Giải pháp quản lý nghề lưới kéo ven bờ huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐẶNG VĂN CƯỜNG
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGHỀ LƯỚI KÉO VEN BỜ
HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. HOÀNG VĂN TÍNH

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC TS. HOÀNG HOA HỒNG Khánh Hòa - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS. Hoàng Văn Tính là người trực tiếp hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, Chủ
nhiệm đề tài “Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản thành phố Hải Phòng giai đoạn
2011-2020, định hướng đến năm 2030” và các tài liệu liên quan đã cho phép và tạo
mọi điều kiện để tôi sử dụng số liệu thực hiện luận văn.
Trong quá trình triển khai thực hiện luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự
quan tâm của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Viện Khoa học và Công nghệ
Khai thác thuỷ sản và các phòng, ban của Trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng
tôi trong suốt quá trình học tập và các thầy giáo giảng dạy lớp cao học Công nghệ
Khai thác thủy sản khóa học 2012-2014 đã tận tình giảng dạy tôi hoàn thành khóa
học, nâng cao nhận thức chuyên môn để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành
phố Hải Phòng, KS. Phạm Văn Vĩnh - Chi cục Khai thác Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
thành phố Hải Phòng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thủy Nguyên, Viện
Nghiên cứu Hải sản và các bạn đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã tạo điều kiện,
bố trí thời gian cho tôi đi học, đi thu thập số liệu và cung cấp số liệu cần thiết để tôi
hoàn thành luận văn này. Xin cảm ơn tới thể cán bộ công chức, viên chức Viện Kinh tế
và Quy hoạch thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình
học cao học.
Khánh Hòa, ngày 30 tháng 12 năm 2014

Tác giả


3.2.1. Cơ cấu đội tàu lưới kéo ven bờ 32
3.2.2. Ngư cụ khai thác và hoạt động khai thác 41
3.2.3. Hiệu quả kinh tế 44

3.2.4. Hiệu quả về bảo vệ nguồn lợi 47
3.2.5. Thực trạng tổ chức sản xuất, lao động khai thác thủy sản 49
3.2.6. Phân tích mô hình SWOT đối với nghề lưới kéo ven bờ 51
3.2.7. Nhu cầu chuyển đổi nghê của ngư dân 52
3.3. Đề xuất giải pháp quản lý nghề lưới kéo ven bờ 54
3.3.1. Quy hoạch nghề khai thác thủy sản huyện Thủy Nguyên 54
3.3.2. Đánh dấu, phân vùng khai thác 56
3.3.3. Xây dựng mô hình đồng quản lý 57
3.3.4. Giải pháp khuyến ngư, khoa học công nghệ 60
3.3.5. Giải pháp chuyển đổi nghề lưới kéo ven bờ 63
3.3.6. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
1. Kết luận 69
2. Khuyến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75


8 SEAFDEC
Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á
9 PE
Poly Etylen
10 TB
Trung bình
11 TP
Thành phố
12 Tr.đồng
Triệu đồng
13 KT&BVNLTS
Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
14 KTTS
Khai thác thủy sản
15 UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông 7
Hình 1.2. Thiết bị JTEDs kiểu khung sắt tại Malaysia 7
Hình 1.3. Thiết bị JTEDs kiểu hình chữ nhật tại ThaiLan 7
Hình 1.4. Phân vùng khai thác vùng biển thành phố Hải Phòng 17
Hình 3.1. Tàu thuyền và lao động khai thác TP Hải Phòng giai đoạn 2009-2013 27
Hình 3.2. Tàu thuyền lưới kéo theo nhóm công suất thành phố Hải Phòng 29
Hình 3.3. Số lượng tàu lưới kéo và tàu cá huyện Thủy Nguyên 30
Hình 3.4. Cơ cấu cơ cấu đội tàu lưới kéo ven bờ huyện Thủy Nguyên 32
Hình 3.5. Số tàu lưới kéo huyện Thủy Nguyên so với thành phố Hải Phòng 33
Hình 3.6. Cơ cấu tàu lưới kéo theo địa phương giai đoạn 2009-2014 33
Hình 3.7. Biến động đội tàu lưới kéo ven bờ huyện huyện Thủy Nguyên …. 36
Hình 3.8. Sản lượng nghề lưới kéo huyện Thủy Nguyên so với TP Hải Phòng 37
Hình 3.9. Tàu lưới kéo ven bờ huyện Thủy Nguyên 38
Hình 3.10. Máy móc trên tàu lưới kéo ven bờ huyện Thủy Nguyên 38
Hình 3.11. Thiết bị hàng hải trên tàu lưới kéo ven bờ 41
Hình 3.12. Ván lưới kéo 43
Hình 3.13. Gắn điện tại lưới lưới 43
Hình 3.14. Sản lượng khai thác lưới kéo trong ngày 44
Hình 3.15. Doanh thu, chi phí tàu lưới kéo ven bờ 45
Hình 3.16. Biểu đồ so sánh lợi nhuận các nhóm công suất 46
Hình 3.17. Các đối tượng khai thác 49
Hình 3.18. Biển hiệu nhận biết phao đánh dấu 56
Hình 3.19. Bố trí phao tín hiệu các đia phương 57
Hình 3.18. Sơ đồ mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ 58
1

