1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
i. Tính cấp thiết của đề tài 6
ii. Mục tiêu nghiên cứu 7
iii. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 7
iv. Thời gian, địa điểm nghiên cứu: 8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trong nước và trên thế giới 9
1.1.1. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trên thế giới 9
1.1.2. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trong nước 9
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả kinh tế trong khai
thác thủy sản 11
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 11
1.2.2. Nghiên cứu trong nước 14
1.3. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Thủy Nguyên – Hải
Phòng. 15
1.3.1. Vài nét về tình hình kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng 15
1.3.1.1. Hiện trạng tàu thuyền khai thác thủy sản thành phố Hải Phòng 16
1.3.1.2. Cơ cấu nghề nghiệp khai thác thuỷ sản 18
1.3.2. Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội huyện Thủy Nguyên – Hải Phòng 20
1.4. Ngư trường và nguồn lợi nghề lưới chụp mực 22
1.4.1. Ngư trường 22
1.4.1.1. Vị trí địa lý 22
1.4.1.2. Địa hình chất đáy 22
1.4.1.3. Khí tượng hải dương 22
1.4.2. Nguồn lợi 24
1.4.2.1. Giới thiệu chung. 24
2
1.4.2.2. Nguồn lợi nghề lưới chụp mực. 25
1.4.2.3. Đối tượng khai thác chính của nghề lưới chụp mực. 25
3.3. ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN DOANH
THU CỦA ĐỘI TÀU 59
3.3.1. Kiểm định mô hình 61
3.3.1.1. Kiểm định tự tương quan 61
3.3.1.2. Kiểm tra đa cộng tuyến 61
3.3.1.3. Kiểm định phương sai thay đổi 61
3.3.2. Kết quả hồi quy 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
4.1. Kết luận 64
4.2. Khuyến nghị 65
4.2.1. Khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của một số
nhân tố tới hiệu quả kinh tế. 65
4.2.2. Một số khuyến nghị khác 67
4.3. Hạn chế của đề tài. 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 72 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
o0o
Số
hiệu
bảng
Tên bảng Trang
1.1
58
3.9 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 60
5
DANH MỤC CÁC HÌNH
o0o
Số hiệu
hình
Tên hình Trang
1.1 Mực ống (Loligo chinensis) 26
1.2 Mực Nang vân hổ (Sepiella pharaosis) 26
1.3 Mực Nang vàng (Sepiella esculenta) 27
1.4 Mực lá (Sepioteuthis lessoniana Lesson) 27
1.5 Cá Hố (Trichiurus lepturus) 28
1.6 Cá Nục Sò (Decapterus maruadsi) 28
1.7 Cá Nục thuôn (Decapterus macrosoma) 28
1.8 Cá Trích (sardinella) 29
3.1 Biểu đồ theo dải công suất huyện Thủy Nguyên năm 2009
37
3.2 Hình vẽ tổng thể tàu chụp mực 39
3.3 Bố trí phía mũi 39
3.4 Bố trí phía lái tàu 40
3.5 Hình tổng thể máy tời 40
3.6 Bố trí hệ thống cẩu 41
3.7 Hình tổng thể máy định vị 42
3.8 Cách bố trí nguồn sáng trên tàu chụp mực 43
trọng, sự phát triển một cách tự phát không theo quy hoạch của các nhóm nghề,
số lượng tàu lại quá nhiều nên hiệu quả khai thác được ngày một thấp, lợi nhuận
thu được của mỗi tàu ngày một giảm. Để có thể ra khơi bám biển, đảm bảo chi
phí phục vụ cho chuyến biển, các tàu đã tăng cường độ khai thác như: tăng số
mẻ lưới trong một ngày đêm, tăng số ngày hoạt động,… để có thể thu được
nhiều sản phẩm. Khai thác vừa đạt hiệu quả cao vừa bảo vệ được nguồn lợi thủy
sản luôn là vấn đề được đặt ra cho các nhà nghiên cứu. Vì vậy, vấn đề cấp bách
hiện nay là cần có biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả khai thác của nghề,
cân đối với khả năng hiện có của nguồn lợi để nghề khai thác thủy sản nói chung
và nghề lưới chụp mực nơi đây nói riêng phát triển một cách hiệu quả. Trên thực
7
tế nghề chụp mực của Hải Phòng luôn có những biến động do chịu sự tác động
của nguồn lợi thủy sản, nhu cầu về thực phẩm của thị trường trong và ngoài
nước, tập quán khai thác thủy sản của cộng đồng ngư dân Trong quá trình
