữa chúng là các khoảng trũng hoặc thung lũng.
- Thường gặp ở: Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ thuộc TDMNPB, hoặc ở Tây
Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai ở ĐNB.
4. Kiểu địa hình đồng bằng:
- Là bậc địa hình thấp nhất, phần lớn nằm ở phía đông lãnh thổ tiếp giáp với
biển Đông.
- Đặc điểm chung: rất bằng phẳng, trung bình < 20m, được bồi đắp bởi trầm tích
biển, sông, trầm tích lục địa trên các vùng sụt lún,...
- Đặc trưng là : đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng
duyên hải miền trung.
5. Các kiểu địa hình đặc biệt:


a. Kiểu địa hình caxtơ:địa hình bị nước ăn mòn tạo thành các hang động, suối
cạn, thung khô.
b. Kiểu địa hình bờ biển: kiểu địa hình bờ biển bồi tụ, kiểu địa hình bờ biển mài
mòn, kiểu địa hình bờ biển bồi tụ - mài mòn.
c. Kiểu địa hình đảo: kiểu địa hình đảo núi đất, núi đá ven bờ, kiểu địa hình đảo
san hô.
III.ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỊA HÌNH ĐẾN CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN
III.1. Ảnh hưởng của địa hình đến khí hậu
Các đặc điểm của địa hình về độ cao, hướng nghiêng, hướng địa hình...là
nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân hóa khí hậu nước ta.

phương không thể hiện rõ nét, làm cho khí hậu nước ta mang đặc tính khí hậu
hải dương điều hòa khác hẳn các nước có cùng vĩ độ.
Các hướng núi chính là Tây Bắc – Đông Nam, hướng vòng cung, hướng
Tây Đông của địa hình là nguyên nhân dẫn đến khí hậu phân hóa Bắc – Nam,
Đông – Tây.
Hướng vòng cung của các cánh cung Đông Bắc tạo điều kiện cho gió
mùa xâm nhập sâu vào trong lãnh thổ nước ta, khiến các địa phương phía bắc có
nhiều tháng nhiệt độ xuống thấp. Hướng vòng cung của các cánh cung Trường
Sơn Nam song song với hướng gió ở duyên hải khiến cho nhiều địa phương có
lượng mưa thấp: Ninh Thuận, Bình Thuận.
Hướng Tây Bắc – Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn có tác dụng ngăn
ảnh hưởng của gió mùa đông bắc đến vùng Tây Bắc làm cho vùng này có mùa
đông ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Ở vùng Đông Bắc, có mùa đông kéo dài 3


tháng, nhiệt độ các địa điểm có cùng độ cao với Tây Bắc đều có nhiệt độ thấp
hơn 2-3 0C. Vùng Tây Bắc, mùa đông ấm hơn, kéo dài 2 tháng .
Hướng Tây Bắc – Đông Nam của dãy Trường Sơn vuông góc với gió
mùa Tây Nam khiến cho sườn đông ảnh hưởng của gió Tây khô nóng vào mùa
hạ, nhiệt độ lên cao, mưa ít. Sang mùa đông, sườn đông lại ở vị trí đón gió nên
mưa nhiều.
Hướng Tây – Đông của dãy Hoành Sơn, Bạch Mã có tác dụng ngăn ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc xuống phía nam góp phần làm cho nhiệt độ ở
phía nam cao hơn phía bắc, phần lãnh thổ phía Bắc từ dãy Bạch Mã trở ra nhiệt
độ trung bình năm >20 0C, 3 tháng lạnh nhiệt độ < 18 0C trong khi phần lãnh thổ
phía Nam từ dãy Bạch Mã trở vào, nhiệt độ trung bình năm >20 0C, không
tháng nào< 200C.
III.2. Ảnh hưởng của địa hình đến thổ nhưỡng
Vai trò của địa hình đối với quá trình hình thành thổ nhưỡng biểu hiện ở
tác động phân phối lại các nguyên tố địa hóa trong lớp vỏ phong hóa và làm

