BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
ĐỖ KHẮC BẨY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA - THÔNG TIN
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 6 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
ĐỖ KHẮC BẨY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA - THÔNG TIN
QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 8319042
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đào Mạnh Hùng
Hà Nội, 2018
Chính phủ
Đ/c
Đồng chí
Nxb
Nhà xuất bản
PGS
Phó giáo sư
QĐ
Quyết định
TSKH
Tiến sĩ khoa học
TT
Thông tin
UB
Ủy ban
chuyên ...................................................................................................................... 26
Tiểu kết..................................................................................................................... 28
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA - THÔNG TIN QUẬN NGÔ QUYỀN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................................................................................. 30
2.1. Chủ thể quản lý ................................................................................................ 30
2.1.1. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng.......................................... 30
2.1.2. Phòng Văn hóa và Thông tin quận Ngô Quyền......................................... 31
2.1.3. Ban văn hóa ở cấp phường .......................................................................... 33
2.1.4. Ban Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin ......................................... 34
2.2. Thực tiễn hoạt động quản lý biểu diễn nghệ thuật........................................ 34
2.2.1. Quản lý nội dung chương trình biểu diễn nghệ thuật ................................ 34
2.2.2. Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất .................................................................... 35
2.2.3. Về công tác xã hội hoá ................................................................................. 35
2.2.4. Triển khai văn bản chỉ đạo của cấp trên và xây dựng văn bản quản lý
(Kế hoạch, nội quy, quy chế) ................................................................................. 36
2.2.5. Xây dựng tiết mục, chương trình biểu diễn nghệ thuật............................. 38
2.2.6. Tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật .................................................... 39
2.2.7. Xây dựng nguồn lực tổ chức và quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật . 41
2.2.8. Tiếp thị khán giả ........................................................................................... 42
2.2.9. Thanh tra, kiểm tra........................................................................................ 42
2.3. Một số thành tích của Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền ....... 44
Tiểu kết..................................................................................................................... 46
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA THÔNG TIN QUẬN NGÔ QUYỀN - HẢI PHÒNG ........................................ 48
3.1. Phương hướng, nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý về văn hóa............... 48
3.1.1. Phương hướng............................................................................................... 48
3.1.2. Nhiệm vụ ....................................................................................................... 52
biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang và thi người đẹp, người mẫu.
Sau thời gian một năm triển khai thực hiện đã thu được kết quả bước
đầu đó là việc khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải các văn bản quy
phạm pháp luật và giảm tải các thủ tục hành chính, tạo điều kiện để các cá
nhân, tổ chức được thực hiện biểu diễn nghệ thuật. Hoạt động biểu diễn
nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp, người mẫu, lưu hành, kinh
doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu có bước chuyển biến rõ
nét, cơ bản đi vào nề nếp. Bên cạnh những kết quả đạt được, các cơ quan quản
lý nhà nước cũng đánh giá về những hạn chế, tồn tại sau một năm thực hiện
Nghị định đó là tại một số tỉnh thành, việc cấp giấy phép chỉ trên hồ sơ giấy tờ,
không thẩm định nội dung chương trình; công tác kiểm tra, giám sát chưa
được thực hiện nghiêm túc; các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động biểu diễn nghệ thuật chưa phù hợp với tình hình thực tế.
Những năm gần đây, thành phố Hải Phòng đang trên đà phát triển
mạnh cả về kinh tế kéo theo các hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng phát
triển. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn thành phố trong đó
có quận Ngô Quyền có nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật và trò chơi giải
trí đa dạng, hấp dẫn du nhập vào.
2
Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng từ khi được thành lập đến nay đã đạt nhiều kết quả thiết thực về
công tác tổ chức, quản lý biểu diễn nghệ thuật. Tại Trung tâm Văn hóa Thông tin quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, hệ thống các hoạt động
nghệ thuật biểu diễn là một trong những hoạt động bề nổi của Trung tâm.
Trong những năm gần đây hoạt động của các Câu lạc bộ có chất lượng cao,
đa dạng về thể loại, như: Múa, hát, sân khấu, nhảy dance Sport… đã đóng
góp rất nhiều cho các hoạt động của Trung tâm.
Bên cạnh những thành công trong công tác tổ chức và quản lý các
truyền thống ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2009), Lê Thị Thu
Hiền [23]. Tác giả trình bày những vấn đề chung và thực trạng quản lý
nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả cho hoạt động này.
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà
hát Tuổi Trẻ (2006) của Trần Thục Quyên [33]. Tác giả trình bày cơ sở lý
luận hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng như nêu lên thực trạng quản lý
hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi Trẻ. Qua đó đề xuất một số
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà
hát Tuổi Trẻ.
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp ở
Thái Bình (2013) của Phạm Tuấn Anh [1]. Tác giả trình bày cơ sở lý luận
và thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ở Thái
Bình. Từ đó đưa ra những giải pháp cho nghệ thuật biểu diễn ở Thái Bình
phát triển phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay.
4
- Luận án TS của Đỗ Xuân Định (1994) với đề tài Lãnh đạo và quản
lý văn hóa nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
- Tác giả Lê Xuân Kiêu (2011), Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về
văn hóa, suy nghĩ về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc văn hóa dân tộc hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa (số 6), Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội [27]. Tác giả nêu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về văn hóa, về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa dân tộc, phân tích
thực trạng nền văn hóa dân tộc phù hợp với đường lối phát triển văn hóa
mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.
tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền. Công tác quản lý, tổ chức, phát
triển nghệ thuật biểu diễn và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác quản lý biểu diễn nghệ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Trung tâm Văn hóa - Thông tin
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trung tâm Văn hóa - Thông tin và một số Công ty tổ chức các
hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố
Hải Phòng.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ năm 2014-2017. Vì đây
là thời điểm kinh tế xã hội phát triển và nhu cầu hưởng thụ nghệ biểu diễn thuật
ngày một đòi hỏi chất lượng cao hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành văn hóa học, xã hội
học, nghệ thuật học, văn nghệ quần chúng làm cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp thực tiễn khảo sát, phỏng vấn sâu, phân tích tổng hợp,
so sánh, đánh giá hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Trung tâm Văn hóa Thông tin quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
6
6. Những đóng góp của luận văn
Nghiên cứu hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Trung tâm Văn hóa Thông tin quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng là một hướng đi khả quan
đồng thời là giải pháp khả thi để Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô
Quyền xác định phương hướng phát triển văn hóa nghệ thuật quần chúng
của quận mang tính chất chuyên nghiệp cao hơn.
Đề tài đưa ra những giải pháp cấp bách hiện nay nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của nghệ thuật biểu diễn tại Trung tâm Văn hóa
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu quản lý là sự tác động của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động
nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế- xã hội đã đặt ra.
Quản lý là quá trình tổ chức, là sự điều khiển có chiến thuật các hoạt
động xã hội bằng thể chế pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý nhà nước.
Quản lý có tính khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển
của tự nhiên, xã hội và đối tượng khác. Mặt khác, quản lý còn là một nghệ
thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức khoa học xã hội, khoa học tự nhiên.
1.1.2. Nghệ thuật biểu diễn
Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam được hình thành và phát triển cùng
tiến trình lịch sử của đất nước. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nghệ
thuật biểu diễn đã phản ánh sinh động nhiều phương diện của đời sống xã
hội, luôn bám sát cuộc sống, phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng
thức nghệ thuật của công chúng. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất
8
nước, thông qua các loại hình của nghệ thuật biểu diễn để đấu tranh những
mặt tiêu cực của xã hội, những tư tưởng thù địch đồng thời ca ngợi sự
nghiệp xây dựng đất nước và hướng con người tới những giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp.
Nghệ thuật biểu diễn là những hình thức nghệ thuật khác với nghệ
thuật tạo hình trước đây: nghệ thuật biểu diễn sử dụng cơ thể, tiếng nói và
sự có mặt của chính nghệ sĩ làm phương tiện trình diễn trước công chúng,
trong khi nghệ thuật thị giác sử dụng các vật liệu như đất sét, kim
loại hoặc sơn có thể được đúc hoặc biến đổi để tạo ra một số đối tượng vật
chất cho nghệ thuật. Thuật ngữ "nghệ thuật biểu diễn" đầu tiên xuất hiện
trong tiếng Anh vào năm 1711 [44, tr.1].
Theo Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy
hoạch đặt ra.
Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật là một trong
những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa
nói chung. Nhà nước giữ vai trò chính trong việc quản lý hoạt động biểu
diễn nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân,
góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Hiện nay trong cơ chế thị trường, quản lý hoạt động biểu diễn nghệ
thuật là vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo. Bởi lẽ quản lý nhà nước về
hoạt động biểu diễn nghệ thuật là thể hiện quyền lực Nhà nước trong lĩnh
vực văn hóa. Quyền lực đó bao gồm: định hướng hoạt động, xây dựng
hành lang pháp lý, quản lý, cơ chế chính sách điều hành các cơ quan tổ
chức hoạt động theo kế hoạch, chương trình, mục tiêu, tổ chức bộ máy,
đầu tư tài chính, giám sát, thanh tra kiểm tra…
Theo quan niệm của ngành văn hóa, Quản lý nhà nước về hoạt động
biểu diễn nghệ thuật là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của
10
Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển
văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh
vực hoạt động biểu diễn nghệ thuật và liên quan, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trên toàn quốc có khoảng gần 2.000 doanh nghiệp có chức năng tổ
chức biểu diễn nghệ thuật, có khoảng gần 10.000 nghệ sĩ, người mẫu, trong
đó có khoảng 1/3 ngoài công lập [42, tr.7]. Con số nghệ sĩ đông đảo, sự
bùng nổ tự phát của nhiều thành phần tham gia hoạt động biểu diễn nghệ
thuật dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn toàn quốc
không nắm được chính xác số lượng, nhân thân của các cá nhân tham gia
động biểu diễn nghệ thuật của Việt Nam nói chung.
Nhiều năm qua, hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn đã góp
phần cho các loại hình nghệ thuật phát triển. Song, những tác động trực tiếp
từ hoạt động biểu diễn nghệ thuật đến khán giả nên biểu diễn nghệ thuật
tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực và nhanh chóng tới người xem, đặc
biệt là giới khán giả trẻ. Vì vậy công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ
thuật từ trung ương xuống địa phương là rất cần thiết và cán bộ làm công
tác quản lý cần phải nắm chắc và theo dúng nội dung của hệ thống các văn
bản pháp luật của nhà nước để chỉ đạo và điều hành.
Không chỉ trong mảng âm nhạc, giới hoạt động sân khấu gần đây
cũng ngỡ ngàng và hoang mang khi tiếp nhận thông báo của các cơ quan
quản lý rằng cần xin phép lại nếu muốn diễn tiếp một vở, bởi giấy phép cho
một chương trình sân khấu chỉ có hiệu lực trong một năm. Căn cứ được lý
giải là vì điều này được quy định tại Nghị định số 15/2016/NĐ-CP ngày
15/3/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
79/2012/NĐ-CP ngày 5/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ
thuật; trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh
doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu. Trước khi có Nghị định
12
này, vở diễn chỉ cần xin cấp phép một lần và có giá trị vô thời hạn. Nay, dù
vở diễn không thay đổi nội dung vẫn phải xin giấy phép diễn hằng năm.
Đành rằng Nghị định do Chính phủ ban hành, song không thể không đặt
câu hỏi về chất lượng tham mưu về lĩnh vực chuyên ngành các cấp mà cụ
thể là cơ quan quản lý trực tiếp về hoạt động nghệ thuật biểu diễn sao cho
sát hợp với thực tiễn cuộc sống.
Hiện nay, công tác quản lý nhà nước lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn
được thực hiện theo Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 5/10/2012 của
hiện theo đúng quy định, không có sự kiểm soát của cơ quan quản lý.
Bên cạnh đó, việc quy định: “Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở VHTTDL hoặc Sở VHTT tổ chức thẩm định
hồ sơ, trình UBND cấp tỉnh cấp giấy phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài
vào biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang tại địa phương. Trường hợp
không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do” [19, tr.5]
Cùng với đó, về quy định thời hạn có hiệu lực của giấy phép quy định
tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 79/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại
Khoản 6 Điều 1 Nghị định số 15/2016/NĐ-CP, trong thời gian vừa qua, một
số Đoàn nghệ thuật, cá nhân, nghệ sĩ có ý kiến phản ảnh việc phải thực hiện
thủ tục đề nghị cấp phép hằng năm cho các vở diễn sân khấu đã được cấp
phép biểu diễn trước đó là “phức tạp, vất vả”. NSND Nguyễn Hương ThơmPhó Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam bày tỏ: “Những vở diễn mang tính
kinh điển của các Nhà hát truyền thống đã được biểu diễn qua bao nhiêu
năm từ thế hệ các bậc tiền bối thì có nên phải cấp giấy phép hay không và
nếu cấp thì nên cấp một lần và tính pháp lý của nó sử dụng lâu dài”.
Ông Lê Minh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn cho
biết: Hoạt động sáng tạo, biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang cũng bộc
lộ những hạn chế cần phải khắc phục từ việc xây dựng, hoàn thiện chính
sách cho đến việc áp dụng, thực thi chính sách vào thực tiễn đời sống; nâng
14
cao nhận thức và hành động của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham
gia hoạt động sáng tạo, biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; xu hướng,
phong cách thưởng thức nghệ thuật của một công chúng, khán giả..
Để hoạt động biểu diễn nghệ thuật thực sự đi vào nề nếp với chất
lượng nghệ thuật cao, rất cần sự vào cuộc của cơ quan quản lý:
Quy hoạch lại mạng lưới các đoàn nghệ thuật biểu diễn:
Tùy theo điều kiện của từng địa phương và thực tế của các đơn vị
hơn 200 đoàn nghệ thuật xã hội hóa, hơn 42.000 đội văn nghệ
cấp xã, phường, hàng trăm đội thông tin tuyên truyền và gần 200
câu lạc bộ nghệ thuật tư nhân. Tuy nhiên, hầu như hệ thống cơ sở
vật chất của các đơn vị không đáp ứng được những yêu cầu về
công năng biểu diễn chuyên nghiệp và nhu cầu hưởng thụ văn
hóa nghệ thuật của công chúng.
Xuất phát từ thực tế đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần xem
xét, định hướng xây dựng, cải tạo các rạp, điểm biểu diễn nghệ
thuật. Đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống dân tộc, đảm
bảo đầu tư 100% trang thiết bị phục vụ biểu diễn và đầu tư tối
thiểu 70% cho các loại hình nghệ thuật hiện đại [43, tr.3].
Cải thiện chế độ, chính sách đối với nghệ sĩ, diễn viên
Những bất cập về chế độ, chính sách, đào tạo nguồn nhân lực đối với
nghệ sĩ đang ảnh hưởng tới sức sáng tạo và sự phát triển của ngành nghệ
thuật biểu diễn. Đặc biệt, đối với đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên, thang lương
hiện nay gồm 3 hạng, 26 bậc không phù hợp với đặc thù của hoạt động
nghệ thuật. Bên cạnh đó, mức phụ cấp nghề nghiệp thấp cũng chưa bù đắp
được công sức luyện tập nặng nhọc, phải thường xuyên di chuyển và hoạt
động của người nghệ sĩ. Cần thiết có chính sách ưu tiên cụ thể cho họ như
điều chỉnh lại mức lương, rút ngắn số thang bậc để nghệ sĩ có quỹ thời gian
phấn đấu trong quá trình công tác; điều chỉnh chế độ phụ cấp, chế độ ưu đãi
với các nghệ sĩ, diễn viên có nhiều cống hiến và đạt danh hiệu cao.
Đổi mới công tác quản lý:
16
Sự phối hợp quản lý giữa Cục Nghệ thuật biểu diễn và các cấp,
ngành trong việc sản xuất và chuyển tải các sản phẩm đến với công chúng
là rất cần thiết. Xác lập một hệ thống cơ quan quản lý thống nhất từ trung
Thông tin từ cuối năm 2008 theo quyết định của Ủy ban nhân dân quận
Ngô Quyền. Sau 10 năm hoạt động Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận đã
có những bước phát triển vững chắc, Trung tâm đã tổ chức nhiều hoạt động
văn hóa, thể thao, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo của cán bộ, nhân
dân địa phương. Căn cứ vào những hoạt động và kết quả đạt được nhiều
năm liền Trung tâm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng cờ; Ủy ban
nhân dân thành phố Hải Phòng tặng bằng khen, cờ thi đua cho tập thể và
các cá nhân xuất sắc.
Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền là đơn vị sự nghiệp
trực thuộc Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Quá trình thành lập và phát triển:
Trung tâm được tách ra từ Phòng Văn hóa và Thông tin. Trung tâm
Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền được thành lập theo Quyết định số
1307/QĐ-UBND ngày 19/6/2008 của UBND quận Ngô Quyền.
Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền được đổi tên thành
Trung tâm Văn hóa - Thông tin theo quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 18
tháng 01 năm 2010 của UBND quận Ngô Quyền.
Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền là đơn vị sự nghiệp
văn hóa thông tin, có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản
theo quy định của pháp luật.
Trung tâm Văn hóa - Thông tin chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện
của Ủy ban nhân dân quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn
về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao, Phòng Văn hóa và
Thông tin quận Ngô Quyền.
18
Mặc dù trong những năm qua, Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận
đã được Quận ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy bân nhân dân quận quan tâm tạo
Bộ máy tổ chức
Đội ngũ cán bộ Trung tâm Văn hóa Thông tin 6 đồng chí (đ/c):
Trình độ Đại học: 06 đ/c (đạt 100%). Có 02 đ/c đào tạo đúng chuyên
ngành, 04 đ/c đào tạo ngành gần.
Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền là người
đứng đầu; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Ngô
Quyền về hoạt động của Trung tâm và việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Phó giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin quận Ngô Quyền là
người giúp Giám đốc điều hành Trung tâm; được giám đốc giao phụ trách
một số công việc, lĩnh vực công tác cụ thể và chịu trách nhiệm trước Giám
đốc về công việc được phân công. Khi vắng mặt, giám đốc có thể ủy quyền
cho phó giám đốc điều hành và giải quyết công việc của Trung tâm [2].
Các tổ chuyên môn, nghiệp vụ của Trung tâm:
02 đồng chí phụ trách tổ Thông tin, tổ văn nghệ.
Bộ phận Hành chính - Quản trị - Dịch vụ: Có nhiệm vụ thực hiện
công tác hành chính - quản trị, văn thư lưu trữ; quản lý, cung ứng vật tư,
trang thiết bị cho hoạt động của Trung tâm; Xây dựng kế hoạch Tài chính Kế toán; thực hiện công tác thống kê, báo cáo và các hoạt động nội bộ của
Trung tâm. Khai thác, tổ chức các dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ trên
cơ sở phát huy hiệu quả cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của viên
chức Trung tâm, các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ [2].
Ngoài công tác chuyên môn, nghiệp vụ, các cán bộ đều được phân
công phụ trách từng lĩnh vực cụ thể:
Cán bộ quản lý Thư viện 01 đồng chí: Quản lý Phòng truyền thống,
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của chuyên ngành, hướng dẫn
và xây dựng phong trào văn hoá đọc của quận.