một số yếu tố hình thức nghệ thuật gần gũi, quen thuộc và dễ vận dụng đối với học sinh thcs trong phân tích tác phẩm văn học - Pdf 28

Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đọc tác phẩm văn học, trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức thể
hiện cụ thể của nó: ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ nghệ thuật hiểu theo nghĩa rộng,
không chỉ là những từ ngữ mà đó còn là các kiểu câu, là những dấu câu và cách
ngắt nhịp, là vần, là giọng điệu, là sự tổ chức bố cục và kết cấu các chương,
đoạn trong tác phẩm văn học,… Phân tích tác phẩm văn học không được thoát ly
văn bản có nghĩa là trước hết phải biết nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội
dung. Trong phạm vi nhà trường THCS, chúng ta chỉ xem xét một số yếu tố
hình thức nghệ thuật gần gũi, quen thuộc và dễ vận dụng đối với học sinh. Với
đề tài này tôi chỉ xin đề cập đến một số yếu tố hình thức nghệ thuật trong việc
gảng dạy một tác phẩm thơ.
II. NỘI DUNG:
A. Những yếu tố cần chú ý khi phân tích:
1. Yếu tố ngữ âm.
a. Dấu câu
Bình thường, dấu câu chỉ có chức năng về ngữ pháp (để ngắt các thành
phần câu và ngắt các câu với nhau). Nhưng trong một số trường hợp, nếu nhà
văn dùng có dụng ý và dùng hợp lý thì dấu câu cũng có giá trị biểu đạt ý nghĩa
(ý nghĩa bổ sung, tức giá trị tu từ). Nhà văn Tô Hoài coi dấu câu là một loại
“từ”, là hình thức của chữ trong tác phẩm là vì thế. Ví dụ trường hợp dùng dấu
câu ba chấm để diễn tả sự im lặng. Chúng ta biết rằng trong những tình huống
giao tiếp thông thường của cuộc sống, im lặng nhiều khi lại nói được rất nhiều:
khi căm thù tột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn bả, lúc xúc
động dâng trào… Những cung bậc tình cảm này nhiều khi không thể mô tả được
bằng lời. Ví dụ dấu ba chấm trong đoạn thơ sau diễn tả sự im lặng thiêng liêng
của khoảnh khắc Bác Hồ đặt chân lên đất nước sau ba mươi năm xa cách:
Ôi! Sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… Im lặng. Con chim hót.
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ…

thiết tha, một sự nuối tiếc đến xót xa do cái dấu chấm giữa dòng ấy tạo ra. Dấu
câu ở đây không chỉ là để tách ý, tách nghĩa mà còn để thể hiện thế giới nội tâm
của nhà thơ, phần không mô tả bằng lời.
Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 2
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
Tuy nhiên, nhiều khi ngắt nhịp còn được thể hiện không bằng dấu câu, mà
bằng một hình thức tổng hợp, phức tạp, và khi đó câu thơ có thể được hiểu ở
nhiều nghĩa do cách ngắt nhịp khác nhau. Chẳng hạn, câu thơ Tố Hữu:
Càng nhìn ta lại càng say
có thể ngắt nhịp 2/4:
Càng nhìn/ ta lại càng say
nhưng cũng có thể ngắt nhịp 3/3:
Càng nhìn ta/ lại càng say
và khi ấy ý nghĩa của nó cũng khác đi.
Câu thơ của Xuân Diệu:
Một chiếc xe đạp băng vào bóng tối
cũng có ít nhất 2 cách ngắt nhịp:
Một chiếc xe/ đạp băng vào bóng tối
và:
Một chiếc xe đạp/ băng vào bóng tối
Hai cách ngắt nhịp ấy cùng diễn tả một “sự tình” nhưng sắc thái khác nhau.
Nhiều trường hợp, sự xuống dòng liên tục, sự ngắt nhịp liên tục, đột ngột
của tác giả có một dụng ý hay đúng hơn có một ý nghĩa, một tác dụng trong việc
thể hiện nội dung.
Tóm lại khi tiếp xúc với một bài thơ, nhất là khi đọc bằng mắt, chúng ta cần
lưu ý đến hình thức dấu câu và xem cách ngắt nhịp của tác giả có gì đặc biệt.
Làm như thế, trước hết là để đọc cho đúng, cho diễn cảm và sau đó hãy phân
tích và chỉ ra ý nghĩa cũng như tác dụng của hình thức ấy trong việc biểu hiện
nội dung. Cũng cần lưu ý thêm rằng, dấu câu và ngắt nhịp không chỉ quan trọng
đối với riêng thơ mà ngay cả với văn xuôi cũng thế.