Lên độ cao 600-700m đến 1600-1700m là phạm vi đai rừng á nhiệt đới
phát triển trên đất feralit có mùn trên núi. Tại độ cao này, tính chất nhiệt đới
giảm mạnh, nhiệt độ hạ thấp, mưa nhiều, phần lớn còn rừng che phủ, các quá
trình khoáng hóa và phân giải đều giảm sút. Mùn tăng là đặc điểm chủ yếu để
phân biệt với đất feralit vùng đồi, hàm lượng mùn 5-8%, tầng đất mỏng, quá
trình feralit yếu.Theo đá mẹ chía ra các loại đất khác nhau nhưng có đặc tính
chung là nhiều mùn
Trên 1600-1700m là độ cao xuất hiện đai rừng á nhiệt mưa mù phát triển
trên đất mùn alit núi cao. Tại độ cao này mọi quá trình khoáng hóa, phân giải
feralit đều kém, dẫn tới đất mỏng, tầng mùn dầy 8-12%, đất chua mạnh, độ PH

thổ có mật độ mạng lưới sông ngòi đạt giá trị cao nhất tới 2,0-4,0km/km2.
Là một mạng lưới sông miền núi, độ cao bình quân của các lưu vực sông
từ 500-1000m ,thuộc địa hình núi thấp, còn độ dốc bình quân lưu vực khoảng
20% đến 25%.
Do sự tương phản sâu sắc giữa địa hình đồi núi mà có sự thay đổi đột
ngột giữa vùng hạ du và vùng thượng du sông. Dòng sông ở thượng lưu rất dốc,
trắc diện dọc trong khoảng 10-20 km đầu nguồn gần thẳng đứng, điển hình là
thượng lưu sông Chảy. Ở thượng lưu sông chảy xiết và lắm thác ghềnh, ở đồng


bằng sông chảy êm đềm, uốn khúc quanh co. Sự tương phản giữa đoạn miền núi
và đoạn đồng bằng càng rõ nét ở các sông sườn đông Trường Sơn ở Trung Bộ .
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình phần lớn sông ngòi nước ta đều mang
đặc điểm của sông ngòi miền đồi núi dốc nên trong mùa lũ có nước lớn và mực
nước dâng cao nhanh đồng thời tăng cường khả năng xâm thực và vận chuyển
phù sa (tổng lượng phù sa của sông ngòi tới 200 triệu tấn/năm)
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỊA HÌNH ĐẾN DÂN CƯ VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI.
IV.1.Ảnh hưởng của địa hình đến dân cư, dân tộc nước ta.
Địa hình là một trong những nhân tố tự nhiên ảnh hưởng rõ rệt đến các
đặc điểm của dân cư Việt Nam. Trong đó những ảnh hưởng quan trọng nhất là
đến sự phân bố dân cư, dân tộc, tới các hình thức quần cư và mạng lưới đô thị.
a. Ảnh hưởng của địa hình đến sự phân bố dân cư, dân tộc Việt Nam:
Giữa Trung du-miền núi với đồng bằng:
Trung du miền núi: Địa hình nước ta có tính chất phân bậc rõ rệt, khu
vực Tây Bắc có độ cao lớn nhất cả nước (trên 2000m). Một số nơi có độ cao địa
hình đạt tới trên 3000m. Địa hình cao, bị chia cắt mạnh, nhiều hiện tượng như
đất trượt, đá lở, động đất, lũ quét, khí hậu lạnh giá khắc nghiệt là hàng loạt
những điều kiện không thuận lợi cho sự phân bố dân cư.
Khu vực trung du miền núi nước ta chiếm tới ¾ diện tích nhưng chỉ có

người/km2. Khu vực rìa đồng bằng như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên,
vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau dân cư thưa thớt hơn 101-200 người/km 2
do vùng này độ cao địa hình rất thấp, khiến đất nhiễm phèn, nhiễm mặn.
b. Ảnh hưởng của địa hình đến các hình thức quần cư và mạng lưới đô thị:


