phân tích tác phẩm văn học( ôn vào lóp 10-2009) - Pdf 51

phong cách Hồ Chí Minh
(Lê Anh Trà)
I - Gợi ý
1. Xuất xứ:
Phong cách Hồ Chí Minh
là một phần bài viết "Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại
gắn với cái giản dị" của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn sách "Hồ Chí Minh và văn
hoá Việt Nam", Viện Văn hoá xuất bản, Hà Nội, 1990.
2. Tác phẩm:
Mặc dù am tờng và ảnh hởng nền văn hoá nhiều nớc, nhiều vùng trên thế giới nh-
ng phong cách của Hồ Chí Minh vô cùng giản dị, điều đó đợc thể hiện ngay trong đời
sống sinh hoạt của Ngời: nơi ở chỉ là một ngôi nhà sàn nhỏ bé với những đồ đạc mộc
mạc, trang phục đơn sơ, ăn uống đạm bạc.
3. Tóm tắt:
Viết về phong cách Hồ Chí Minh, tác giả đa ra luận điểm then chốt: Phong cách
Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính nhân loại, truyền thống và
hiện đại, giữa vĩ đại và giản dị.
Để làm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ,
với những dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về quá trình hoạt động cách
mạng, khả năng sử dụng ngôn ngữ và sự giản dị, thanh cao trong cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày của Bác.
II - Giá trị tác phẩm
Trong bài thơ
Ngời đi tìm hình của nớc
, Chế Lan Viên viết:
Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá...
Đó là những câu thơ viết về Bác trong thời gian đầu của cuộc hành trình cứu nớc
gian khổ. Câu thơ vừa mang nghĩa tả thực vừa có ý khái quát sâu xa. Sự đối lập giữa
một viên gạch hồng
giản dị với cả

một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phơng Đông,
nhng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại..".
Đây có thể coi là lập luận quan trọng nhất trong bài nhằm làm sáng tỏ luận điểm
chính nói trên. Trong thực tế, các yếu tố "dân tộc" và "nhân loại", "truyền thống" và "hiện
đại" luôn có xu hớng loại trừ nhau. Yếu tố này trội lên sẽ lấn át yếu tố kia. Sự kết hợp hài
hoà của các yếu tố mang nhiều nét đối lập ấy trong một phong cách quả là điều kì diệu,
chỉ có thể thực hiện đợc bởi một yếu tố vợt lên trên tất cả: đó là bản lĩnh, ý chí của một
ngời chiến sĩ cộng sản, là tình cảm cách mạng đợc nung nấu bởi lòng yêu nớc, thơng dân
vô bờ bến và tinh thần sẵn sàng quên mình vì sự nghiệp chung. Hồ Chí Minh là ngời hội
tụ đầy đủ những phẩm chất đó.
Để củng cố cho lập luận của mình, tác giả đa ra hàng loạt dẫn chứng. Những chi
tiết hết sức cụ thể, phổ biến: đó là ngôi nhà sàn, là chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp đã
từng đi vào thơ ca nh một huyền thoại, là cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, là tình cảm
thắm thiết đối với đồng bào, nhất là với các em thiếu nhi... cũng đã trở thành huyền
thoại trong lòng nhân dân Việt Nam. Với những dẫn chứng sống động ấy, thủ pháp
liệt kê đợc sử dụng ở đây không những không gây nhàm chán, đơn điệu mà còn có tác
dụng thuyết phục hơn hẳn những lời thuyết lí dài dòng.
2
Trong phần cuối bài, tác giả đã khiến cho bài viết thêm sâu sắc bằng cách kết nối
giữa quá khứ với hiện tại. Từ nếp sống "giản dị và thanh đạm" của Bác, tác giả liên hệ
đến Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Bỉnh Khiêm các vị "hiền triết" của non sông đất Việt:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao...
Đây cũng là một yếu tố trong hệ thống lập luận của tác giả. Dẫu các yếu tố so sánh
không thật tơng đồng (Bác là một chiến sĩ cách mạng, là Chủ tịch nớc trong khi
Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đợc nói đến trong thời gian ở ẩn, xa lánh cuộc
sống sôi động bên ngoài) nhng vẫn đợc vận dụng hợp lí nhờ cách lập luận có chiều
sâu: "Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác Hồ, cũng nh các vị danh nho xa, hoàn
toàn không phải là một cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, hơn đời, mà đây
là lối sống thanh cao, một cách di dỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc

Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất.
Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu
tranh cho một thế giới hoà bình.
Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ,
đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục.
II - Giá trị tác phẩm
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà trình độ khoa học kỹ thuật đang phát
triển với một tốc độ đáng kinh ngạc: những thành tựu của ngày hôm nay, rất có thể chỉ
ngày mai đã thành lạc hậu. Đã từng có những ý kiến bi quan cho rằng: trong khi của
cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân số trái đất lại tăng theo cấp số nhân, con ngời
sẽ ngày càng đói khổ. Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển nh vũ bão của khoa học kĩ thuật,
của cải xã hội ngày càng dồi dào hơn, số ngời đói nghèo ngày càng giảm đi...
Đó là những yếu tố tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phần lớn chúng ta
đều nhận thấy. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầu nh rất ít ngời có thể
nhận thức đợc. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két đã gióng lên một hồi chuông
cảnh tỉnh nhân loại trớc nguy cơ đang hiện hữu của một cuộc chiến tranh hạt nhân
thảm khốc có khả năng huỷ diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh xanh mà phơng tiện
của cuộc chiến tranh ấy mỉa mai thay lại là hệ quả của sự phát triển khoa học nh vũ
bão kia.
Vấn đề đợc khơi gợi hết sức ấn tợng: "Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 - 8 -
1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã đợc bố trí khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều
đó có nghĩa là mỗi ngời không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất
cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải một lần mà là mời hai lần, mọi
dấu vết của sự sống trên trái Đất".
Sức tác động của đoạn văn này chủ yếu bởi những con số thống kê cụ thể: 50.000
đầu đạn hạt nhân; 4 tấn thuốc nổ; không phải một lần mà là mời hai lần... Thông điệp
về nguy cơ huỷ diệt sự sống đợc truyền tải với một khả năng tác động mạnh mẽ vào t
duy bạn đọc. Không chỉ có thế, trong những câu văn tiếp theo, tác giả còn mở rộng
phạm vi ra toàn hệ Mặt Trời, dẫn cả điển tích trong thần thoại Hi Lạp nhằm làm tăng
sức thuyết phục.

cuộc sống hoà bình, công bằng. Nhng dù cho tai hoạ xảy ra thì sự có mặt của chúng ta
ở đây cũng không phải là vô ích".
Đó không hẳn là một lời kêu gọi thống thiết và mạnh mẽ, tuy nhiên không vì thế
mà nó kém sức thuyết phục. Chính d âm của luận điểm thứ nhất đã tạo nên hiệu quả
cho luận điểm thứ hai này. Những lời kêu gọi của tác giả gần nh những lời tâm sự nh-
ng thấm thía tận đáy lòng. Cha hết, tác giả còn tởng tợng ra tấn thảm kịch hạt nhân và
đề nghị mở "một ngân hàng lu trữ trí nhớ". Lời đề nghị tởng nh rất không thực ấy lại
5
trở nên rất thực trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra bất cứ lúc
nào.
Trong luận điểm thứ hai này, tác giả hầu nh không sử dụng một dẫn chứng hay
một con số thống kê nào. Nhng cách dẫn dắt vấn đề, lời tâm sự tha thiết mang âm điệu
xót xa của tác giả đã tác động mạnh đến lơng tri nhân loại tiến bộ. Tác giả không chỉ ra
thế lực nào đã vận dụng những phát minh khoa học vào mục đích xấu xa bởi đó dờng
nh không phải là mục đích chính của bài viết này nhng ông đã giúp nhân loại nhận
thức đợc nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hoàn toàn có thực và ngăn chặn nguy cơ đó,
đồng thời đấu tranh cho một thế giới hoà bình sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất của
nhân loại trong thế kỉ XXI.
tuyên bố thế giới về sự sống còn,
quyền đợc bảo vệ và phát triển của trẻ em
I - Gợi ý
1. Xuất xứ:
Văn bản
Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đợc bảo vệ và phát trỉen của trẻ
em
đợc trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại Liên hợp
quốc ngày 30-9-1990, in trong cuốn "Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ
em", NXB Chính trị quốc gia - Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, 1997.
2. Tóm tắt:
Tuy chỉ là một trích đoạn nhng bài viết này có thể coi là một văn bản khá hoàn

phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em. Đó là sự bóc lột, đày đoạ một cách tàn nhẫn, là
cuộc sống khốn khổ của trẻ em ở các nớc nghèo. Trong hoàn cảnh ấy, những con số
thống kê rất có sức nặng ("Mỗi ngày, có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm
hoạ của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia c, dịch
bệnh...; Mỗi ngày có tới 40000 trẻ em chết do suy dinh dỡng và bệnh tật,..."). Những
con số
biết nói
ấy thực sự là lời cảnh báo đối với nhân loại.
Với nội dung nh vậy nhng các tác giả lại đặt tên cho phần này là
Sự thách thức
.
Mới đọc, có cảm tởng giữa đề mục và nội dung không thật thống nhất. Tuy nhiên, đó
lại là yếu tố liên kết giữa các phần trong văn bản này. Tác giả đã sử dụng phơng pháp
"đòn bẩy": hiện thực càng đợc chỉ rõ bao nhiêu thì những vấn đề đặt ra sau đó lại càng
đợc quan tâm bấy nhiêu.
Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay những
cơ hội) cho những hoạt động vì quyền của trẻ em. Đó là những phơng tiện và kiến
thức, là sự hợp tác, nhất trí của cộng đồng thế giới cùng sự tăng trởng kinh tế, sự biến
đổi của xã hội... trong đó các tác giả nhấn mạnh đến nhân tố con ngời. Bằng những
hoạt động tích cực, con ngời hoàn toàn có thể làm chủ đợc tơng lai của mình khi quan
tâm thoả đáng đến các thế hệ tơng lai.
Trong phần
Nhiệm vụ
, các tác giả nêu ra tám nhiệm vụ hết sức cơ bản và cấp thiết.
Có thể tóm tắt lại nh sau:
1. Tăng cờng sức khoẻ và chế độ dinh dỡng của trẻ em.
2. Quan tâm săn sóc nhiều hơn đến trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc
biệt khó khăn.
3. Đảm bảo quyền bình đẳng nam - nữ (đối xử bình đẳng với các em gái).
7

phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của ngời phụ nữ Việt
Nam dới chế độ phong kiến.
... Về mặt nội dung,
Truyền kì mạn lục
chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực và
giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức tạp trong t t-
ởng nhà văn.
Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên tác giả
thờng lấy xa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực. Đọc
Truyền kì mạn lục
nếu biết bóc
tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sơng khói thời gian xa cũ,
sẽ thấy bộ mặt xã hội đơng thời. Đời sống xã hội dới ngòi bút truyền kì của nhà văn
8
hiện lên khá toàn diện cuộc sống ngời dân từ bộ máy nhà nớc với quan tham lại nhũng
đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong bại tục.
Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trờng
đạo đức thì khi phản ánh số phận con ngời, ông lại xuất phát tự lập trờng nhân văn.
Chính vì vậy,
Truyền kì mạn lục
chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc. Về phơng
diện này, Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn
trong văn học trung đại Việt Nam.
Truyền kì mạn lục
phản ánh số phận con ngời chủ
yếu qua số phận của ngời phụ nữ, đồng thời hớng tới những giải pháp xã hội, nhng
vẫn bế tắc trên đờng đi tìm hạnh phúc cho con ngời". (
Từ điển văn học
- NXB Thế giới,
2005).

9
chỉ đợc giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao dung độ lợng,
luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con ngời bé nhỏ, thua thiệt, oan ức
trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian.
Ngời phụ nữ trong
Chuyện ngời con gái Nam Xơng
không có đợc cái may mắn nh
Thị Kính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục còn bi thảm
hơn. Thị Kính đợc lên toà sen trong khi ngời phụ nữ này phải tìm đến cái chết để
chứng tỏ sự trong sạch của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn không đợc nhiều ngời
biết đến, có lẽ bởi phơng thức kể. Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu chuyện về nàng đợc
thể hiện qua một vở chèo một loại hình nghệ thuật dân gian quen thuộc, đợc nhân
dân a thích từ xa xa, trong khi
Ngời con gái Nam Xơng
là một tác phẩm văn học viết
thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân dân lao động hầu hết đều
không biết chữ). Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu thêm rất nhiều
điều về thân phận những ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật dựng
truyện, dẫn dắt mạch truyện cũng nh nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức kết hợp
các phơng thức tự sự, trữ tình và kịch của tác giả.
Trong phần đầu của truyện, trớc khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành khá nhiều
lời để ca ngợi vẻ đẹp của ngời phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh. Hầu nh không
có sự kiện nào thật đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chồng đi lính, đối xử với mẹ
chồng...) chứng tỏ nàng là một ngời con gái đẹp ngời đẹp nết, một ngời vợ hiền, một
ngời con dâu hiếu thảo. Chỉ có một chi tiết ở đoạn mở đầu: "Song Trơng có tính đa
nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức". Bạn đọc có thể dễ bỏ qua chi tiết này vì với
phẩm hạnh của nàng, dẫu Trơng Sinh có đa nghi đến đâu cũng khó có thể xảy ra
chuyện gì đợc.
Nhng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả. Chi
tiết nhỏ đợc cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trớc và phần sau, xâu chuỗi

vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:
Cha Đản lại đến kia kìa!
Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:
Đây này!
Mâu thuẫn đợc tháo gỡ cũng bất ngờ nh khi nó phát sinh. Đứa trẻ có biết đâu rằng,
nó đã gây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi ngời chồng hiểu ra, hối hận thì
đã quá muộn. Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn đến thế mà cũng
đủ đẩy một con ngời vào cảnh tuyệt vọng.
Ai là ngời có lỗi? Đứa trẻ đơng nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết thắc
mắc vì những lời nói đùa của mẹ. Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết đâu rằng
những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến thế! Có trách
chăng là trách Trơng Sinh vì sự ghen tuông đến mất cả lí trí. Chi tiết này gợi lên nhiều
suy nghĩ: giá nh không phải ở trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, giá nh ng-
ời vợ có thể tự bảo vệ cho lẽ phải của mình thì nàng đã không phải chọn cái chết thảm
thơng nh vậy. Tính đa nghi của Sinh đã không gây nên hậu quả xấu nếu nh nó không
đợc nuôi dỡng trong một môi trờng mà ngời phụ nữ luôn luôn phải nhận phần thua
thiệt về mình. ý nghĩa này của tác phẩm hầu nh không đợc tác giả trình bày trực tiếp
nhng qua hệ thống các biến cố, sự kiện đợc sắp xếp hợp lí, đa bạn đọc từ bất ngờ này
đến bất ngờ khác, tác giả đã thể hiện một cách tinh tế sự cảm thông sâu sắc của mình
11
đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Nếu câu chuyện dừng lại ở đây thì có thể cho rằng nó đã đợc sáng tạo theo một lỗi
viết khá mới mẻ và hiện đại. Nhng Nguyễn Dữ lại là ngời nổi tiếng với những câu
chuyện truyền kỳ. Hoang đờng, kì ảo là những yếu tố không thể thiếu trong những
sáng tác thuộc loại này. Mặt khác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại nhng
hẳn Nguyễn Dữ cũng chịu ảnh hởng ít nhiều từ t tởng "ở hiền gặp lành" của nhân dân
lao động. Bản thân ông cũng luôn đứng về phía nhân dân, đặc biệt là những ngời phụ
nữ có hoàn cảnh éo le, số phận oan nghiệt trong xã hội cũ. Bởi vậy, tác giả đã tạo cho
câu chuyện một lối kết thúc có hậu. Tuy không đợc hoá Phật để rồi sống ở miền cực
lạc nh Thị Kính nhng ngời phụ nữ trong truyện cũng đợc thần rùa cứu thoát, tránh

Tuy chỉ là một tác phẩm tuỳ bút với ý nghĩa là những ghi chép tản mạn nhng

trung tuỳ bút
lại có giá trị văn học lớn. Một mặt, tác phẩm phơi bày hiện thực xã hội
12
đen tối lúc bấy giờ đồng thời với nỗi thống khổ của nhân dân, mặt khác, tác phẩm thể
hiện tài năng của tác giả. Dù tác giả không chủ ý xoáy sâu vào một vấn đề nào nhng
qua những từ ngữ gợi tả, qua những lời bình luận tởng nh rất bâng quơ, hiện thực
cuộc sống cứ hiển hiện chân thực, sống động trớc mắt độc giả.
Trong bài văn này, phần đầu tác giả miêu tả cung cách ăn chơi xa hoa của đám
quan quân trong phủ chúa Trịnh, phần sau tác giả đề cập đến nỗi khổ sở của dân
chúng trớc sự nhũng nhiễu của đám quan quân. Phần cuối, tác giả điểm qua một vài ý
về gia đình mình. Mọi chi tiết đều có tác dụng phơi bày sự mục rỗng của chính quyền
phong kiến Lê Trịnh ở vào thời kì sắp suy tàn.
3. Thể loại:
Nói tuỳ bút là thể văn ghi chép sự việc một cách cụ thể, sinh động nhng tuỳ hứng
không có nghĩa là bài văn đợc sắp xếp lộn xộn, không theo trật tự nào. Thực ra, điều
đó chỉ có nghĩa rằng văn tuỳ bút không phụ thuộc vào một khuôn mẫu cố định nào đó
(ví dụ nh thơ Đờng luật). Tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể, tác giả lựa chọn, sắp xếp các
chi tiết, sự kiện theo những trật tự nhất định nhằm làm nổi bật vấn đề.
4. Tóm tắt:
Đoạn trích
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
miêu tả cuộc sống xa hoa ăn chơi xa xỉ,
không màng đến quốc gia đại sự, áp bức, bóc lột nhân dân,... của vua chúa, quan lại
phong kiến thời Thịnh Vơng Trịnh Sâm.
II- Giá trị tác phẩm
Khoảng cuối thế kỉ XVIII, tuy ngoài biên giới không có giặc ngoại xâm nhng trong
nớc lại vô cùng rối ren. Các thế lực phong kiến chia bè kéo cánh thao túng quyền hành,
vừa sát hại lẫn nhau vừa ra sức bóc lột của cải khiến đời sống nhân dân vô cùng cực