(Tố Hữu)
Ở đây vần chính là an (tan, tràn, đàn) nhưng bên cạnh đó, nhà thơ còn sử
dụng rât nhiều vần khác (lan/tan, dương/sương, trắng/nắng, vọng/giọng). Trong
bốn câu thơ, hàng loạt các vần liên tiếp xuất hiện, tạo ra một khúc nhạc ngân
nga, diễn tả một niềm vui phơi phới như muốn hát lên trong lòng nhà thơ khi
đứng trước mùa xuân của đất nước Ba Lan.
Tiếng Việt có sáu thanh: ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng. Các thanh này có sự
đối lập nhau. Nếu đối lập nhau về độ cao ta có nhóm thanh cao: ngang, ngã, sắc
và nhóm thanh thấp: huyền, hỏi, nặng. Nếu đối lập về đường đi của thanh điệu
khi phát âm thanh đi thẳng thì ta có nhóm thanh bằng gồm thanh ngang và thanh
huyền; nếu đi gấp khúc thì ta có nhóm thanh trắc gồm các thanh hỏi, ngã, sắc,
nặng.
Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 4
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
Sự phối hợp luân phiên bằng, trắc tạo nhạc tính cho câu thơ. Bình thường
trong các câu thơ, những thanh bằng, trắc đan xen nhau, phối hợp với nhau,
nhưng khi cần mô tả, khắc sâu một ấn tượng, một cảm xúc, một tâm trạng theo
một cung bậc tình cảm nào đó, các nhà thơ có thể sử dụng liên tiếp cùng một
loại thanh điệu trong một câu thơ (khi đó thanh điệu các thanh bằng hoặc toàn
thanh trắc tạo nên những âm hưởng lạ, có giá trị nhấn, có giá trị tu từ).
Những câu thơ sau dùng toàn cạnh một nội dung nào đó:
Vỏ câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh
(Nguyễn Du)
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
(Quang Dũng)
Có khi hai loại thanh này lại sóng đôi trong hai câu thơ tạo nên thế đối lập
tương phản:
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)

Ngôn từ là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ, và cũng là chất
liệu quan trọng nhất để xây dựng tác phẩm văn học. Các phương tiện như dấu
câu, nhịp
Thứ nhất: Phân tích tác phẩm không thể thoát ly hoặc coi nhẹ yếu tố từ
ngữ. Người ta nói nhiều đến chuyện phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học.
Bởi vì cách nói của văn học, cách thể hiện của văn chương là cách nói, cách viết
bằng hình ảnh. Nhưng hình ảnh trong tác phẩm văn học là gì. nếu không phải là
do hệ thống từ ngữ tạo nên? Vì thế, phân tích hình ảnh thực ra là phân tích từ
ngữ. Câu thơ của Nguyễn Du tả chân dung Tú Bà:
Nhác trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao
(Truyện Kiều)
đã vẽ chính xác thần thái của mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người. Ta
cũng thấy thái độ của tác giả đối với loại người như thế. Chữ nhờ nhợt lột tả rõ
nét nhất chân dung của Tú Bà. Thật khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: vừa
bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bủng chăng? Có lẽ chỉ có thể nói như Nguyễn
Công Hoan: bộ mặt “thiếu vệ sinh”.
Hệ thống từ ngữ gợi hình ảnh, gợi cảm giác trong tiếng Việt rất phong
phú, đa dạng: gợi về thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác.
Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 6
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
Muốn phân tích tốt từ ngữ, trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (nghĩa
chung và nghĩa trong văn cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩa để trả lời các
câu hỏi:
- Tại sao tác giả dừng từ ngữ này mà không dùng từ ngữ khác?
- Tại sao từ ngữ này xuất hiện nhiều như thế?
- Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ ấy? Có thể thay từ ngữ ấy bằng một từ
ngữ khác được không?
- Trong câu ấy, đoạn ấy có những từ ngữ cần lưu ý, cần phân tích? (trong
một đoạn thơ, một bài thơ không phải từ nào, câu nào cũng đáng phân tích, cũng

tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần là chỉ gọi được tên, liệt kê các biện pháp
mà nhà thơ đã dùng. Trong thực tế nhà thơ dùng nhiều tà sáng tạo bằng nhiều
cách khác nhau, khó có thể khuôn vào một công thức nào để định giá đạt hay
không đạt, hay hoặc không hay. Phải xét các từ ngữ đó trong hệ thống, tương
quan với các từ ngữ khác trong câu, đoạn, toàn bài có phù hợp không, cách dùng
có mới mẻ không Hãy xem Nguyễn Du viết:
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa giữa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Phép so sánh tu từ được sử dụng để so sánh tiếng đàn của Thúy Kiều với tiếng
hạc, tiếng suối, tiếng gió thoảng, tiếng trời đổ mưa. Quả là một sự so sánh khá
tài tình những cung bậc của tiếng đàn khi trong veo, lúc khoan thai, khi dồn dập,
lúc réo rắt người đọc có thể cảm nhận bằng cả thính giác lẫn thị giác.
Trong bài thơ Ngắm trăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân hóa ánh trăng, biến
trăng thành người bạn tri kỷ:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Nhờ phép nhân hóa mà thiên nhiên trong bài thơ trở nên gần gũi sống
động hơn, có hồn hơn và gắn bó với con người hơn.
Với Nguyễn Khoa Điềm thì phép tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu thơ:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
Từ mặt trời trong câu thơ thứ hai chỉ em bé trên lưng mẹ. Ẩn dụ này đã thể
hiện sự gắn bó của đứa con với người mẹ, đó là ánh sáng là nguồn sống, nguồn
nuôi dưỡng niềm tin ,sức mạnh của mẹ vào ngày mai.
Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 8
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
Hay cách sử dụng phép điệp ngữ “ Tiếng gà trưa” trong bài thơ Tiếng gà
trưa của Xuân Quỳnh đã tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật khá đặc sắc : Vừa

Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 9
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
Trường hợp câu thiếu nòng cốt(câu rút gọn) cũng rất thường gặp. Ví dụ hai
câu kết trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Hay câu thơ thứ báy bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, chỉ có một từ:
Đồng chí !
và ta thấy câu này không rõ đâu là chủ ngữ đâu là vị ngữ (câu đặc biệt).
Trong nhiều trường hợp câu thơ và câu xét về mặt ngữ pháp “ chuẩn”
( tạm thời gọi là “câu ngữ pháp”) không trùng nhau. Có những câu thơ chưa là
“câu ngữ pháp”, ngược lại có khi một câu thơ gồm 2,3 “ câu ngữ pháp”:
Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
( Chế lan Viên)
Bác về Im lặng Con chim hót.
( Tố Hữu)
Có khi cả một khổ thơ (4 dòng thơ) mới đủ một “câu ngữ pháp”
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ.
( Tố Hữu)
Không phải tất cả những câu thơ không trùng với “câu ngữ pháp” đều có
giá trị tu từ, nhưng gặp nó, người phân tích cần để ý, nhất là khi nó có sự bất
thường đặc biệt, nó có thể có giá trị tu từ nào đó.
4. Thể thơ:
Thơ có nhiều thể: lục bát, đường luật, song thất lục bát,thơ tự do chia làm
các loại lớn như tự sự, trữ tình . Mỗi loại và thể trên đều có những đặc điểm
riêng về nội dung và nghệ thuật và có sự biến đổi qua mỗi thời đại.
Thơ trữ tình là sự thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Vì thế

Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?
Có thể nói để thành công trong việc phân tích một bài thơ với những yếu
tố hình thức nghệ thuật đặc sắc quả không dễ chút nào nhưng với thực tế giảng
Giáo viên: Phan Thị Lâm Lý – THCS Hải Đình Trang 11
Vận dụng hiệu quả chuyên đề khai thác một số yếu tố hình thức cần chú ý khi phân tích một tác phẩm thơ
dạy tôi đã đúc rút được cho mình được những bài học kinh nghiệm trong việc
giảng dạy môn Ngữ văn đặc biệt là phần thơ.
B. Những kết quả bước đầu và một số vấn đề đúc rút được.
Đây mới chỉ là một số yếu tố, với phần đọc – hiểu văn bản trong chương
trình ngữ văn THCS, đặc biệt là thơ. Tôi nhận thấy trong quá trình giảng dạy
giáo viên cần xác định những yếu tố cơ bản cần thiết giúp HS tiếp xúc, tìm hiểu
tác phẩm dưới góc độ nghệ thuật để đạt hiệu quả hơn.
* Về giáo viên:
Cần nghiên cứu bài giảng một cách chu đáo để định hướng phương pháp.
Sáng tỏ và chủ động hơn trong vai trò hướng dẫn HS chủ động tìm hiểu văn
bản để tích lũy thêm kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy.
Cũng là cách để rèn luyện, bồi dưỡng năng lực tư duy phân tích…
* Về học sinh:
Biết cách tìm hiểu một tác phẩm văn học để phát hiện ra cái hay cái đẹp về
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Bước đầu nhận biết được nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của mỗi
tác giả.
Biết phát hiện những dấu hiệu nghệ thuật nổi bật trong văn bản
Bồi dưỡng thêm cho học sinh tâm hồn, tình cảm, năng lực tư duy
* Từ thực tế đó tôi xin mạnh dạn đúc kết một số vần đề sau:
1. Giáo viên cần nhận thức sâu sắc về yêu cầu của môn học cũng như yêu
cầu xã hội hiện nay. Phải tôn trọng đặc trưng bộ môn – đặt trong mối quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status