Các mẫu hình quần cư nông thôn ở các vùng nước ta cũng bị chi phối bởi
điều kiện địa hình bên cạnh các nhân tố như tài nguyên thiên nhiên, hoạt động
kinh tế chủ yếu của dân cư, đặc điểm văn hóa-dân tộc,….Từ đó, các mẫu hình
quần cư nông thôn ở nước ta có thể được chia ra như sau:
Điểm dân cư vùng núi, trung du và cao nguyên.
Điểm dân cư vùng đồng bằng, ven biển.
Các điểm dân cư nông thôn vùng núi, trung du và cao nguyên: Do địa
hình cao khó khăn cho việc tập trung sinh sống, nên các bản, làng thường tương
đối nhỏ, nhà ở rải rác, chỉ có một số dân tộc ở rẻo thấp (Tày, Thái, Nùng,
Mường) mới có các làng tập trung tới vài chục nóc nhà hoặc lớn hơn. Các làng
bản thường phân bố ở các nơi gần nguồn nước, dọc các thung lũng có thể khai
thác đất để trồng trọt, chăn nuôi hoặc phân bố ở trên các sườn kín gió. Chỉ có 1
số làng bản gần đầu mối giao thông thì mới hình thành các chợ, các điểm trao
đổi hàng hóa địa phương, hình thành các thị trấn, thị tứ. Các dân tộc vùng núi
thấp thường ở nhà sàn với lối kiến trúc không hoàn toàn giống nhau giữa các
dân tộc. Tuy nhiên ở nhiều vùng, nhất là vùng ven biên giới, họ lại ở nhà trệt,
tường trình bằng đất. Các dân tộc ở rẻo giữa và rẻo cao thường ở nhà trệt, cũng
có những nhóm ở nhà sàn.
Các dân tộc ở Tây Nguyên sinh sống trên bề mặt cao nguyên rộng lớn, bề
mặt tương đối bằng phẳng nên tồn tại nhiều hình thức nhà lớn như nhà rông,
nhà dài, nhà sàn dài từ vài chục đến trăm mét.
Do sự phân tán của các điểm dân cư trên nền địa hình đồi núi nên mạng
lưới đô thị ở đây kém phát triển, chủ yếu là các đô thị nhỏ và vừa, phân bố phân
tán.

thuyền.
Mạng lưới đô thị có mật độ dày đặc hơn vùng núi, quy mô đô thị lớn.


IV.2.Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển kinh tế - xã hội
Mỗi khu vực địa hình đều có thế mạnh và hạn chế riêng trong phát triển
kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu kĩ các khu vực địa hình để quản lí, khai thác nó
một cách đúng đắn là một vấn đề mang tích chất chiến lược quan trọng và lâu
dài trong công cuộc phát triển bền vững.
1.Thế mạnh, hạn chế của khu vực đồi núi
a.Thế mạnh
Khoáng sản: Khu vực đồi núi tập trung nhiều khoáng sản, phong phú về
chủng loại, đa dạng về loại hình, bao gồm cả khoáng sản có nguồn gốc nội sinh
như đồng, chì, thiếc, sắt, pyrit, niken, crom, vàng, vonfram, antimoan...và các
khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh như boxit, apatit, đá vôi, than đá...Đó là
nguyên, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp
Tài nguyên nhiên liệu- năng lượng: Than: tập trung chủ yếu ở vùng
Quảng Ninh có tới 5,5 tỷ tấn chiếm gần 90% trữ lượng than của cả nước.Ngoài
Quảng Ninh, các địa phương có than như: Thái nguyên (trữ lượng thăm dò 80
triệu tấn), Na Dương (Lạng Sơn) trữ lượng thăm dò trên 100 triệu tấn, Nông
Sơn (Quảng Nam) trữ lượng thăm dò 10 triệu tấn
Về kim loại đen, nước ta có các mỏ sắt ở Thái Nguyên, Lào Cai, Hà
Tĩnh...tổng trữ lượng quặng sắt gần 900 triệu tấn, có thể sản xuất 10 triệu tấn
gang thép/năm. Lớn nhất là mỏ sắt Thạch Khê – Hà Tĩnh
Về kim loại màu: Quặng boxit: các cao nguyên Tây Nguyên có nhiều mỏ
boxit laterit lớn, trữ lượng dự báo trên 10 tỉ tấn, tập trung ở các tỉnh Đaklac, lâm
Đồng, chất lượng quặng trung bình, chứa nhiều sắt (22-25% ôxit sắt), hàm
lượng ôxit nhôm từ 38-42%, có nơi hàm lượng đạt 45%, dễ tuyển luyện. Thiếc:
các mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Quỳ Hợp (Nghệ
An) trữ lượng dự báo khoảng gần 140 nghìn tấn. Kẽm: ở hà Giang, Bắc Kạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status