gì". Thật là sự cớp bóc trắng trợn của một vị chúa. Bất cứ thứ gì chúa muốn, kể cả cây
đa to đến hàng mấy trăm ngời khiêng cũng đợc đa về phủ... Thật trớ trêu khi ngời
đứng đầu triều đình lại không hề biết tiếc sức ngời sức của, không biết chăm lo cho n-
ớc, cho dân, chỉ biết cớp bóc, vơ vét để thoả lòng tham không đáy.
Liệt kê ra nh vậy nhng tác giả vẫn không đa ra bất cứ một lời bình luận nào. Thậm
chí ông còn viết cả một đoạn văn dài nh là ca ngợi vẻ đẹp của phủ chúa. Mặc dù vậy,
cách miêu tả của tác giả thật đặc biệt: vừa mới viết "hình núi non bộ trông nh bến bể
đầu non", tác giả lại bổ sung: "Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vợn hót
vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào nh trận ma sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức
giả biết đó là triệu bất tờng". Câu văn tuy đẹp, lời văn tởng nh mạnh mẽ nhng lại
nhuốm màu u ám, nh báo trớc những điều chẳng lành.
Vua chúa đã vậy, bọn quan lại cũng tha hồ "đục nớc béo cò". Vừa ăn cắp vừa la
làng, chúng không những lấy đi những thứ quý mà còn lập mu vu vạ nhằm doạ nạt để
lấy tiền. Tác giả gọi chúng là "các cậu" ra vẻ trân trọng nhng những hành vi của chúng
thì thật bỉ ổi, táng tận lơng tâm. Tác giả không nói gì thì bạn đọc cũng biết: một xã hội
mà từ vua chúa đến quan lại đều không chăm lo gì đến việc nớc, chỉ biết tìm cách cớp
đoạt của cải của nhân dân thì xã hội ấy hỗn loạn, bất an đến thế nào.
Trong phần cuối, tác giả đa ra những chi tiết về nỗi khổ của nhân dân cũng nh của
chính gia đình mình: "Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thờng phải
bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để
14
tránh khỏi tai vạ,... Đó là cảnh chung, còn trong ngôi nhà của tác giả, những cây cảnh
đẹp cũng đợc sai chặt đi.
Đó là những chi tiết rất đắt giá. Tác giả không tả đám quan quân cớp bóc của cải
mà chỉ nói về cây cảnh. Việc nhân dân tự chặt cây cảnh, đập bỏ hòn non bộ đã cho
thấy một xã hội đầy những bất trắc, ngời dân phải phá bỏ chính tài sản của mình để
khỏi bị liên luỵ, phiền hà với đám quan lại xấu xa, tàn ác. Hệ quả đợc rút ra ở đây là:
đến những thứ phù phiếm nh hòn non bộ hay cây cảnh mà chúng còn ngang nhiên c-
ớp đoạt nh vậy thì những thứ quý, hẳn chúng cũng không bỏ qua một cơ hội nào.
Bài tuỳ bút đợc trích tơng đối ngắn, nhng qua những chi tiết, những sự việc đợc

