ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ HẢI YẾN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. Hà Nhật Thăng
TS. Đặng Văn Cúc
được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013
Tác giả Trần Thị Hải Yến ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT
BGĐ
CBQL
CSVC
ĐĐ
ĐHQG
ĐTN
ĐVTN
GDCD
GDĐĐ
GDTX
GV
GVBM
GVCN
Phó giáo sư. Tiến sỹ
Quản lý
Quản lý giáo dục
Quá trình giáo dục đạo đức
Trung học phổ thông
Xã hội chủ nghĩa
iii
MỤC LỤC
Lơ
̀
i ca
̉
m ơn i
Danh mu
̣
c các chư
̃
viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mu
̣
c các sơ đồ, bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 5
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Một số khái niệm công cụ 9
1.2.1. Đạo đức 9
2.2. Thực trạng đạo đức của học sinh Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức 42
2.2.1. Nhận thức của học sinh đối với các quan niệm đạo đức 44
2.2.2. Mức độ vi phạm đạo đức của học sinh Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức
45
2.2.3. Quan điểm của học sinh về vị trí, vai trò và nội dung giáo dục đạo đức
trong trung tâm 47
2.3. Thực trạng về giáo dục đạo đức cho học sinh Trung tâm GDTX huyện Hoài
Đức 49
2.3.1. Nhận thức của giáo viên về giáo dục đạo đức cho học sinh 49
2.3.2. Tính hiệu quả của các biện pháp dã áp dụng giáo dục đạo đức cho học
sinh nhà trường 50
2.3.3. Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh 51
2.4. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức ở Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức
54
2.4.1. Thực trạng về xây dựng kế hoạch 54
2.4.2. Thực trạng về xây dựng nội dung chương trình 56
2.4.3. Thực trạng về tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 57
2.4.2. Thực trạng về kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức 58
2.5. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của việc giáo dục đạo đức và quản lý
giáo dục đạo đức ở Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức 59
2.5.1. Thuận lợi 59
2.5.2. Khó khăn, hạn chế 60
v
Tiê
̉
u kết chương 2 62
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA TRUNG
TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
̉
u kết chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1. Kết luận 88
2. Khuyến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIU Trang
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hóa các chức năng trong quá trình quản lý giáo dục…
18
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ vị trí của nhà trường nhìn từ khía cạnh tổ chức và kinh
tế - xã hội…………………………………………………………………
19
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp………………………………
84
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt, khá
của Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức………………………………….
đạo đức của học sinh…………………… ……………………………
46
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát quan điểm của học sinh về vị trí, vai trò
của giáo dục đạo đức trong trung tâm……………………………………
47
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát những phẩm chất đạo đức cần được giáo dục
đối với học sinh Trung tâm GDTX……………………………………….
48
Bảng 2.9: Quan điểm của giáo viên về mức độ quan trọng của
viii
giáo dục đạo đức cho học sinh…………………………………………
49
Bảng 2.10: Khảo sát tính hiệu quả của các hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh đã thực hiện tại Trung tâm GDTX Hoài Đức trong thời
gian qua…………………………………………………………………
50
Bảng 2.11: Sự phối hợp giáo dục đạo đức cho học sinh giữa các lực
lượng giáo dục đạo đức…………………………………………………
52
Bảng 2.12: Kết quả khảo sát thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục
đạo đức…………………………………………………………………
55
Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dạy đạo đức là cái gốc của người cách
mạng.
1.2. Xuất phát từ đặc điểm, vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên và
quản lý giáo dục của các trung tâm giáo dục thường xuyên hiện nay
- Các trung tâm giáo dục thường xuyên là một bộ phận trong hệ thống
giáo dục quốc dân; có nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng nguồn lực lao động xã hội,
tạo cơ hội cho mọi người được học tập suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách toàn
diện, không ngừng ở mỗi người. Trong giai đoạn hiện nay một số trung tâm giáo
dục thường xuyên có số lượng học sinh trong độ tuổi theo học GDTX cấp THPT
rất đông. Riêng Hà Nội có thêm hệ THPT thí điểm. Như vậy, nhiệm vụ giáo dục
đạo đức tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cũng không thể xem nhẹ.