còn những hạn chế nhất định; trình độ văn hóa của đội ngũ thuyền, máy trưởng và ngư
dân còn thấp. Hệ thống cảng, bến cá chưa đồng bộ; công tác quản lý nguồn lợi, đăng
ký, đăng kiểm, cấp phép hoạt động nghề cá còn nhiều hạn chế; việc điều tra nguồn lợi,
dự báo ngư trường, mùa vụ khai thác, cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, việc bảo vệ các
vùng cấm, đối tượng cấm khai thác cũng như việc kiểm soát vùng khơi… còn nhiều
2
bất cập; kinh tế của ngư dân còn khó khăn; nguồn lợi thuỷ sản gần bờ ngày càng bị cạn
kiệt do khai thác quá mức và sử dụng các phương pháp khai thác mang tính huỷ diệt;
ảnh hưởng của diễn biến bất thường của thời tiết, tình hình an ninh trên biển diễn biến
phức tạp, giá cả nguyên liệu, nhân công tăng cao là những yếu tố ảnh hưởng và tác
động bất lợi đến khai thác thủy sản.
Từ những phân tích trên, tôi thực hiện đề tài “Giải pháp quản lý nghềlưới kéo
ven bờ huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng”.
Mục tiêu của đề tài: Đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả nghề lưới kéo ven bờ
huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng.
Nội dung chính của báo cáo:
Chương I: Nghiên cứu tổng quan
Chương II: Nội dung và phương pháp NC
Chương III: Kết quả nghiên cứu

3
CHƯƠNG I. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1. Nghiên cứu tổng quan trong và ngoài nước
1.1.1. Ngiên cứu ngoài nước
Các biện pháp được đưa ra để ngăn chặn và kiểm soát những tác hại cho các hệ
sinh thái biển dễ bị tổn thương do nghề lưới kéo đáy gây ra bằng cách quan tâm tới
hoạt động khai thác ở những khu vực có thể bị ảnh hưởng nhiều, đồng thời giảm thiểu
tác động của nghề khai thác ở những khu vực khác. Ngư trường có diện tích 112.000
km
2
sẽ bị đóng cửa và không một khu vực mới nào được mở cửa để đảm bảo rằng hoạt
động khai thác bằng lưới kéo đáy không tăng lên so với mức hiện nay.
Ở các khu vục có hoạt động khai thác bằng lưới kéo đáy với mức độ vừa phải sẽ
có một quy định yêu cầu các tàu có sản lượng đánh bắt kém phải dừng khai thác, di
dời ra xa 5 hải lý và báo cáo về sản lượng đánh bắt kèm cho Bộ Thuỷ sản. Những khu
vực có nghề lưới kéo đáy hoạt động mạnh mà không bị đóng cửa sẽ vẫn được duy trì,
nhưng các tàu khai thác được quy định phải báo cáo ít nhất cho một giám sát viên của
Bộ Thuỷ sản [40].
Trung Quốc: Các biện pháp đưa ra chủ yếu là: Tăng cường pháp chế và quản
lý nghề cá; loại bỏ hẳn nghề lưới kéo đáy gần bờ (từ 3 hải lý trở vào), đưa nghề lưới
kéo đáy ra khơi và ra viễn dương; cấm hẳn việc khai thác trong 2 tháng liền vào mùa
sinh sản của hải sản ở từng vùng biển riêng; tích cực thả con giống vào biển và đã
thành công ngoài mong đợi về việc khôi phục và phát triển nguồn lợi tôm he (sản
lượng tôm khai thác tăng nhanh tới 1 triệu tấn/năm) [40].
Ấn Độ: Là nước đi tiên phong trong việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản,
trách nhiệm quản lý được phân vùng như chính quyền các tiểu bang và vùng lãnh thổ có
trách nhiệm quản lý nghề khai thác hải sản trong vùng lãnh thổ của mình, Chính phủ Liên
bang chịu trách nhiệm quản lý nghề khai thác hải sản vùng khơi.
Quy định một số ngư cụ bị cấm sử dụng ở một số bang như tàu lưới kéo bị cấm sử
dụng ở vùng lãnh hải của bang Tamil và Nadu [40].
Các nước Đông Nam Á:
Malaysia: Cấm tàu thuyền dùng lưới kéo đáy sát bờ (từ 3 hải lý trở vào), đồng

Hợp phần 1: Tăng cường thể chế chính sách quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu
nhiên trong nghề lưới kéo đáy. Trên cơ sở hướng dẫn kỹ thuật của các chiến
lược/chính sách quốc tế và khu vực về quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong
nghề lưới kéo đáy, chiến lược/chính sách và kế hoạch hành động cho việc giảm thiểu
đánh bắt cá con, cá tạp và các đối tượng cần được bảo vệ như rùa biển, san hô, cỏ
biển sẽ được xây dựng cho Việt Nam, trước mắt là khu vực triển khai dự án. Các quy
định về ngư cụ, thời gian và khu vực khai thác sẽ được xây dựng với mục tiêu hạn chế
ảnh hưởng, tác động của hoạt động đánh bắt của nghề lưới kéo đáy lên khu vực ven bờ.
Hợp phần 2: Các giải pháp kỹ thuật cho nghề lưới kéo đáy nhằm bảo vệ nguồn
lợi hải sản vùng biển ven bờ. Thông qua các hoạt động thử nghiệm, chọn lọc các thiết
bị thoát cá con, thoát rùa thông qua sự hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật chặt chẽ của
6
SEAFDEC, Ban chỉ đạo kỹ thuật của FAO, ngư cụ và thiết bị phù hợp sẽ được phát
triển cho từng đội tàu khai thác tôm tại địa phương.
Hợp phần 3: Cải thiện nguồn thông tin, số liệu về hoạt động của nghề lưới kéo
đáy tại điểm trình diễn dự án. Thông tin về số lượng phương tiện, thời gian hoạt động
(mùa vụ), hệ số hoạt động đội tàu (BAC), ngư cụ và cơ cấu nghề của địa phương sẽ
được thu thập, đánh giá. Đặc biệt các đánh giá về sinh kế/thu nhập, hoạt động sản xuất
(ngư trường, nhân công, sản lượng và thành phần sản lượng, hiệu quả kinh tế, đầu tư,
thị trường, chuỗi cung cấp sản phẩm ) sẽ được tìm hiểu, đánh giá.
Hợp phần 4: Tăng cường năng lực quản lý ngành, nâng cao nhận thức cho cộng
đồng về đánh cá có trách nhiệm. Năng lực quản lý ngành được tăng cường thông qua
nâng cao nhận thức của các cơ quan chức năng về đánh cá có trách nhiệm và tiếp cận
hệ sinh thái. Các ngư cụ, thiết bị và quy định về kích thước mắt lưới sử dụng, vùng và
mùa vụ khai thác sẽ được đưa vào các quy định pháp lý (Nghị định, Thông tư, )
nhằm hướng tới nghề cá bền vững và thân thiện với môi trường. Nhận thức của cộng
đồng về đánh cá có trách nhiệm, vấn đề cân nhắc giữa những cái được và mất trước