Hoàng Lê nhất thống
15
chí
(biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã
tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của
quân xâm lợc cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nớc.
3. Thể loại:
- Hoàng Lê nhất thống chí
là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính
chất văn học vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vơng triều nhà Lê,
vào thời điểm anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi dậy
khởi nghĩa, tiêu diệt nhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. ý nghĩa tiêu đề của tác phẩm
là nh thế nhng sau khi vua Lê dành lại đợc quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất nhiều biến
cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn, dới
sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đánh tan hai mơi vạn quân
Thanh xâm lợc. Tất cả đã đợc ghi chép lại một cách khá đầy đủ và khách quan trong
tác phẩm.
4. Tóm tắt:
Đợc tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vơng rất giận, liền họp các tớng
sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân,
vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mơi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc
khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng tài
chỉ huy thao lợc của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên nh vũ bão, quân giặc
thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, ngời không kịp
mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống
cũng phải chạy tháo thân.
II - Giá trị tác phẩm
Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trớc hết trong văn bản này là tác giả. Khi
sáng tạo tác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể hiện
những t tởng, tình cảm, quan điểm chính trị, xã hội... của mình. Tác giả của

nhng lại cho mọi ngời hiểu họ cũng là ngời đã có công lớn trong việc bảo toàn đợc lực
lợng, chờ đợi thời cơ điều đó không những khiến cho quân ta tránh đợc những th-
ơng vong vô ích mà còn làm cho giặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan, tạo điều kiện thuận
lợi để ta đánh chúng sau này.
Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là
hợp với lòng ngời. Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi ích
của quốc gia và của dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm phục,
càng quyết tâm chống giặc. Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những chiến thắng
liên tiếp của quân Tây Sơn dới sự thống lĩnh của vua Quang Trung.
Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có
thể diễn tả bằng từ "thần tốc". ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí
chiến trận rất khẩn trơng, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự kiện
nhng không vì thế mà làm mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh. Lời hứa chắc
chắn trớc lúc xuất quân của ông đã đợc đảm bảo bằng tài thao lợc, xử trí hết sức nhạy
bén, mu trí trong những tình huống cụ thể: đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn
công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ớt để tấn công đồn Ngọc Hồi,... Tài dùng binh
khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khi chúng biết đợc tin tức
thì đã không thể chống cự lại đợc nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên nhau mà chạy.
Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của
đám quan quân nhà Thanh. Ra đi "binh hùng tớng mạnh", vậy mà cha đánh đợc trận
17
nào đã phải tan tác về nớc. Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị (trớc
đó là hai mơi vạn) vẫn còn đông hơn quân của vua Quang Trung nhng trớc sức tấn
công nh vũ bão của quân Tây Sơn, dới sự chỉ huy của một vị tớng tài ba và quyết đoán,
chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả.
Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sớng. Khi miêu
tả tài "xuất quỷ nhập thần" của quân Tây Sơn, các tác giả viết: "Thật là: "Tớng ở trên
trời xuống, quân chui dới đất lên"... Ngợc lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì: "Tôn Sĩ Nghị
sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, ngời không kịp mặc áo giáp...". Đó không còn
là giọng của một ngời ghi chép lại các sự kiện một cách khách quan mà là giọng điệu

tác của Nguyễn Du, nh chính trong
Truyện Kiều
ông viết:
Trải qua một cuộc bể dâu -
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Nguyễn Du từng trải một cuộc đời phiêu bạt: sống nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở
Hà Tĩnh, làm quan dới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc. Vốn hiểu biết sâu rộng,
phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải
nghiệm nhiều tạo thành.
2. Tác phẩm:
- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn, cả bằng
chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập, gồm 243 bài. Thơ chữ Nôm, xuất sắc
nhất là cuốn truyện
Đoạn trờng tân thanh
, còn gọi là
Truyện Kiều.
- "Có thể tìm thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du từ
thơ chữ Hán đến
Truyện Kiều, Văn chiêu hồn
. Nguyễn Du vĩ đại chính vì Nguyễn Du
là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa. Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhng
Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc sống của quần chúng, đã lắng nghe đợc tâm hồn
và nguyện vọng của quần chúng, nhà thơ đã ý thức đợc những vấn đề trọng đại của
cuộc đời và, với một nghệ thuật tuyệt vời, ông đã làm cho những vấn đề trọng đại ấy
trở thành bức thiết hơn, da diết hơn, ám ảnh hơn trong tác phẩm của mình. Thơ
Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều đạt đến trình độ điêu luyện.
Riêng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông, đặc biệt là
Truyện Kiều
là một
cống hiến to lớn của nhà thơ đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc. Về

gặp Kim Trọng trong hoàn cảnh nào? Mối tình giữa Kiều và Kim Trọng đã nảy nở ra
sao? Họ kiếm lí do gì để gần đợc nhau? Kiều và Kim Trọng đính ớc.
- Gia biến và lu lạc:
Gia đình Kiều bị mắc oan ra sao? Kiều phải làm gì để cứu cha?
Làm gì để không phụ tình Kim Trọng? Kiều bị bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh
lừa gạt, đẩy vào cuộc sống lầu xanh; Kiều đợc Thúc Sinh cứu ra khỏi lầu xanh; Kiều
trở thành nạn nhân của sự ghen tuông, bị Hoạn Th đày đoạ; Kiều trốn đến nơng nhờ
cửa Phật, Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà - Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ ha i;
Thuý Kiều đã gặp Từ Hải nh thế nào? Tại sao Từ Hải bị giết? Kiều bị Hồ Tôn Hiến làm
nhục ra sao? Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đờng, đợc s Giác Duyên cứu.
-
Đoàn tụ:
Kim Trọng trở lại tìm Kiều nh thế nào? Tuy kết duyên cùng Thuý Vân
nhng Kim Trọng chẳng thể nguôi đợc mối tình với Kiều; Kim Trọng lặn lội đi tìm
Kiều, gặp Giác Duyên, gặp lại Kiều, gia đình đoàn tụ; Chiều ý mọi ngời, Thuý Kiều
nối lại duyên với Kim Trọng nhng cả hai cùng nguyện ớc điều gì?
Đoạn trích
Chị em Thuý Kiều
nằm ở phần mở đầu tác phẩm.
Đoạn thơ này miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân. Với ngòi bút
tài hoa, khả năng vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với các điển tích, điển
cố, có thể nói Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung đợc những chuẩn mực về vẻ đẹp
của ngời phụ nữ trong xã hội xa, đó cũng có thể coi là chuẩn mực của cái đẹp trong
của văn học trung đại.
Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân trong tác
phẩm còn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả. Mặc dù "Mỗi ngời một
vẻ, mời phân vẹn mời" nhng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của Nguyễn Du dờng nh đã
dự báo những số phận khác nhau của hai chị em. Điều đó vừa thể hiện bút pháp miêu
tả nhân vật khá sắc sảo của Nguyễn Du nhng đồng thời cũng cho thấy quan niệm "tài
mệnh tơng đố" của ông.

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cời, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da.
Trong phần tả khái quát, vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều đã đợc miêu tả rất toàn vẹn,
tởng khó có thể ca ngợi hơn nữa. Trong bốn câu này, ba câu trên là lời khẳng định vẻ
đẹp "mời phận vẹn mời" kia. Thế nhng câu thơ thứ t thật sự khiến bạn đọc bất ngờ bởi
khả năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ. Tả một ngời con gái đẹp mà "Khuôn trăng
đầy đặn, nét ngài nở nang" là đã đạt đến chuẩn mực, thêm "Hoa cời, ngọc thốt, đoan
trang" thì nghe chẳng khác gì những tiếng trầm trồ của một ngời đang đợc chiêm ng-
ỡng một vẻ đẹp cha từng có. Thế mà vẫn cha hết, ngời con gái ấy còn đẹp đến mức
"Mây thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da" thì vẻ đẹp ấy còn vợt lên trên cả vẻ đẹp của
thiên nhiên. Đó là một sự khác thờng bởi nếu chúng ta đọc lại thơ ca trung đại, thậm
chí đọc cả ca dao dân ca, vẻ đẹp của con ngời cùng lắm cũng chỉ sánh ngàng với vẻ
đẹp của thiên nhiên mà thôi:
Cổ tay em trắng nh ngà
Đôi mắt em sắc nh là dao cau
21
Miệng cời nh thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu nh thể hoa sen...
Rõ ràng là Thuý Vân rất đẹp, một vẻ đẹp khá sắc nét nhng vẫn hồn hậu, thuỳ mị.
Giả sử đợc ngắm một ngời con gái nh vậy, ngời ta thờng nghĩ đến hạnh phúc, đến một
cuộc sống ấm áp, êm đềm.
Đọc đoạn miêu tả Thuý Vân, ta đã có thể thấy đợc cái tài, cái khéo của Nguyễn Du
trong việc sử dụng từ ngữ. Thế nhng việc miêu tả Thuý Vân mới chỉ là bớc đệm để tác
giả miêu tả Thuý Kiều. Một lần nữa, tác giả lại khiến bạn đọc phải sửng sốt vì năng lực
miêu tả của mình:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Các giá trị thẩm mĩ tởng nh đã đợc đẩy lên đến tận cùng của các giới hạn nhng rồi

cha phải là yếu tố duy nhất, tài năng của Kiều còn là một sự thách thức khác nữa:
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thơng, lầu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trơng.
Trong
Truyện Kiều
, Nguyễn Du không chỉ cho rằng nhan sắc là một cái hoạ tiềm
ẩn đối với ngời phụ nữ ("hồng nhan bạc mệnh") mà còn nhiều lần nhấn mạnh: tài năng
cũng là một cái hoạ khác:
- Trăm năm trong cõi ngời ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
- Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen...
Thuý Kiều vừa có tài lại vừa có sắc, hơn nữa, cả hai yếu tố đều nổi bật đến mức cây
cỏ còn phải ghen tức, oán giận... Xét trên nhiều yếu tố, có thể nói qua cách miêu tả,
Nguyễn Du đã ngầm báo trớc những điều không may sẽ xảy đến với ngời con gái này.
Hãy nghe tiếng đàn của Kiều, đó không phải là những âm thanh nhàn tản, thảnh thơi:
Khúc nhà tay lựa nên chơng
Một thiên "bạc mệnh" lại càng não nhân.
Có thể cho là Kiều chỉ vô tình, nhng bài nhạc mà nàng đã lựa chọn, đã thể hiện nó
trong tiếng đàn sầu não kia cho thấy rằng, đó là một ngời con gái rất đa sầu đa cảm.
Theo quan niệm từ xa xa, đây cũng là một yếu tố tạo nên số phận đau khổ của con ng-
ời. Những sự biến sau này của cuộc đời Kiều (gặp Đạm Tiên, phải bán mình chuộc
cha, gặp Thúc Sinh, gặp Từ Hải,...) đều chứng tỏ sự miêu tả của Nguyễn Du về Thuý
Kiều là hoàn toàn có ngụ ý.
Đoạn cuối nh lời vĩ thanh, Nguyễn Du để cho lời thơ buông trôi, nhấn mạnh phẩm
chất gia giáo của Thuý Kiều.
Đoạn miêu tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du dành đến 24 câu thơ,
trong đó có bốn câu tả khái quát, bốn câu tả Thuý Vân, còn đến 16 câu chỉ để nói về

giả sử dụng trong các cấu trúc danh từ, động từ, tính từ,... góp phần đắc lực trong việc
thể hiện một khung cảnh lễ hội rộn ràng màu sắc, âm thanh, hình ảnh. Hầu hết các câu
thơ đều đợc ngắt theo nhịp đôi (2/2) cũng là một yếu tố gợi tả khung cảnh nhộn nhịp,
đông vui của lễ hội.
Đó là một lễ hội đã có từ xa xa. Mặc dù ngày nay đã không còn phổ biến nhng qua
những câu thơ tả cảnh của Nguyễn Du, ngời đọc có thể hình dung rất rõ khung cảnh
náo nức, nhộn nhịp của lễ hội ấy.
3. Sáu câu thơ cuối diễn tả cảnh chị em Thuý Kiều trên đờng trở về. Một khung
cảnh yên tĩnh, êm ả, dờng nh đối lập với cảnh lễ hội lúc trớc. Vẫn có những từ láy đôi
24
nhng hầu nh chỉ còn là những tính từ:
tà tà, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ,...
Không
gian vì thế trở nên yên tĩnh lạ thờng, không còn cảnh ngời đi kẻ lại tấp nập (đợc thể
hiện chủ yếu qua những danh từ, động từ ở đoạn trớc), không còn ríu rít tiếng nói cời.
Thủ pháp
tả
đã đợc thay bằng thủ pháp
gợi.
Những tính từ
tà tà, thanh thanh, nao
nao, nho nhỏ
không chỉ gợi lên một không gian êm đềm mà còn thể hiện khá rõ tâm
trạng của chị em Thuý Kiều. Có cái gì mơ hồ nh là sự bâng khuâng, nuối tiếc. Lòng ngời
hoà trong cảnh vật, nh đang lắng lại cùng cảnh vật.
4. Qua đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều đi du xuân trong tiết Thanh minh, ta có
thể thấy rất rõ nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du. Yếu tố quan trọng
trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ấy là nghệ thuật sử dụng từ ngữ. Bằng cách sử
dụng hệ thống từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình, giàu sức gợi tả theo những mật độ
khác nhau và phơng thức khác nhau, Nguyễn Du đã phác hoạ những bức tranh phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status