- Học sinh vào học ở các trung tâm giáo dục thường xuyên thường có sức
học trung bình và yếu; nhiều em chưa ngoan, mải chơi; nhiều gia đình có hoàn
cảnh khó khăn Đa số học sinh đều có nguyện vọng được học tại các trường
THPT nhưng không đỗ nên phải vào học GDTX, do đó về tâm lý các em cũng
đã sẵn có điều không thoải mái. Với đối tượng học sinh như vậy thì giáo dục đạo
đức phải được đặt lên hàng đầu: đưa các em vào nề nếp học tập, tổ chức các hoạt
động vui chơi lành mạnh, động viên các em ổn định tâm lý, yên tâm học tập.
- Các trung tâm giáo dục thường xuyên trước đây và nhiều trung tâm hiện
nay đối tượng theo học chủ yếu là những người lớn tuổi, vừa làm, vừa học nên
2 quản lý hoạt động dạy học rất được chú ý. Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức
với mô hình hoạt động đa dạng đang thu hút được rất đông các đối tượng học
sinh trong độ tuổi theo học văn hóa (GDTX cấp THPT và THPT thí điểm), theo
học các lớp trung cấp nghề và theo học hướng nghiệp nghề phổ thông (số lượng
lên đến hàng nghìn học sinh). Để nâng cao chất lượng giáo dục, bên cạnh chất
lượng học văn hóa, chất lượng giáo dục đạo đức cũng rất được quan tâm. Ban
5. Giả thuyết khoa học
Nếu Ban giám đốc có các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học
sinh phù hợp với quy luật khách quan và thực hiện đồng bộ thì sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Không gian, thời gian nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu ở Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức, thành phố
Hà Nội.
- Đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ tháng 4/2013 đến hết tháng
11/2013.
6.2. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Chủ yếu nghiên cứu biện pháp quản lý (cách quản lý) nhưng bên cạnh đó
cũng nghiên cứu và đề xuất nội dung giáo dục đạo đức phù hợp với đối tượng
trung tâm giáo dục thường xuyên hiện nay.
6.3. Giới hạn đối tượng khảo sát
- Khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn của
Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức.
- Khảo sát học sinh, cha mẹ học sinh Trung tâm GDTX huyện Hoài Đức
và một số cán bộ địa phương nơi trung tâm đặt địa điểm.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình khoa học về đạo đức và giáo dục đạo đức nói
chung, các tài liệu lý luận về giáo dục đạo đức và biện pháp quản lý giáo dục
đạo đức học sinh bậc THPT nói riêng; các văn kiện của Đảng, chính sách, Pháp
luật của Nhà nước.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp quan sát, khảo sát thực tế.
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Quan hệ xã hội là quan hệ đặc trưng của con người. Đó là các quan hệ rất
đa dạng và phức tạp, bao gồm quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân
với xã hội. Trong cuộc sống, các cá nhân cần phải tự giác điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Tuy nhiên tự điều chỉnh
hành vi của cá nhân không phải là hành vi tùy ý mà luôn phải tuân theo một hệ
thống các quy tắc, chuẩn mực xác định. Cùng với sự vận động và phát triển của
lịch sử xã hội, các quy tắc chuẩn mực của xã hội cũng có sự biến đổi; nhưng cho
dù ở giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người thì chuẩn mực chung của đạo
đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác, hướng tới quan hệ tốt đẹp giữa
con người với con người, giữa con người với tự nhiên và xã hội. Đồng thời, đạo
đức cũng khẳng định khả năng tu dưỡng, tự giáo dục của mỗi cá nhân, cho nên
đạo đức và giáo dục đạo đức luôn luôn được quan tâm, chú trọng ở mọi thời đại.
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate ( 469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc
của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được
nuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc. Theo ông chuẩn mực đạo
đức phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp nhận thức khoa
học.
Đối với nền văn minh phương Đông thì vấn đề giáo dục đạo đức đã dược
quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551- 479 TCN) mà tư tưởng của ông đã trở
thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà ở nhiều
quốc gia. Ông đề cao đường lối “đức trị” để trị quốc an dân, phát triển đất nước.
Theo quan điểm “Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu
“ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác và xây
dựng học thuyết “ Nhân - Lễ - Chính danh”. Ông được người đời đời tôn làm “
Vạn thế sư biểu”.
chiến trường kỳ, giành lại độc lập tự do, xây dựng một đất nước Việt Nam giàu
đẹp như ngày hôm nay.
Trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà thì vấn đề giáo dục đạo đức, hình
thành và phát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ luôn được Đảng, Nhà
7 nước quan tâm, coi trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo
trong thời kỳ CNH - HĐH đã chỉ rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục
là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và
phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức
cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và
công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong
công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật; có sức khoẻ là những người thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời dặn của Bác Hồ.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập quốc tế đã
tạo ra những định hướng giá trị xã hội mới, hình thành nên những giá trị đạo đức
mới bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp. Tuy nhiên, cùng với
những mặt tích cực cũng đã xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Trước thực tế đó, đã có
nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về đạo đức và giáo dục
đạo đức cho học sinh trong bối cảnh hiện nay.
Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh Hạc làm chủ
biên, trong chương 7 nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người
giáo dục đạo đức cho học sinh và đạt được những thành công nhất định khi áp
dụng vào thực tế tại cơ sở.
Trước thực trạng đáng báo động về suy thoái đạo đức của một bộ phận
học sinh, đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường được nêu trên các phương tiện
thông tin đại chúng thời gian qua. Bộ GD&ĐT phối hợp với các cơ quan chức
năng, các chuyên gia về giáo dục, tâm lý, đã tổ chức nhiều cuộc Hội thảo
nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục đạo
đức, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực học đường trong học sinh phổ
thông. Ngày 2 tháng 7 năm 2013 tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức
Hội nghị báo cáo kết quả khảo sát công tác giáo dục đạo đức trong các nhà
trường phổ thông. Hội nghị do Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan chủ trì.
Tham dự có Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận; Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn
9 hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Trịnh Ngọc Thạch.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá:
“ Tuổi trẻ, nhất là HS-SV, nhiệm vụ trọng tâm là học tập tốt và rèn luyện tu
dưỡng đạo đức. Bởi đạo đức do đấu tranh bền bỉ hàng ngày mà phát triển và
củng cố. Đây phải xem là việc làm thường xuyên, tích cực trau dồi nhân cách,
bồi đắp những giá trị đạo đức, sống chân thành, trung thực, yêu thương con
người, có lòng nhân ái trong quan hệ giữa con người và cộng đồng có hành vi
ứng xử văn hóa. Trách nhiệm của xã hội là phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo
đức, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những chuẩn mực đức tiến bộ, góp phần
khắc phục sự suy thoái về đạo đức trong xã hội nói chung và trong trường học
nói riêng. Có như vậy mới nuôi dưỡng và phát triển được con người” [28,tr.3]
Qua một số nghiên cứu và thực tiễn giáo dục đạo đức trên đây cho thấy
hoạt động giáo dục đạo đức học sinh nói chung, học sinh THPT và GDTX cấp
THPT nói riêng là công việc hết sức phức tạp, không thể có kết quả tốt trong
Người phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh với chuẩn mực đạo đức là “ 8
chữ vàng” do Bác Hồ trao tặng “ Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”
đã đóng góp to lớn vào thành quả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.
Khi bàn về đạo đức có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau. Theo tác
giả Trần Hậu Kiểm thì “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao
gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc
chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó
con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh
phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người
với con người, giữa cá nhân với xã hội”. [19, tr 12]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: “Đạo đức là một
hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp
với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con
người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [ 9, tr.51]
Trong SGK Giáo dục công dân lớp 10, khái niệm đại đức được trình bày
ngắn gọn: “ Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của
cộng đồng, xã hội”
11 Như vậy, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chúng ta có thể thấy
đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa con người với cộng đồng xã hội và tự nhiên.
1.2.2. Giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì: “Giáo dục đạo đức là quá
trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối
Theo Điều 2 Luật Giáo dục 2005 thì mục đích giáo dục là “Đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14]
Mục đích là cái đích cần đạt được của quá trình GDĐĐ. Về bản chất nó là
mô hình giáo dục về nhân cách người học, phản ánh sản phẩm dự kiến của giáo
dục, sản phẩm đó không chỉ là kiểu nhân cách cần được hình thành ở người học
với những nét cá tính của nó mà còn là kiểu tập thể cần được xây dựng với
những sắc thái đa dạng của nó. Mục đích giáo dục đạo đức có 3 chức năng:
+ Làm tiền đề định hướng cho sự phát triển giáo dục.