Nhận xét: Với những nghiên cứu ngoài nước như trên, đề tài đã kế thừa và nhận
thấy những giải pháp quản lý phù hợp với thực tế nghề lưới kéo ven bờ huyện Thủy
Nguyên như: quản lý nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng; dần loại bỏ hẳn nghề lưới kéo
đáy gần bờ; cần có giải pháp đồng bộ cả về kỹ thuật và chính sách quản lý để có được
mục tiêu là nghề cá bền vững; lắp đặt thiết bị thoát cá con đối với các tàu lưới kéo.

8
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
1.1.2.1. Nghiên cứu khoa học về nghề lưới kéo
Nghiên cứu cải tiến ngư cụ
- Từ 7/1998 – 7/2001 TS. Hoàng Hoa Hồng và K.S. Cao Xuân Tiều đã tiến
hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cải tiến, thiết kế mẫu lưới kéo đôi cho tàu từ 90 cv
trở lên của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Quá trình nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả
nghiên cứu như sau:
+ Thu thập các số liệu có liên quan đến kết cấu lưới kéo, trang thiết bị, phương
pháp và kỹ thuật khai thác tại các cơ sở có nghề khai thác hải sản bằng lưới kéo đôi và
thông qua đó lựa chọn lưới mẫu làm cơ sở cho tính toán thiết kế lưới mới.
+ Tính toán và thiết kế mẫu lưới mới và đã thi công, lắp ráp các mẫu lưới này
để sử dụng cho các chuyến khai thác thử nghiệm. Sử dụng đôi tàu có công suất 350 cv
và 150 cv để tiến hành các thử nghiệm các mẫu lưới thiết kế ở vùng biển xa bờ của Bà
Rịa – Vũng Tàu.
+ Sau khi thử nghiệm trên biển, điều chỉnh, cải tiến kết cấu lưới và trang bị
phụ đã xác định được mẫu lưới có kết quả tốt hơn các mẫu lưới khác và mẫu lưới
ngư dân đang sử dụng.
Mẫu lưới thiết kế được đưa vào hoạt động thử nghiệm trên đội tàu lưới kéo đôi có
công suất máy là 350 cv và 150 cv đã cho kết quả khả quan. Sản lượng khai thác cao, nhất
là các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: mực, cá xuất khẩu đều tăng hơn so với lưới đối

Mẫu lưới này đánh bắt hải sản ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ nơi có độ sâu chủ yếu từ
30 – 50 m nước, bước đầu đã đạt một số kết quả nhất định, khắc phục được tình trạng
đánh bắt các đàn cá nổi nhỏ ven bờ khi sử dụng các loại mắt lưới to của Trung Quốc đối
với các tàu lưới kéo đôi có công suất 300 cv khai thác hải sản ở Vịnh Bắc Bộ [33].
- Năm 2003, tác giả Nguyễn Phong Hải đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên
cứu áp dụng thiết bị thoát cá con kiểu JTED cho nghề lưới kéo tôm ven bờ tỉnh Kiên
Giang”. Đề tài đã thu thập các số liệu có liên quan đến tàu thuyền, trang thiết bị, phương
pháp khai thác hải sản bằng lưới kéo tôm ven bờ và thông qua đó lựa chọn cỡ tàu làm cơ
sở cho tính toán thiết kế thiết bị thoát cá con kiểu JTED.
+ Nghiên cứu dòng chảy quanh thiết bị JTED và dọc theo đụt lướt có gắn thiết
bị JTED được tiến hành tại bể thí nghiệm thuỷ động. Kết quả nghiên cứu cho thấy có
một số lợi điểm về dòng chảy được tạo ra bởi thiết bị JTED để kích thích sự trốn thoát
của cá con ra khỏi lưới;
+ Nghiên cứu đánh bắt thực nghiệm trên tàu lưới kéo tôm có công suất 45 cv ở
Kiên Giang cho thấy tỷ lệ lọc cá tạp (theo khối lượng) ra khỏi lưới là 72,3%. Tuy
10
nhiên lượng thất thoát tôm và các loại cá kinh tế vẫn cho tỷ lệ cao (7,9% cho tôm và
16,1% cho cá kinh tế) [26].
- Năm 2005, tác giả Lê Xuân Tài đã thực hiện luận án tiến sỹ “Đánh giá ảnh
hưởng của một số yếu tố đến tính chọn lọc của lưới kéo đáy vùng biển Đông Nam Bộ
bằng phương pháp phân tích lô-gic thông tin”. Luận án đã phân tích và đánh giá được
các yếu tố ảnh hưởng đến tính chọn lọc của ngư cụ; thiết lập quan hệ giữa các yếu tố
nghiên cứu với tính chọn lọc của ngư cụ cho từng nhóm cá; xác định các chỉ số thông
tin; xác định mối liên hệ thông tin riêng của các yếu tố đến hiện tượng chọn lọc; phân
tích phối hợp mối quan hệ tác động giữa các yếu tố khảo sát và hiện tượng chọn lọc;
đánh giá quy luật ảnh hưởng của các yếu tố đến hiện tượng nghiên cứu [36].
- Năm 2011, tác giả Đỗ Đình Minh đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá

- Ngày 20/6/2013 tại TP. Hồ Chí Minh, Tổng cục Thủy sản đã tổ chức Hội thảo
khởi động Dự án “Xây dựng chiến lược quản lý sản phẩm đánh bắt không mong muốn
trong nghề lưới kéo đáy”.
+ Thực hiện việc tuân thủ Bộ quy tắc ứng xử về đánh cá có trách nhiệm, việc
ứng dụng các biện pháp quản lý như mùa vụ, khu vực cấm đối với lưới kéo, áp dụng
các thiết bị giảm thiểu đánh bắt cá con, rùa biển… được khuyến khích áp dụng trên
toàn thế giới.
+ Dự án “Xây dựng chiến lược quản lý nhóm sản phẩm khai thác không mong
muốn cho nghề lưới kéo đáy – REBYC” giai đoạn 1 được thực hiện trong 5 năm (2002
– 2008). Dự án (REBYC-1) đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia. Để tiếp
tục nhân rộng ảnh hưởng của dự án này, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) cùng với Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) đã hỗ trợ các quốc gia khu
vực Đông Nam Á xây dựng và thực hiện dự án REBYC-2, bao gồm: Thái Lan,
Inđônêxia, Philíppin, Papuaniuginni và Việt Nam.
+ Dự án được tập trung vào 4 hoạt động chính sau: (1): Xây dựng khung thể
chế, chính sách cho quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo tôm tại
Kiên Giang; (2) Xây dựng các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu sản phẩm đánh bắt
ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo đáy; (3) Quản lý thông tin và truyền thông về sản
phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo đáy và (4) Quản lý kiến thức và nhận
thức. Dự án nhằm tăng cường năng lực cho việc quản lý hoạt động khai thác của nghề
lưới kéo theo hướng thân thiện với môi trường, nguồn lợi biển, giảm tác động tiêu cực
đối với hệ sinh thái thông qua cải thiện khung pháp lý, hướng dẫn kỹ thuật, thông tin
số liệu và nâng cao nhận thức.
+ Hội thảo bước đầu đã thống nhất về những tác động tiêu cực có thể do nghề
lưới kéo đem lại đối với môi trường và nguồn lợi hải sản và xác định được những khó
khăn có thể trong việc triển khai dự án như sự đồng thuận của ngư dân và các bên
tham gia liên quan. Bên cạnh đó, thời gian đầu áp dụng các thiết bị thoát cá con có thể
12
nghề này theo hướng có trách nhiệm hơn.
Nhận xét: Qua các nghiên cứu trong nước về tính chọn lọc, cải tiến và giải pháp
quản lý nghề lưới kéo ven bờ; trong khuân khổ đề tài ghi nhận được các kết quả như tỷ
13
lệ cá tạp trong nghề lưới kéo; lắp thiết bị thoát cá con; khai thác có trách nhiệm; các giải
pháp quản lý nghề lưới kéo phù hợp
1.1.2.2. Quy định pháp lý về hoạt động khai thác
Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến quản lý nghề lưới
kéo và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Việt Nam như sau:
- Luật thủy sản 2003, điều 13 ghi rõ: “Nhà nước có chính sách tổ chức lại sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động khai thác thủy sản ở vùng biển
ven bờ…” nhưng đến nay vấn đề này vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức.
- Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thủy sản (nay là Bộ
NN&PTNT) về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-
CP ngày 04/5/2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản.
Thông tư này Quy định kích thước mắt lưới nhỏ nhất tại bộ phận tập trung cá của các
ngư cụ khai thác thuỷ sản biển.
- Thông tư số 62/2008/TT-BTS, ngày 20/5/2008. Sửa đổi, bổ sung một số nội
dung của Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn
thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4/5/2005 của Chính phủ về điều kiện sản
xuất, kinh doanh một số ngành nghề Thủy sản.
- Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt
động KTTS của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển.
- Quyết định số 188/2012/QĐ-TTg ngày 13/02/1012 của TTCP phủ về việc phê
duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020.
- Thông tư số 48/2010/TT-BNNPTNT, ngày 11/ 8/2010, Thông tư quy định chi
tiết thi hành một số điều của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính

vùng biển quy định: Tàu lắp máy có công suất máy chính dưới 20 cv hoặc tàu không
lắp máy khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ không được khai thác thủy sản tại vùng
lộng, vùng khơi và vùng biển cả.
Tuy nhiên việc thực thi các văn bản pháp luật chưa đạt được hiệu quả cao do ngư
dân chưa có các giải pháp, chính sách khuyến khích chuyển đổi nghề thích hợp đảm
bảo được sinh kế của họ. Các mô hình chuyển đổi nghề lưới kéo ven bờ xâm hại
nguồn lợi vẫn chưa được chú trọng, vì vậy việc giảm số lượng tàu thuyền làm nghề
lưới kéo và điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp hợp lý còn gặp nhiều khó khăn.
1.2. Tổng quan về nghề khai thác hải sản huyện Thủy Nguyên
1.2.1. Đặc điểm cơ bản về vị trí địa lý, dân số huyện Thủy Nguyên
1.2.1.1. Đặc điểm về vị trí địa lý
Huyện Thuỷ Nguyên ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, có giới hạn địa lý từ
20
0
52
'
đến 21
0
01
'
vĩ độ Bắc và 106
0
31
'
đến 106
0
46
'
kinh độ Đông, được bao bọc 4 mặt
bởi sông và biển, có 35 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 24.279,9 ha,

Thuỷ Nguyên đang có cốt đất thấp, thường xuyên bị ngập nước và có hiện tượng xâm
thực vào đất liền gây nhiễm mặn khá rõ. Vào mùa đông nguồn nước của các sông
thường bị nhiễm mặn, nguồn nước ngọt chủ yếu của huyện dựa vào hồ sông Giá, kênh
Hòn Ngọc và các ao, hồ, đầm, ruộng trũng.
1.2.1.2. Dân số và lao động
Dân số trung bình của huyện năm 2014 là 310.000 người. Mật độ dân số của
Thuỷ Nguyên đạt khoảng 1.300 người/km
2
. Dân số của Thuỷ Nguyên phân bố không
đều, thị trấn Núi Đèo là nơi có mật độ dân số cao nhất của huyện 3765người/km
2
, Gia
Minh là xã có mật độ dân số thấp nhất 371 người/km
2
[19].

Trích đoạn Phân tích mô hình SWOT đối với nghềlưới kéo ven bờ Nhu cầu chuyển đổi nghê của ngư dân Đánh dấu, phân vùng khai thác Xây dựng mô hình đồng quản lý Giải pháp khuyến ngư, khoa học công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status