BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LÊ XUÂN THỦY
QUẢN LÝ CÁC CÂU LẠC BỘ TẠI TRUNG TÂM
VĂN HÓA THÔNG TIN HUYỆN THỦY NGUYÊN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 6 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LÊ XUÂN THỦY
QUẢN LÝ CÁC CÂU LẠC BỘ TẠI TRUNG TÂM VĂN
HÓA THÔNG TIN HUYỆN THỦY NGUYÊN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8319042
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu
Hà Nội, 2018
Câu lạc bộ
CP
Chính phủ
đ/c
Đồng chí
Nxb
Nhà xuất bản
PGS
Phó giáo sư
QĐ
Quyết định
TSKH
Tiến sĩ khoa học
TT
Thông tin
1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động của Trung tâm Văn hóa
Thông tin huyện Thủy Nguyên ............................................................................. 21
1.5.3. Hoạt động các câu lạc bộ ở Trung tâm Văn hóa Thông tin ................... 25
1.5.4. Vai trò của quản lý câu lạc bộ với các hoạt động chính trị và quần
chúng nhân dân ........................................................................................................ 30
Tiểu kết ..................................................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÂU LẠC BỘ ....... 32
2.1. Chủ thể quản lý ................................................................................................. 32
2.1.1. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng........................................... 32
2.1.2. Phòng văn hóa và Thông tin huyện Thủy Nguyên..................................... 34
2.1.3. Ban giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên ......... 37
2.1.4. Ban chủ nhiệm câu lạc bộ ............................................................................ 38
2.1.5. Cơ chế phối hợp giữa Trung tâm và câu lạc bộ .......................................... 39
2.2. Quản lý các câu lạc bộ trong hoạt động văn hóa nghệ thuật .................... 40
2.3. Hoạt động quản lý câu lạc bộ .......................................................................... 41
2.3.1. Quản lý hoạt động câu lạc bộ ....................................................................... 42
2.3.2. Quản lý tài chính ............................................................................................ 45
2.3.3. Quản lý về nguồn nhân lực ........................................................................... 46
2.3.4. Quản lý về cơ sở vật chất .............................................................................. 46
2.3.5. Quản lý về công tác phát triển hội viên ....................................................... 47
2.4. Những kết quả đạt được ................................................................................... 48
2.5. Những mặt còn hạn chế.................................................................................... 50
2.5.1. Về cơ sở vật chất và điều kiện biểu diễn ..................................................... 52
2.5.2.Về đội ngũ Ban chủ nhiệm ............................................................................ 53
Tiểu kết...................................................................................................................... 55
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CÂU LẠC BỘ
TRUNG TÂM VĂN HÓA THÔNG TIN HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .................................................................................. 57
tiềm năng kinh tế của đất nước ngày càng được tăng cường, chính trị ổn
định. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày một cải thiện.
Đại hội VI của Đảng năm 1986 là một mốc son lịch sử đánh dấu thời
kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam, thời kỳ phát huy sức mạnh dân tộc,
tiếp tục đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đây,
mô hình hoạt động của mỗi đơn vị muốn có hiệu quả cao đòi hỏi phải chấp
hành đầy đủ các chủ trương của Đảng và mọi quy định Pháp luật của nhà
nước. Các cơ quan, đoàn thể cần đổi mới những mô hình tổ chức phù hợp
với tình hình thực tế ở địa phương, đơn vị mình, để cho các hoạt động đạt
được hiệu quả cao nhất.
Trong bối cảnh đổi mới của đất nước, năm 2004 Trung tâm Văn hóa
Thông tin huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng được đổi tên từ Nhà
văn hóa thành Trung tâm Văn hóa Thông tin. Trong quá trình hoạt động,
Trung tâm VHTT đã đạt những kết quả ấn tượng, nhưng cũng đối điện với
nhiều khó khăn và thách thức. Tại Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện
Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng, các câu lạc bộ là nhân tố trung tâm, là
một trong những hoạt động bề nổi mang lại nhiều thành tích. Trong những
năm gần đây, hoạt động của các câu lạc bộ đa dạng về thể loại và đạt được
chất lượng cao. Những câu lạc bộ như Câu lạc bộ Dân ca; guitar; múa;
dance Sport; thơ… đã đóng góp rất tích cực cho các hoạt động VHNT của
Trung tâm Văn hóa. Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động các câu lạc bộ vẫn còn
tồn tại nhiều hạn chế.