+ Làm cơ sở để tổ chức quá trình GDĐĐ. Mục đích GDĐĐ quy định việc
lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện cũng như các hình thức tổ chức
giáo dục, xác định các điều kiện để tổ chức thực hiện quá trình GDĐĐ. Căn cứ
vào mục đích GDĐĐ để tổ chức các hoạt động GDĐĐ theo từng địa phương,
từng ngành học, từng trường học cụ thể.
+ Làm chuẩn đánh giá chất lượng GDĐĐ. Chất lượng GDĐĐ là mức độ
đạt được của sản phẩm giáo dục so với mục đích đã đề ra. Căn cứ vào mục đích
giáo dục nhà trường, cơ sở giáo dục đánh giá chất lượng GDĐĐ của mình từ đó
tìm ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng GDĐĐ.
1.2.2.2. Giáo dục đạo đức là một quá trình diễn ra lâu dài.
Tính chất lâu dài của quá trình GDĐĐ thể hiện ở các góc độ sau:
Quá trình GDĐĐ được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc đời
một con người, từ lúc lọt lòng mẹ con người luôn luôn được giáo dục và chỉ kết
thúc khi con người nhắm mắt xuôi tay. Như vậy, GDĐĐ suốt đời và được thực
hiện ở mọi nơi, mọi lúc. QTGDĐĐ phải diễn ra tuần tự theo 3 khâu:
+ GD nhận thức
13
người.
14 + Mâu thuẫn giữa mục đích và phương thức đạt mục đích.
+ Mâu thuẫn giữa các yếu tố trong từng thành tố và mâu thuẫn giữa các
thành tố với nhau
Trong các mâu thuẫn nói trên các nào thắng thế thì đó chính là xu hướng
phát triển của nhân cách.
1.2.2.4. Quá trình giáo dục đạo đức có tính đặc thù.
Mặc dù QTGDĐĐ có tính quy luật chung đối với số đông nhưng cũng có
những ngoại lệ với những đặc điểm cá biệt do trình độ nhận thức, do thói quen
và kết quả được giáo dục trước đó. Giáo dục đạo đức không phải là hoạt động
riêng rẽ mà nó được thực hiện ngay trong cuộc sống, hoạt động và giao lưu của
con người, với những tình huống cụ thể, đa dạng với những hoàn cảnh, điềm
kiện phức tạp đã làm nảy sinh sự kiện. Giáo dục đạo đức cũng không chung
chung mà luôn cụ thể trong những tình huống, hoàn cảnh với những con người
cụ thể.
1 2.2.5. Qúa trình giáo dục đạo đức là quá trình có hai mặt tương tác biện
chứng.
Mặt thứ nhất là những tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo
dục đến các đối tượng giáo dục. Nhà giáo dục là những người đại diện cho thế
hệ đi trước, những người nắm vững mục tiêu chương trình giáo dục bằng các
hình thức giáo dục và phương pháp giáo dục phù hợp với các lứa tuổi để định
hướng phát triển cho học sinh.
Mặt thứ hai: Trong quá trình giáo dục đạo đức có sự hưởng ứng tích cực
của các đối tượng giáo dục trước những tác động của nhà giáo dục.
Trong QTGDĐĐ hai mặt này tác động qua lại với nhau. Những tác động
sư phạm đóng vai trò định hướng còn sự tiếp thu có ý thức của đối tượng giáo
mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít
nhất” [6]
Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra những quan điểm khác nhau
về quản lý:
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “ Quản lý là một qúa trình
định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là hệ thống, là một quá trình tác
động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu
này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”
[18]
16 Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hiện nay quản
lý thường được định nghĩa rõ hơn:“ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “ Quản có nghĩa là giữ; Lý là chỉnh
sửa. Vậy quản lý là làm cho ổn định và phát triển, sao cho trong quản có lý,
trong lý có quản. Trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển, trong phát
triển giữ được hạt nhân cho ổn định” [1]
Theo từ điển Tiếng Việt thì Quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động
của một đơn vị, một cơ quan”.
Như vậy, khái niệm quản lý được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau tùy
theo từng cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên các quan điểm trên đều đề cập đến
bản chất chung của khái niệm quản lý:
- Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế
hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường.