BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
TRẦN VIỆT TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN
NGHỆ THUẬT TẠI ĐOÀN KỊCH NÓI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 5 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
TRẦN VIỆT TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN
NGHỆ THUẬT TẠI ĐOÀN KỊCH NÓI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8319042
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hường
Hà Nội, 2018
NSƯT
Nghệ sĩ ưu tú
NSXSTP
Nghệ sĩ xuất sắc thành phố
NTSK
Nghệ thuật sân khấu
Nxb
Nhà xuất bản
QĐ-TTg
Quyết định Thủ tướng
QĐ-UBND
Quyết định ủy ban nhân dân
SK
Sân khấu
Sở VHTT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐOÀN KỊCH NÓI HẢI PHÒNG ......................... 17
1.1. Một số khái niệm .................................................................................. 17
1.1.1. Nghệ thuật sân khấu .......................................................................... 17
1.1.2. Biểu diễn nghệ thuật.......................................................................... 19
1.1.3. Tổ chức biểu diễn nghệ thuật ............................................................ 20
1.1.4. Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ........................................... 20
1.1.5. Văn bản quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật ......... 22
1.2. Tổng quan về Đoàn Kịch nói Hải Phòng ............................................. 22
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển .................................................... 22
1.2.2. Đặc điểm hoạt động của Đoàn Kịch nói Hải Phòng ......................... 35
1.2.3. Vai trò quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật đối với Đoàn Kịch nói
Hải Phòng .................................................................................................... 37
Tiểu kết ........................................................................................................ 38
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN
NGHỆ THUẬT TẠI ĐOÀN KỊCH NÓI HẢI PHÒNG ............................. 39
2.1. Chủ thể quản lý nhà nước hoạt động biểu diễn nghệ thuật .................. 39
2.1.1. Cục Nghệ thuật biểu diễn .................................................................. 39
2.1.2. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng ................................. 40
2.1.3. Đoàn Kịch nói Hải Phòng ................................................................. 41
2.2. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn của Đoàn Kịch nói Hải Phòng .......... 43
2.2.1. Phục vụ nhiệm vụ chính trị ............................................................... 45
2.2.2. Phục vụ đời sống văn hóa của nhân dân thành phố .......................... 46
2.3. Công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Đoàn Kịch nói
Hải Phòng .................................................................................................... 47
2.3.1. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy có liên quan ..................... 47
3.3.1. Nhóm giải pháp về tổ chức ............................................................... 75
3.3.2. Nhóm giải pháp về chuyên môn........................................................ 77
3.3.3. Đổi mới phương thức quản lý ........................................................... 82
3.3.4. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa đối với nghệ thuật kịch nói .............. 83
3.3.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực................................................ 84
3.3.6. Xây dựng, thanh tra, kiểm tra cơ sở vật chất .................................... 86
3.3.7. Mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước .............. 89
Tiểu kết ........................................................................................................ 89
KẾT LUẬN ................................................................................................. 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 94
PHỤ LỤC .................................................................................................. 100
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật sân khấu nói chung và sân khấu kịch nói riêng chuyển tải
những giá trị đạo đức xã hội bằng yếu tố thẩm mỹ thông qua số phận của
từng nhân vật. Nghệ thuật sân khấu gắn với cuộc sống của thời đại, là tấm
gương phản chiếu hiện thực đời sống. Các tác phẩm sân khấu có vị trí quan
trọng trong việc chuyển tải các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức tới mọi đối
tượng trong xã hội. Chính vì vậy, các tác phẩm nghệ thuật sân khấu, các vở
kịch đã góp phần bồi dưỡng, xây dựng lối sống và đạo đức con người Việt
Nam trong suốt lịch sử phát triển nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam.
Kịch nói hay thoại kịch là môn nghệ thuật trình diễn dùng ngôn ngữ
để biểu đạt thay vì âm nhạc, động tác, hay vũ điệu, ngôn ngữ ở đây là ngôn
từ và động tác thường nhật rút từ cuộc sống, không phải những điệu múa
hay dáng bộ ước lệ [Từ điển Wikipedia]. Các tác giả Phan Kế Hoành và
Huỳnh Lý [20, tr. 26] đánh giá vở “ Chén thuốc độc" ra đời đã có tiếng
biệt là thành phố cảng Hải Phòng, trong khi đó cải lương thịnh hành ở miền
Nam do nếp sống, tâm lý và truyền thống âm nhạc của người dân bản xứ.
Mỗi vở kịch thường chỉ kéo dài trên dưới 3 giờ đồng hồ và còn tùy
kịch ngắn, kịch dài. Căn cứ vào nội dung kịch có thể chia thành các thể
loại: Hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch... Cũng có thể căn cứ vào nội
dung của các đề tài mà chia kịch thành: kịch cổ điển; kịch dân gian; kịch
thần thoại; kịch hiện đại.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,
kịch nói đã tỏ rõ sức mạnh, vai trò chủ yếu của loại hình nghệ thuật đại
chúng, như một loại vũ khí sắc bén len lỏi đến từng trận địa, chiến trường
của nhân dân ta thông qua các tác phẩm, vở kịch có nội dung ngợi ca cách
mạng, ý chí chiến đấu vì độc lập dân tộc cũng như phản ảnh sinh động mọi
khía cạnh của cuộc sống.
3
Nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay
vừa mang lại những thuận lợi nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức đối với
nghệ thuật sân khấu và sân khấu kịch nói. Nghệ thuật sân khấu còn tồn tại
xu thế “thương mại hóa” đi theo định hướng không đúng, nhiều yếu tố
thiếu sự lành mạnh, chính thống. Các đề tài truyền thống vắng bóng dần,
các đề tài kinh dị, bạo lực, tình ái chụp giật… nổi lên như một cứu cánh
xuất hiện. Một số vở kịch sân khấu có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy
theo hình thức và thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc. Tác
phẩm sân khấu phản ánh hiện thực đời sống mờ nhạt, vì vậy thời gian qua
không ít nhà hát, rạp chiếu bóng quạnh vắng, không có người xem, nhiều
nghệ sĩ không sống được với nghề nên đã bỏ nghề, đi tìm mưu sinh khác….
Đoàn Kịch nói Hải Phòng cũng nằm trong vòng quay chung đó. Được
thành lập sau ngày thành phố giải phóng vào năm 1965 từ một đội Kịch của
đoàn Văn công tổng hợp Hải Phòng, với đội ngũ diễn viên say nghề, sở hữu
tốt nhất, cần nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan như cơ chế, chính
sách của Đảng và Nhà nước, sự đóng góp của đội ngũ diễn viên, đạo diễn,
biên kịch, công tác quản lý hoạt động biểu diễn của Ban lãnh đạo nhà
hát, sự quan tâm của công chúng. Vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài
"Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Đoàn Kịch nói Hải Phòng",
mã ngành quản lý văn hóa với mong muốn góp một phần khiêm tốn cho
việc nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động biểu diễn tại Đoàn Kịch
nói Hải Phòng.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu nói chung và nghệ thuật kịch nói
nói riêng là những vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Cho đến
nay, đã có nhiều công trình dưới dạng sách, bài tạp chí, bài báo, luận án
tiến sỹ, luận văn thạc sỹ... bàn về các chủ đề này. Có thể tạm phân chia các
công trình thành hai nhóm chính như sau:
5
2.1. Các công trình về nghệ thuật sân khấu
Trước tiên, có thể kể tới công trình Đại cương nghệ thuật sân khấu
của tác giả Trần Trí Trắc. Ngoài các khái niệm cơ bản có liên quan đến
nghệ thuật sân khấu, tác giả trình bày nguồn gốc ra đời của nghệ thuật sân
khấu, những thành phần cơ bản của nghệ thuật sân khấu (kịch bản văn học,
nghệ sỹ biểu diễn, đạo diễn và khán giả). Bốn thành phần cơ bản đó tạo nên
bộ mặt và sức sống của nghệ thuật sân khấu và cũng là quá trình vận hành
của lịch sử, là thước đo của nghệ thuật sân khấu. Ông cho rằng nghệ thuật
sân khấu không thể thiếu bốn thành phần đó và càng không thể thiếu những
tài năng của bốn thành phần đó trong mối quan hệ thống nhất, hài hòa của
tác phẩm [45, tr.27].
Thực trạng đời sống sân khấu hiện nay ra sao là vấn đề được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Thành Nhân cho rằng thực trạng lớn nhất
phương hướng, kế hoạch, biên chế, tăng lương…., còn các nghệ sỹ phải
nghe theo nhà quản lý trong việc sáng tạo nghệ thuật, chế độ phân phối theo
lao động tất cả đều bình đẳng: là viên chức, công chức - những người làm
công ăn lương cho nhà nước… Tất cả điều này không tạo động lực thúc đẩy
lực lượng sản xuất nghệ thuật phát triển. Vì vậy, tác giả cho rằng muốn phát
triển trong bối cảnh hôm nay cần phải có sự thay đổi về chế độ quản lý theo
kinh tế thị trường, giao quyền tự chủ cho các bộ phận trong mọi công việc
như tìm và chọn lựa kịch bản, mời ekip sáng tạo vở diễn, lập kế hoạch biểu
diễn, chi phí cho công tác quảng cáo và tiếp thị. Ban lãnh đạo chỉ định
hướng công tác, nghiệm thu về sản phẩm, đánh giá kết quả. Để làm được
điều đó, vai trò của nhà quản lý rất quan trọng bởi họ là người trực tiếp nghĩ
ra những cách thức năng động để liên hệ biểu diễn, bán vé… để có nhiều
buổi diễn tăng thu nhập cho cán bộ, diễn viên. Còn bản thân đơn vị nghệ
thuật chỉ có thể bảo lãnh về mặt tư cách pháp nhân, định hướng, giám sát, hỗ
trợ với tinh thần có sự quản lý của nhà nước trong sự nghiệp phát triển văn
hóa nghệ thuật chung của xã hội [43, tr. 63-65]. Truy tìm sự sa sút của sân
7
khấu Việt Nam trong hai thập niên qua, tác giả Hoàng Bách Thành nhận
định 2 nguyên nhân: Thứ nhất, về nội dung các kịch bản, vở diễn của làng
kịch Việt Nam đã gần như né tránh những vấn đề bức xúc đang được người
xem quan tâm. Kịch thiếu hẳn sự phản ánh những mâu thuẫn lớn, những vấn
đề nóng, thiếu hẳn những thông điệp và những dự báo lớn. Thứ hai, trong
khi nền kịch thế giới đã có nhiều sự biến đổi cách tân trong hầu hết các khâu
để làm nên vở diễn từ kịch bản, cách dàn dựng, cách thể hiện, sử dụng các
yếu tố do tiến bộ kỹ thuật cho phép thì sân khấu của Việt Nam vẫn loay
hoay dậm chân tại chỗ, vẫn tự giam mình trong cách viết, cách chọn kịch
bản “an toàn” nghĩa là né tránh hiện thực, những vấn đề “nhạy cảm” đang
được dư luận nhân dân chú ý.
doanh nghiệp, các công ty, các tổ chức xã hội để “xin tài trợ” nhằm tạo
nên kịch mục hoặc chi phí cho những chuyến lưu diễn ở nước ngoài và
các chương trình phục vụ sinh viên, học sinh miễn phí. Cách làm này
mang tính cá nhân, không bền vững mà làm cho các nghệ sỹ vô cùng mệt
mỏi [47, tr.34-36]. Tác giả nhận định nghệ thuật sân khấu Việt Nam trong
cơ chế thị trường đang có nguy cơ suy thoái, tàn lụi, bế tắc, mờ mịt… vì
càng nuôi dưỡng thì càng thất thu, càng làm vở thì càng vắng khách. Sân
khấu cố tìm đến khán giả, thì khán giả càng xa cách hơn… các nhà hát thì
đóng cửa, diễn viên thì bỏ nghề hoặc kiếm thêm công việc khác. Để tìm ra
giải pháp của thực trạng sân khấu, chính là phải đi tìm nguyên nhân nội
tại của sân khấu: nhà quản lý, chính sách, cơ chế, tài năng nghệ sỹ, truyền
thống - hiện đại… và hướng tới nhận định quan trọng là sân khấu không
thể lấy khuôn mẫu từ thời bao cấp để định hình cho sự phát triển hôm nay,
sân khấu phải đổi mới tận gốc quan niệm về cách làm ăn cũ, vốn coi sân
khấu là thánh đường, hạ thấp trình độ của công chúng và sân khấu cần tôn
trọng khán giả, thay sự răn dạy bằng đối thoại, tranh luận. Sự khủng
hoảng về khán giả là một trong những nguyên nhân chính của khủng
hoảng sân khấu. Do đó, để giải quyết khủng hoảng khán giả hiện nay là
9
thị hiếu bởi thị hiếu biểu thị khả năng đánh giá, xúc cảm của khán giả và
gắn bó chặt chẽ với lý tưởng thẩm mỹ và trình độ dân trí [46, tr.105-106].
Cùng với chủ đề về khán giả, năm 2002 tác giả Hồng Hạnh đã điều
tra 601 người được hỏi sử dụng thời gian rỗi tại Hà Nội thì có tới 88,5% ý
kiến trả lời là để xem ti vi, 13,8% xem nghệ thuật tại rạp, bãi. Như vậy đa
số người Hà Nội đã chọn hình thức giải trí ngay tại nhà xem truyền hình.
Trong các chương trình truyền hình thì chương trình sân khấu có còn thu
hút người xem? Kết quả là người thích xem tuồng (19,3%), chèo 39,4 %,
kịch nói 39.9%, còn lại là các chương trình khác. Số liệu trên cho thấy cùng
trang thi người mẫu, người đẹp và dịch vụ văn hoá công cộng. Cuốn sách
này giới thiệu các nghị định của Chính phủ về quy chế hoạt động văn hoá
và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng; về biểu diễn nghệ thuật, trình
diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi
âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
Năm 2014, tác giả Phạm Phương Thùy có bài “Quản lý nhà nước đối
với hoạt động biểu diễn nghệ thuật”, đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
số 361, tr.23-26 [42]. Bài viết đề cập đến quan niệm về quản lý nhà nước
với hoạt động biểu diễn nghệ thuật, tầm quan trọng của quản lý hoạt động
biểu diễn nghệ thuật và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay.
Năm 2015, tác giả Nguyễn Hữu Hiệp bảo vệ thành công đề tài thạc
sĩ Quản lý hoạt động biểu diễn của Nhà hát Múa rối Việt Nam tại
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW [19]. Từ những hoạt động đã
và đang diễn ra tại Nhà hát múa rối Việt Nam, tác giả đã tìm hiểu những
tác động, ảnh hưởng của công tác quản lý nhà nước trong những hoạt
động này, để từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác quản lý tại đây.
Năm 2016, tác giả Lê Thị Hoài Phương biên soạn cuốn Quản lý hoạt
động nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường, Nxb Sân khấu xuất bản
[28]. Trên cơ sở tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn Việt Nam trong những
11
năm gần đây, cuốn sách đã trình bày nội dung quản lý nghệ thuật biểu diễn
trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam và nghiên cứu quá trình xã hội hoá hoạt
động nghệ thuật biểu diễn. Trong cuốn sách này, tác giả cũng giới thiệu
kinh nghiệm quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn ở Vương quốc Anh.
2.2. Các công trình về nghệ thuật sân khấu kịch
Về lịch sử du nhập và phát triển của kịch nói tại Việt Nam, tác giả
quyết tâm đổi mới kịch nói Việt Nam trong hình thức thể loại để tạo nên
tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật (chứ không chỉ trong nội dung phản
ánh), đó là các đạo diễn đã tiếp thu một số nguyên tắc hoặc thủ pháp của
kịch hát truyền thống Việt Nam và sân khấu phương Đông. Các thủ pháp tự
sự, ước lệ, cách điệu hóa đã được vận dụng sáng tạo, được kịch nói hóa
trong nhiều vở diễn đạt thành công cao. Qúa trình tiếp thu và vận dụng
sáng tạo các nguyên tắc và thủ pháp của kịch hát truyền thống trong kịch
nói Việt Nam diễn ra một cách thận trọng, chắc chắn. Tiến trình lịch sử đã
chứng tỏ các nghệ sỹ kịch nói Việt Nam luôn là những người có ý thức tự
cường cao, sẵn sàng dồn hết tâm sức của mình cho sự tìm tòi sáng tạo nghệ
thuật để có được một phong cách kịch nói Việt Nam đậm đà bản sắc dân
tộc, khẳng định được vị thế của kịch nói trong nghệ thuật sân khấu, đáp
ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân trong thời kỳ đổi mới
[7, tr. 70-72].
Ngoài tính dân tộc, kịch nói Việt Nam còn mang tính hiện đại, vấn
đề này được đề cập trong Luận án Tiến sỹ của Phạm Thị Hà “Tính hiện đại
trong kịch nói Việt Nam về đề tài lịch sử” đã được bảo vệ năm 2016 tại
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam [17].
Tác giả Đỗ Hương bàn về mối tương tác giữa kịch hát và kịch
nói.Theo tác giả, con đường chuyên nghiệp của kịch nói Việt Nam là sự
tiếp nhận tiến bộ sân khấu phương Tây hiện đại và ứng dụng tinh hoa kịch
hát truyền thống. Sự đa dạng hình thái miêu tả, sự linh hoạt trong ngôn ngữ
13
biểu đạt tạo nên khí chất đặc biệt cho nghệ thuật kịch nói Việt Nam hiện
đại [23].
Thực trạng sân khấu kịch nói như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Câu trả lời của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong đó có tác giả Nguyễn
Hoàng Chương đó là vắng bóng những tác phẩm hay, vắng bóng khán giả,
cuộc sống. Đạo diễn thường nhào nặn kịch bản, biến ý đồ sáng tác sang
một chiều hướng khác, ít có những sáng tạo xuất thần, mang tính tư tưởng
cao, khán giả thì lười nhác đến Nhà hát trong lúc truyền hình, phương tiện
giải trí ở khắp nơi lại miễn phí. Vì vậy, để sân khấu không xa rời quần
chúng chỉ còn cách những nhà sáng tác phải vượt lên chính mình, vượt
những khó khăn bức bách của cuộc sống, sáng tạo nên những tác phẩm mới
lạ, có nội dung và hình thức cao [30, tr. 40-42].
Còn tác giả Nguyễn Văn Thành khái quát tình hình hoạt động của
kịch nói tại thành phố Hồ Chí Minh với những bước chuyển đổi về mọi
mặt: mở rộng cách tân về không gian sân khấu, vận dụng những thành tựu
kỹ thuật chiếu sáng vào sân khấu, sử dụng có mức độ thủ pháp nghệ thuật
điện ảnh, mở rộng giao lưu liên kết với các tổ chức sân khấu thế giới.
Ngoài ra, vấn đề quan trọng làm nên thành công của một đơn vị nghệ thuật
ngoài đội ngũ nghệ sỹ là chương trình kịch mục và tổ chức biểu diễn, phổ
biến tiết mục theo phương pháp tự quản của xu hướng xã hội hóa
[40, tr. 71-77].