Với tư cách là cơ quan quản lý hỗ trợ các câu lạc bộ, Trung tâm Văn hóa
Thông tin huyện Thủy Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế về cơ sở
vật chất, địa điểm sinh hoạt, về nguồn kinh phí... Để tìm cách khắc phục các
2
mặt hạn chế, đồng thời tìm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho các
câu lạc bộ trong thời kỳ mới, cần thiết phải có hiểu biết đầy đủ về các hoạt
đây đã có một số tác giả quan tâm như: Trong luận văn tốt nghiệp đại học
ngành văn hóa du lịch Nguyễn Thị Huệ đã Nghiên cứu Mô hình các Câu lạc
bộ Cung văn hóa hữu nghị Việt Tiệp gắn với Văn hóa Du lịch đây cũng là
một hướng nhằm phát triển hoạt động các câu lạc bộ để đáp ứng với sự phát
triển của xã hội. Còn các đề tài nghiên cứu về Huyện Thủy Nguyên như:
Bảo tồn và phát huy hội hát Đúm huyện Thủy Nguyên Thành phố Hải Phòng
trong luận văn thạc sỹ của Phùng Văn Mạnh đề cập đến việc gìn giữ và phát
triển hát Đúm; Còn luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thế Hùng thì Đưa hát
Đúm vào Trường Trung học cơ sở tại Thành phố Hải Phòng đây cũng là
một hình thức bảo tồn và phát triển hát đúm; GS TSKH Phạm Lê Hòa cũng
viết về hát Đúm huyện Thủy Nguyên nhưng với góc nhìn về Những âm điệu
cuộc sống;… Các nghiên cứu nêu trên là những gợi ý tốt để học viên thực
hiện đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn xây dựng mô hình
hoạt động của các câu lạc bộ gắn với hoạt động biểu diễn nghệ thuật đạt
hiệu quả cao tại Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên.
Quản lý các Câu lạc bộ tại Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là một đề tài mới, hấp dẫn, trước học
viên chưa được ai nghiên cứu. Song các công trình nghiên cứu trước đó như
vừa lược điểm đã cung cấp cho học viên một số ý tưởng tốt để thực hiện đề
tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để đánh giá thực trạng quản lý các câu lạc bộ tại Trung
tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên, từ đó đưa ra một số đề xuất và
những giải pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về mô hình tổ chức và chương trình hoạt động của các
câu lạc bộ thuộc Trung tâm VHTT huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
5
hướng dẫn nghiệp vụ cho các câu lạc bộ nên có một số hiểu biết bước đầu về các
câu lạc bộ. Tuy nhiên để thực hiện đề tài này học viên đã dành thời gian để khảo
sát nhiều đợt cụ thể như sau: Gặp gỡ thăm hỏi về chuyên môn về tâm tư
nguyện vọng của các thành viên, trao đổi, thảo luận với chủ nhiệm các câu
lạc bộ về hoạt động của câu lạc bộ, những khó khăn trong công tác quản
lý nguồn nhân lực, kinh phí hoạt động của các câu lạc bộ, về những khó
khăn trong sinh hoạt chuyên môn và việc phát triển hội viên, việc thực hiện
quy chế câu lạc bộ hay về đời sống tinh thần của các hội viên và các nghệ
nhân. Cũng như việc đáp ứng những yêu cầu của Ban giám đốc Trung tâm
Văn hóa Thông tin đề ra và việc phục vụ những nhiệm vụ chính trị trên địa
bàn huyện.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống. Trên cơ sở các nguồn
tài liệu thứ cấp, và nguồn tài liệu điền dã của cá nhân, học viên đã tổng
hợp, phân tích, đánh giá… để xây dựng bản luận văn này.
6. Những đóng góp của luận văn
Cung cấp có hệ thống các tư liệu về hiện trạng các câu lạc bộ và sự
hoạt động của các câu lạc bộ thuộc Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện
Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng.
Giới thiệu hiện trạng công tác quản lý các câu lạc bộ sở thích của
Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
Đưa ra một số giải pháp cấp bách nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động của các câu lạc bộ, và hiệu quả công tác quản lý các câu lạc bộ của
Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về quản lý câu lạc bộ và Trung tâm Văn hóa
Thông tin huyện Thủy Nguyên
trình độ cán bộ và nguồn nhân lực tham gia. Như vậy, hệ thống thiết chế
văn hóa mới phát huy hết vai trò của mình.
Có thể nói, hệ thống thiết chế văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng
thụ, sáng tạo, luyện tập, học tập, trao đổi, gìn giữ văn hóa, của các tầng lớp
nhân dân. Cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa tạo điều kiện
thuận lợi nhất để nhân dân thường xuyên được sinh hoạt, trao đổi các
thông tin, rèn luyện bản thân để có sức khỏe trong công việc, trong lao
8
động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó còn là nơi giao lưu, học
hỏi và thắt chặt tình đoàn kết, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
Hệ thống thiết chế văn hóa giữ vai trò nòng cốt trong việc tuyên
truyền các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương; thiết
chế văn hóa là cơ sở vật chất, là công cụ trực tiếp và đắc lực của các cấp
ủy, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng thực hiện
các nhiệm vụ chính trị, tuân thủ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
Các trung tâm văn hóa quận, huyện, các nhà văn hóa xã, phường, thị
trấn chính là nơi để nâng cao đời sống tinh thần và hiểu biết về pháp luật
của quần chúng nhân dân, từ đó giảm thiểu các tệ nạn xã hội. Các buổi
sinh hoạt, thảo luận, tuyên truyền văn hóa ở cơ sở cũng chính là môi
trường thuận lợi để quần chúng nhân dân mạnh dạn đóng góp các ý kiến
với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, góp phần xây dựng đất nước
ngày càng giàu mạnh.
Hệ thống thiết chế văn hóa có ý nghĩa trong việc xây dựng nông thôn
mới. Trong 19 tiêu chí để được công nhận là nông thôn mới có tiêu chí số
6, 16 có viết: nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt
chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 100%.
Trung tâm Văn hóa (Nhà Văn hóa) là một cơ quan giáo dục xã hội
chủ nghĩa ngoài nhà trường, là một trung tâm tổ chức hoạt động văn hóa xã
hội có nhiệm vụ chuyển tải những giá trị tinh hoa nghệ thuật của dân tộc và
nhân loại cho nhân dân hưởng thụ, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để
quần chúng nhân dân tạo ra các giá trị văn hóa nghệ thuật; để gìn giữ bảo
lưu và xây dựng các nền văn hóa dân chủ mới đáp ứng cùng thỏa mãn nhu
cầu tinh thần của mình trong thời gian nhàn rỗi.
10
Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hệ thống Trung tâm văn hóa - Nhà văn
hóa được xây dựng phát triển rộng khắp thành một hệ thống từ Trung ương
đến địa phương, từ miền núi xuống đồng bằng, từ nông thôn ra thành
thị. Các thiết chế như nhà văn hóa, nhà tập, nhà thi đấu, bể bơi... được xây
dựng trở thành những địa điểm tụ họp nhân dân tham gia sáng tạo, hưởng
thụ các giá trị văn hóa, luyện tập thể dục - thể thao đồng thời cũng là nơi gắn
kết cộng đồng, Thông tin giáo dục mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ
chính trị của Đảng và Nhà nước. Ở đâu, Trung tâm Văn hóa cũng là một
trong những công cụ chỉ đạo điều hành sắc bén của Đảng và Nhà nước, là
cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong việc Thông tin
các nhiệm vụ chính trị thông qua các hoạt động văn hóa nghệ thuật để lãnh
đạo nhân dân xây dựng đất nước. Trung tâm văn hóa/Nhà văn hóa tạo nên
mối quan hệ hai chiều giữa Đảng và nhân dân, đem lại những giá trị tinh
thần thiết thực, lợi ích trực tiếp cho nhân dân, cố kết cộng đồng và phát triển
xã hội.
Trong thời kỳ đất nước đổi mới, thiết chế văn hóa đã và đang chuyển
mình trở thành thiết chế văn hóa đa năng, bao gồm: hoạt động văn hóa, thể
dục thể thao, Thông tin triển lãm và cả tổ chức hội họp, sinh hoạt các Câu
lạc bộ, đoàn thể… Từ lâu nước ta đã có những thiết chế văn hóa cơ sở để
xây dựng đời sống văn hóa mới như: Nhà văn hóa, thư viện, nhà truyền
phương pháp công tác cho những người làm công tác văn hóa, Thông tin ở
xã, phường, thị trấn theo kế hoạch của Phòng Văn hóa & Thông tin;
Tổ chức các dịch vụ văn hóa, Thông tin phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật;
Hợp tác, giao lưu, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ và các hoạt
động văn hóa, Thông tin cơ sở với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh;
Thực hiện báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất về hoạt động của
Trung tâm với Ủy ban nhân dân huyện, với phòng Văn hóa - Thông tin và
những cơ quan quản lý văn hóa, Thông tin theo quy định;
12
Quản lý tổ chức, cán bộ, viên chức, tài chính và tài sản của Trung tâm
theo quy định của cấp có thẩm quyền; được ký kết hợp đồng lao động và
quản lý lao động theo quy định của pháp luật;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban Nhân dân và phòng Văn hóa
- Thông tin giao.
1.2. Quản lý câu lạc bộ
Câu lạc bộ (CLB) vừa là một loại hình tổ chức vừa là một phương
thức hoạt động, là một tổ chức vững chắc của các tổ chức đoàn thể, để hỗ
trợ giải quyết các vấn đề do cuộc sống hàng ngày đặt ra. Câu lạc bộ là nơi có
những hoạt động phong phú, phù hợp với nhu cầu, lợi ích của những thành
viên tham gia CLB; tạo môi trường để tài năng, năng khiếu được bộc lộ,
phát triển.
Quản lý câu lạc bộ nhằm định hướng đưa ra những thông tin, nâng
cao nhận thức và giáo dục đạo đức cách mạng, truyền thống dân tộc; tạo
điều kiện cho các thành viên giao tiếp, ứng xử, vui chơi giải trí lành mạnh,
bày tỏ quan điểm, tâm tư nguyện vọng trong công tác, trong cuộc sống hàng
ngày; giúp các thành viên, hội viên giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng
mắc trong hoạt động, lao động, công tác và trong cuộc sống; giúp các tổ
Các câu lạc bộ được xuất hiện ở nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII và
các nước Châu Âu văn minh khác. Trong các nước tư bản câu lạc bộ chỉ
dành riêng cho những người có tiền hoặc phục vụ cho các tầng lớp quý tộc.
Như vậy chúng ta có thể thấy việc quản lý tốt các câu lạc bộ là rất
quan trọng, vì câu lạc bộ là cơ quan văn hóa tổng hợp, là những trung tâm
để người lao động tiếp xúc, trao đổi văn hóa làm cho tinh thần của mình
thêm phong phú và giải trí lành mạnh.
Bước vào giai đoạn hiện nay, đòi hỏi những người làm công tác quản
lý phải nâng cao trình độ để ngang tầm với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Nhu cầu của con người rất khác nhau, riêng đối với công nhân
14
lao động nhu cầu hưởng thụ văn hóa là một đòi hỏi cần thiết mà mọi ngành và
đặc biệt là công đoàn, Trung tâm Văn hóa Thông tin và các tổ chức phải đáp
ứng. Ngoài thời gian lao động trong cơ quan, nhà máy người lao động có thể
tìm thấy nơi sinh hoạt phù hợp với mình đó chính là các câu lạc bộ sở thích
tại Trung tâm Văn hóa Thông tin. Ở đó có các điều kiện về cơ sở vật chất, có
đội ngũ hướng dẫn để mọi người tham gia sinh hoạt một cách thoải mái bởi
nó là một thiết chế tổng hợp về nội dung sinh hoạt, phương pháp tiếp cận và
nhu cầu cho từng cá nhân khi tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ của Trung
tâm Văn hóa Thông tin.
Trong bối cảnh nhu cầu xã hội phát triển hiện nay có nhiều câu lạc bộ
sở thích tồn tại tự do như: câu lạc bộ cầu lông; câu lạc bộ bóng bàn; hay câu
lạc bộ tự nguyện... Bên cạnh đó cũng có nhiều các câu lạc bộ thuộc hệ thống
xã hội như: câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ tuổi già; câu lạc bộ hưu trí...
Trong phạm vi luận văn này, chỉ quan tâm đến công tác quản lý các câu lạc
bộ thuộc hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của Trung tâm Văn
hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên.
1.3. Nội dung quản lý câu lạc bộ
tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt
Nam đến năm 2020;
Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hện thống
thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 – 2020, định hướng đến
năm 2030;
Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL ngày 08 tháng 09 năm 2008 của Bộ
Văn hóa Thể thao Du lịc về tăng cường công tác pháp chế ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch;
Thông tư số 25/ TTLT-BTC-BVHTTDL ngày 25 tháng 3 năm 2008
về hướng dẫn nội, mức chi và công tác quản lý kinh phí thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia vể văn hóa giai đoạn 2006 đến 2010.
16
Quyết định số 1992/QĐ-TTg ngày 11/12/2017 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách
Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch;
Quyết định 936/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Phát triển văn hóa giai đoạn
2016-2020;
Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 của ban chấp hành trung ương Đảng
khóa VI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người việt nam đáng ứng
yêu cầu phát triển bền vững đất nước;
Sở Văn hóa và Thể thao số 62/KH-SVHTT ngày 20 tháng 4 năm 2018
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao ở nông
thôn giai đoạn 2018-2020;
Phòng Văn hóa và Thông tin sô 867/UBND-VH&TT ngày 01 tháng 6
năm 2018 thực hiện các tiêu chí về văn hóa (số 6 và số 16) trong tiêu chí
quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2020.
1.5.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm văn hóa Thông tin huyện Thủy Nguyên là đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên. Trước đây Trung
tâm Văn hóa Thông tin là “Nhà văn hóa huyện Thủy Nguyên” được thành
lập từ cuối năm 1988 theo quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Thủy
Nguyên. Sau gần 10 năm hoạt động, năm 1997 Nhà văn hóa huyện Thủy
Nguyên được xếp hạng III. Thực hiện vai trò, chức năng của mình, trong
suốt thời gian qua, Nhà văn hóa đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa - thể
thao, đáp ứng nhu cầu thưởng thức và sáng tạo của cán bộ, nhân dân địa
phương. Căn cứ vào những hoạt động và kết quả đạt được, Ủy ban nhân dân
huyện Thủy Nguyên trình Bộ văn hóa thông tin, Ủy ban nhân dân thành
18
phố và các cơ quan chức năng của Thành phố xét xếp hạng II cho Nhà văn
hóa huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng [ 32].
1.5.1.1. Bộ máy tổ chức
- Đội ngũ cán bộ Trung tâm Văn hóa Thông tin gồm 11 người.
Trình độ Đại học: 6 người đạt 55%. Có 03 người đào tạo đúng
chuyên ngành, 02 người đào tạo ngành gần, 01 người không đúng
chuyên ngành.
Trình độ Cao đẳng: 01 người đạt 9 %. Không đúng chuyên ngành.
Trình độ Trung cấp: 02 người đạt 18%. Có 01 người đào tạo ngành
gần, 01 đ/c không đúng chuyên ngành.
Chưa qua đào tạo: 02 người đạt 18%. Bảo vệ cơ quan
Giám đốc là người đứng đầu Trung tâm; chịu trách nhiệm trước
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện về hoạt động của Trung tâm và việc
thực hiện nhiệm vụ được giao.
Phó giám đốc giúp Giám đốc điều hành Trung tâm; được giám đốc
giao phụ trách một số công việc, lĩnh vực công tác cụ thể và chịu trách
Cán bộ quản lý thiết bị điện, loa máy, âm thanh, ánh sáng phục vụ các
hội thi, hội diễn, thông tin cổ động.
Các tổ, tổ chuyên môn, cán bộ phụ trách các bộ phận có trách nhiệm
quản lý tài sản, vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác của bộ phận mình
phụ trách đồng thời phải có trách nhiệm, quản lý tài sản chung của cơ quan
[38].
1.5.1.4. Tài chính
Ngân sách nhà nước cấp:
Kinh phí đảm bảo cho các hoạt động theo kế hoạch được giao.
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền giao.