BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LÊ THỊ HOÀI THANH
QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 5 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LÊ THỊ HOÀI THANH
QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 8319042
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Đào Mạnh Hùng
Hà Nội, 2018
Công nghiệp hóa
GS
Giáo sư
HĐH
Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
NTBD
Nghệ thuật biểu diễn
NSND
Nghệ sĩ nhân dân
NSƯT
Nghệ sĩ ưu tú
NTQC
Nghệ thuật quần chúng
Văn hóa, thể thao và du lịch
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……………………………………………………...……………....
1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU
DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU …………….
9
1.1. Khái quát về nghệ thuật và hoạt động BDNT…………...
9
1.1.1. Khái niệm……………………………………………………..
9
47
2.2.1. Ban hành và thực thi hệ thống chính sách …………………...
47
2.2.2. Đầu tư cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật .............................
48
2.2.3. Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt động BDNT...
53
2.3. Thực trạng hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Ninh Bình …….
54
2.3.1 Hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ………………
54
2.3.2. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng ............................
66
2.4. Đánh giá công tác quản lý hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình...
72
84
3.4. Xu thế của hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình ……..................
90
3.5. Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BDNT ở
tỉnh Ninh Bình ……………………………………………………...
92
3.5.1. Nhóm giải pháp về công tác quản lý nhà nước……………….
93
3.5.2. Giải pháp trong quản lý hoạt động BDNT chuyên nghiệp …..
102
3.5.3. Giải pháp đối với hoạt động nghệ thuật quần chúng…………
111
Tiểu kết chương 3 …………………………………………………..
113
KẾT LUẬN …………………………………………………………
114
tinh hoa văn hóa nhân loại và phát triển hơn nữa giá trị tinh túy văn hóa dân
tộc Việt Nam ngàn đời lưu giữ thì hoạt động nghệ thuật cũng có lối đi riêng
của mình. Những giá trị văn hóa đích thực của nhân loại sẽ được tiếp thu,
còn biểu hiện chưa đẹp, phản cảm sẽ bị loại ra khỏi dòng chảy phát triển.
Để đạt được kết quả đó, vai trò của quản lý về hoạt động biểu diễn nghệ
thuật rất quan trọng, nó góp phần định hướng cho thẩm mỹ nghệ thuật đặc
biệt là của giới trẻ đi đúng hướng, xu thế của xã hội với quan điểm lấy
Chân - Thiện - Mỹ làm gốc rễ của sự phát triển.
2
Ninh Bình là vùng đất cố đô có bề dày văn hoá - lịch sử hàng nghìn
năm. Văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang
sắc thái vùng miền do yếu tố hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn minh. Với
nền móng lịch sử văn hóa, nghệ thuật lâu đời của dân tộc nói chung và tỉnh
Ninh Bình nói riêng, hoạt động văn học nghệ thuật tỉnh đã đóng góp to lớn
vào sự nghiệp xây dựng tỉnh Ninh Bình trong các cuộc kháng chiến và
trong công cuộc đổi mới hiện nay, đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng đời
sống văn hoá cơ sở.
Lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật có vai trò quan trọng trong đời sống
văn hóa, góp phần giáo dục, định hướng về thẩm mỹ, lối sống của người
xem, nhất là thế hệ trẻ. Đây cũng là một trong những phương tiện biểu đạt
truyền thống văn hóa, hình ảnh con người Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh
Bình nói riêng, góp phần tích cực trong việc giao lưu, hợp tác quốc tế về
văn hóa. Trong những năm qua, hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn
nghệ thuật chuyên nghiệp tỉnh Ninh Bình đã góp phần làm cho các loại
hình nghệ thuật phát triển, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung,
nhiều chương trình nghệ thuật có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu thưởng
thức nghệ thuật của nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc quản lý về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
ở các cấp nói chung và trên từng địa bàn cụ thể nói riêng đòi hỏi cần phải
được làm sáng tỏ. Chính vì thế mà vấn đề này đã và đang thu hút sự quan
tâm của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu. Có thể khái quát một số đề tài
liên quan đến luận văn đáng chú ý:
- Lê Thị Thu Hiền (2009), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
sân khấu truyền thống ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [23]. Luận văn
Thạc sĩ. Tác giả trình bày những vấn đề chung và thực trạng quản lý nhà
nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Bộ Văn Hóa, Thể
4
Thao và Du Lịch. Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả cho
hoạt động này.
- Trần Thục Quyên (2006), Quản lý hoạt động Biểu diễn nghệ thuật
tại Nhà hát Tuổi trẻ [36]. Luận văn Thạc sĩ quản lý Văn hóa. Tác giả trình
bày cơ sở lý luận hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng như nêu lên thực trạng
quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi Trẻ. Qua đó đề xuất
một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
tại Nhà hát Tuổi trẻ.
- Phạm Tuấn Anh (2013), Quản lý Nghệ thuật biểu diễn chuyên
nghiệp ở Thái Bình [1]. Luận văn Thạc sĩ quản lý Văn hóa. Tác giả trình
bày cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
chuyên nghiệp ở Thái Bình. Từ đó đưa ra những giải pháp cho nghệ thuật
biểu diễn ở Thái Bình phát triển phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay.
- Nguyễn Thanh Xuân (2017), Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ
chức nghệ thuật biểu diễn công lập trên địa bàn Hà Nội [48]. Luận án Tiến
sĩ. Tác giả đã hệ thống các lý thuyết về tạo động lực để tạo ra đòn bẩy hiệu
quả công việc, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong
tác tổ chức NTBD hiện nay, nhận diện bảy hiệu quả trong quản lý nguồn
Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy định về
biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và người mẫu;
Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu. Luận
văn của tác giả sẽ nghiên cứu về nội dung “Quản lý hoạt động biểu diễn
nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
ở tỉnh Ninh Bình và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lý lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh trong thời
gian tới.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước trên lĩnh
vực biểu diễn nghệ thuật, đặc điểm, nội dung, thực trạng quản lý nhà nước
về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật cấp tỉnh trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tỉnh và đất nước.
- Khảo sát, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý về
biểu diễn nghệ thuật của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua, tìm nguyên
nhân tồn tại.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc
phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả quản lý về biểu diễn nghệ thuật trên
địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của một địa phương cấp tỉnh, trong
trường hợp cụ thể là tỉnh Ninh Bình bao gồm toàn bộ hoạt động biểu diễn
nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp (nghệ thuật quần
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý
luận chung quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đối với cấp tỉnh.
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực biểu diễn nghệ
thuật trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Đề xuất một số phương hướng, giải pháp
nhằm giúp cho việc quản lý nhà nước về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật ngày
một tốt hơn trong thời gian tới.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu chuyên
về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, đây là lĩnh vực được nhiều người quan tâm
nhưng nếu không có sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan quản lý
8
nhà nước dễ phát sinh tiêu cực, vi phạm và gây tác động, ảnh hưởng xấu, lâu
dài tới đạo đức, văn hóa của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn gồm 3 chương.
Chương 1: Khái quát về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và địa
bàn nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở tỉnh
Ninh Bình.
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu, giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình.
9
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp
luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực, tính tổ chức chặt chẽ;
đặc điểm pháp lý của quan hệ quản lý là sự không bình đẳng giữa các bên
trong quan hệ quản lý, chính vì vậy trong quản lý nhà nước mọi mệnh lệnh,
quyết định quản lý luôn mang tính đơn phương một chiều, bắt buộc thực
hiện và khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế
thi hành. Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý phải được chấp hành nghiêm
túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm mọi sự vi
phạm, chấp hành không nghiêm túc.
Quản lý nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và
kế hoạch để thực hiện mục tiêu: đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan nhà nước
phải xác định rõ mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của
cấp trên và đường lối chính sách của Đảng. Quản lý nhà nước là hoạt động
dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có
tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý.
Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế
hoạch của cấp trên và đường lối chính sách của Đảng.
Quản lý nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong
hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe, tiếp thu ý
kiến nhân dân. Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại
trật tự kỷ cương trong tình hình văn hóa – xã hội hiện đang có nhiều lộn
xộn. Đặc biệt, trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, trong bối cảnh
11
nền kinh tế toàn cầu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ
tình cảm đến với tình cảm và trở thành bảo tàng sống của dân tộc” [11,
tr.265]. Như vậy, có thể thấy vai trò của người nghệ sĩ là rất quan trọng, họ
là người sáng tạo nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật giúp khán
giả nhận thức sâu sắc hơn về hiện thực đời sống xã hội.
Theo Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ
quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và
người mẫu; Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân
khấu: “Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn
trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn. Loại hình nghệ thuật biểu
diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói,
kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu
hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác”.
Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam được hình thành và phát triển cùng
tiến trình lịch sử của đất nước. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nghệ
thuật biểu diễn đã phản ánh sinh động nhiều phương diện của đời sống xã
hội, luôn bám sát cuộc sống, phục vụ nhiệm vụ chính trị. Đặc biệt trong
công cuộc đổi mới đất nước, thông qua các loại hình của nghệ thuật biểu
diễn để đấu tranh những mặt tiêu cực của xã hội, những tư tưởng thù địch
đồng thời ca ngợi sự nghiệp xây dựng đất nước và hướng con người tới
những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp.
1.1.1.5. Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật là sự tác động
của chủ thể quản lý đối với tập thể và cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện
13
các nhiệm vụ về hoạt động nghệ thuật biểu diễn để đạt được mục tiêu, kế
hoạch đặt ra.
Quản lý nhà nước về hoạt động BDNT là một bộ phận hữu cơ trong
toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa. Nhà nước giữ vai trò quan
Nghệ thuật biểu diễn quần chúng là hoạt động nghệ thuật không
chuyên nghiệp, được tổ chức và thực hiện bởi các nhóm nghệ sĩ được tập
trung theo mùa vụ từ các cơ quan đơn vị khác nhau, không được đầu tư từ
ngân sách Nhà nước, các diễn viên là những người không chuyên nghiệp,
không trong biên chế của Đoàn nghệ thuật Nhà nước. Hoạt động nghệ thuật
biểu diễn không chuyên là hoạt động nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị
của địa phương, không có doanh thu, với quy mô nhỏ, đơn giản, gọn nhẹ.
1.1.2. Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động BDNT
1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động BDNT
Hoạt động của biểu diễn nghệ thuật chủ yếu thuộc loại hoạt động
sáng tạo, trên lĩnh vực tinh thần, tác động đến trí tuệ, tâm hồn con người.
Nó là kết quả của lao động trí tuệ, cơ bắp, tạo dựng những tác phẩm nghệ
thuật từ các chất liệu ngôn ngữ khác nhau, như chữ viết, âm thanh, màu
sắc, ánh sáng, hình khối, hành động, tiếng nói…Thông qua các chất liệu và
hình thức nghệ thuật riêng biệt hoặc tổng hợp, người nghệ sỹ với tài năng
sáng tạo độc đáo sẽ tạo nên những thế giới nghệ thuật mang các đặc trưng
hình tượng thẩm mỹ vô cùng đa dạng, phong phú cho nhu cầu đời sống văn
hóa tinh thần của con người. Đồng thời, giống như các loại hình nghệ thuật
khác thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, biểu diễn nghệ thuật cũng là một
bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, do vậy, BDNT với tư cách là sản
phẩm bao gồm những đặc điểm sau:
BDNT cũng mang đầy đủ những đặc tính sản phẩm, lao động cụ thể
và lao động trừu tượng tạo nên giá trị của sản phẩm. Tuy nhiên sản phẩm
này còn có những nét đặc trưng riêng so với các sản phẩm thông thường
khác ở chỗ:
15
- Các nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm này không chỉ ở dạng
vật thể mà còn ở dạng phi vật thể (như kiến thức, quan điểm, tư tưởng, đạo
tăng lên [28, tr.36]. Điều đó chứng tỏ, các sản phẩm của BDNT là một loại
hàng hóa đặc biệt, không thể chỉ tính toán, hoạch toán lỗ lãi theo cách
thường làm với các sản phẩm hàng hóa thuần túy thông thường khác. Bởi
lẽ, nếu giá trị của hàng hóa thể hiện thông qua giá cả, thì đối với sản phẩm
của BDNT, giá cả thường không thu được phí sử dụng như đối với một cây
cầu, hay một đoạn đường. Kết quả hoạt động BDNT không chỉ thể hiện ở
dạng giá trị bằng tiền (doanh thu, lỗ, lãi đơn thuần) mà một phần quan
trọng ở dạng khó quy ra giá trị bằng tiền (như truyền thống, đạo đức, thẩm
mỹ…). Nếu chỉ tính toán, hoạch toán theo cách thông thường như vậy thì
một mặt sẽ không phản ánh đầy đủ các chi phí làm ra sản phẩm, mặt khác
sẽ rất khó có những sản phẩm tầm cỡ, có chất lượng. Trong lợi ích, BDNT
không chỉ tác động trực tiếp tới người hưởng thụ mà còn lan tỏa ra xung
quanh, cho cả những người không mua hoặc không muốn mua. Thực tế
trong những năm gần đây, hoạt động BDNT sản xuất khá nhiều các sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội, nhưng trong đó còn hiếm những sản
phẩm đáp ứng tốt yêu cầu bồi dưỡng, giáo dục và phát huy phẩm chất văn
hóa tốt đẹp của con người Việt Nam.
Đồng thời, cũng chính vì tính đặc biệt này của sản phẩm BDNT khiến
nó thuộc loại hàng hóa công cộng, hàng hóa khuyến dụng. Điều này nghĩa
là, hàng hóa đó một khi đã được cung ứng cho một người này thì có thể
được cung cấp cho những người khác và xã hội nghĩ rằng mọi người dân nên
tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi nữa.
Là lĩnh vực hoạt động sản xuất tinh thần, các sản phẩm văn hóa nói
chung và BDNT nói riêng luôn mang trong nó các mặt tri thức, tư tưởng,
tình cảm, tâm hồn, đạo đức… biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân
tộc. Chính giá trị văn hóa ẩn giấu bên trong các sản phẩm cụ thể mà nhiều
sản phẩm văn hóa trong đó có BDNT cùng với thời gian ngày càng trở nên
17
18
người, đã khẳng định rõ chức năng của mình trong sự phát triển của
đời sống xã hội [42, tr.11].
- Chức năng nhận thức:
Nhận thức là đặc tính phân biệt con người với các sinh vật khác.
BDNT trang bị cho con người những tri thức cần thiết để làm chủ thiên
nhiên, làm chủ xã hội và bản thân. BDNT chính là tấm gương phản ánh
cuộc sống. Thông qua BDNT con người có thể tự chiêm ngưỡng về mình:
mình đã sinh ra, tồn tại, vận động, phát triển qua những thời kỳ nào, đang
sống và khát vọng tới đâu. Vì cuộc sống ở trong BDNT là hiện thực ở cuộc
đời, được bắt nguồn từ cuộc đời, phụ thuộc vào quy luật của cuộc đời và
được nghệ sỹ khái quát sáng tạo để nói về cuộc đời. Chức năng nhận thức
của BDNT không đơn thuần là phản ánh những tri thức của con người mà
còn hướng tới mục đích cao đẹp thể hiện tính nhân văn là bản chất của
BDNT. Nâng cao trình độ nhận thức của con người bằng BDNT là việc
phát huy những tiềm năng sáng tạo của con người. Tạo tiền đề quan trọng
để hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
- Chức năng giáo dục:
BDNT không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc đời, mà còn là cuốn
sách giáo khoa vĩ đại giảng giải cuộc đời về cái đẹp, cái xấu; cái thiện, cái
ác; cái thực, cái giả, cái tiên tiến, cái lạc hậu, cái mới, cái cũ, cái vui, cái
buồn… và giúp con người có sức mạnh, niềm tin để vươn lên cái cao cả,
hoàn thiện cuộc đời. Thông qua các tác phẩm, các hình tượng nghệ thuật,
BDNT đã tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất
con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo
chuẩn mực xã hội đề ra. BDNT làm cho con người đã biết lại biết được
nhiều hơn, đã hiểu lại hiểu được sâu hơn, đã tin lại càng tin hơn và làm cho
con người được lớn hơn cái bản thân họ vốn có. BDNT thực hiện việc giáo