Tựu trung, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật sân
khấu và kịch nói như đã đề cập, tuy nhiên cho đến nay, nghiên cứu về công
tác quản lý hoạt động biểu diễn diễn nghệ thuật tại một đơn vị cụ thể, đó là
Đoàn Kịch nói Hải Phòng thì chưa có công trình nào đi sâu và đây là
khoảng trống nghiên cứu mà Luận văn hướng tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khái quát hoạt động biểu diễn nghệ thuật và thực trạng công tác
quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Đoàn Kịch nói Hải Phòng và đề
15
xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong
thời gian tới.
dung của luận văn.
6. Những đóng góp của luận văn
- Từ những kết quả khảo sát, luận văn góp phần chỉ ra những hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động biểu
diễn nghệ thuật của Đoàn Kịch nói Hải Phòng hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng
cao hiệu quả hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Đoàn Kịch nói Hải Phòng
trong bối cảnh hiện nay.
- Kết quả của luận văn hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà
quản lý trong lĩnh vực quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật nói chung và
của Đoàn Kịch nói Hải Phòng nói riêng.
7. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
văn gồm có 03 chương như sau:
Chương 1: Khái quát hoạt động biểu diễn nghệ thuật và tổng quan về
Đoàn Kịch nói Hải Phòng
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ
thuật tại Đoàn Kịch nói Hải Phòng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động biểu diễn nghệ
thuật tại Đoàn Kịch nói Hải Phòng
17
Chương 1
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ
TỔNG QUAN VỀ ĐOÀN KỊCH NÓI HẢI PHÒNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Nghệ thuật sân khấu
Nghệ thuật sân khấu là lĩnh vực đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu
cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng Chân - Thiện - Mỹ của con người. Đây là
Nam. Cuộc sống ở trong nghệ thuật sân khấu là hiện thực ở cuộc đời, được
bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống phụ thuộc vào quy luật của thực tiễn và
được các nghệ sỹ khái quát sáng tạo để nói về cuộc đời.
Diễn viên là trung tâm của nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật sân
khấu đã mang theo ngôn ngữ hành động của họ thành đặc trưng cơ bản với
các loại hình nghệ thuật khác. Qua tác phẩm sân khấu, qua sự diễn xuất của
diễn viên, những hoàn cảnh, những tình huống đã lột tả những tích cách, số
phận của người được tái hiện chân thực, sinh động, vừa mang tính cụ thể,
lại vừa có tính khái quát cao. Người diễn viên đóng vai trong vở diễn được
gọi là nhân vật, một số vở diễn có thể có từ một đến nhiều nhân vật. Khán
giả được thấy như cuộc sống thật đang diễn ra trước mắt họ. Họ chứng kiến
các nhân vật xuất hiện một cách sinh động với diện mạo, cử chỉ, giọng nói
và những xúc cảm thật của con người.
Trên sân khấu người diễn viên có nắm vững hành động sân khấu,
thực hiện hành động một cách chính xác, sâu sắc, rõ rệt và đẹp đẽ mới mô
tả được nhân vật, khắc họa được tính cách và biểu đạt được tư tưởng tới
người xem một cách hiệu quả, hành động sân khấu chính là phương tiện
nghệ thuật của người diễn viên.
Diễn viên là tác giả của nhân vật, họ cho nhân vật mượn cơ thể, tình
cảm của mình, cho tác giả, đạo diễn mượn tài năng hoạt động của mình để
làm cầu nối giữa nghệ thuật sân khấu với khán giả, giữa người xem với
nhân vật, giữa cuộc đời với nghệ thuật.
19
Trên sân khấu người diễn viên chính là người đóng vai trò kể lại câu
chuyện kịch bằng vận động tâm lý và hình thể của chính bản thân mình có
sự hỗ trợ của các môn nghệ thuật khác.
Tóm lại nghệ thuật sân khấu là môn nghệ thuật tổng hợp phản ánh
thực tại bằng ước lệ nghệ thuật mô phỏng hiện thực thông qua phương pháp