nghiên cứu đã có một số tư liệu nói về nghề lưới chụp mực, nhưng mới chỉ đi
nghiên cứu về công nghệ, đánh giá hiệu quả chung cho nghề cá, chưa đi sâu
đánh giá hiệu quả kinh tế vào từng đội tàu và từng địa phương cụ thể. Việc điều
chỉnh cơ cấu sản xuất theo nghề phải dựa trên sự phân tích đánh giá hiệu quả
kinh tế của từng loại nghề, của từng đội tàu để có cách nhìn tổng thể về tình hình
khai thác thủy sản. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới chụp
mực là thực sự cần thiết, làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nghề cá
địa phương hoạch định chính sách, cơ cấu lại nghề nghiệp hợp lý và khai thác
đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tình hình khai thác thủy sản tại địa phương,
được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa khai thác thủy sản – Trường Đại học
Nha Trang, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS. Hoàng Hoa Hồng, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới chụp mực
tại huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng”.
ii. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới chụp mực tại huyện Thủy Nguyên
9
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trong nước và trên thế giới
1.1.1. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trên thế giới
Lưới chụp mực là ngư cụ sử dụng nguồn sáng để khai thác cá, có từ lâu đời và
được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Sự hình thành nghề lưới chụp mực được bắt
nguồn từ nhu cầu sử dụng nguồn sáng để khai thác các đàn cá bị thu hút bởi ánh
sáng ở những vùng nước khác nhau, mà các loại ngư cụ khác không thực hiện
được hoặc thực hiện với hiệu quả thấp. Lưới chụp mực gồm nhiều tấm ghép lại
với nhau, có cấu tạo đơn giản và thon dần từ miệng đến đụt lưới. Trong thời gian
đầu, các loại đèn hơi, đèn măng xông và các đèn điện sợi đốt được sử dụng để
khai thác cá. Năm 1955, các thí nghiệm dùng đèn huỳnh quang để lôi cuốn cá
được thực hiện, kết quả thí nghiệm khá tốt nhưng chưa đưa vào sử dụng phổ biến
do tính phức tạp của nó. Đến năm 1962, đèn huỳnh quang được đưa vào sử dụng
phổ biến do tính hiệu quả của nó cao hơn nhiều so với các loại đèn khác [25].
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật đã có tác động lớn đến nghề lưới chụp mực. Các quốc
gia có nghề chụp mực phát triển nhất là Trung Quốc, Thái lan, Nauy, Nhật
Bản…ở các quốc gia này nghề lưới chụp mực đã phát triển tới trình độ cao. Tàu
thuyền, trang thiết bị khai thác, máy móc, ngư cụ đều được trang bị những kỹ
thuật tiên tiến, hiện đại. Các tàu lưới chụp mực hoạt động ở những vùng biển xa
bờ thuộc Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và ở bờ biển Địa
Trung Hải. Đội tàu lưới chụp mực có thể hoạt động dài ngày trên biển và đem
lại hiệu quả khai thác cao.
1.1.2. Tình hình phát triển nghề lưới chụp mực trong nước
Lưới chụp mực được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu của thập kỉ
90. Đây là một nghề khai thác đạt hiệu quả kinh tế cao đóng góp một sản lượng
11
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả kinh tế trong
khai thác thủy sản
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ngành khai thác thủy sản là một ngành khoa học phát triển muộn hơn so với
các ngành khoa học khác, song cùng với sự phát triển của xã hội, ngành khai
thác thủy sản cũng ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Những nghiên cứu
về kinh tế trong lĩnh vực khai thác thủy sản đã được thực hiện ở nhiều quốc gia
trong nhiều năm như một phương tiện để đánh giá khả năng phát triển nghề khai
thác thủy sản của họ.
Ở Thái Lan
Một trong những nghiên cứu kinh tế đầu tiên trong lĩnh vực khai thác thủy sản
là của tác giả Huvanandana [4] được thực hiện vào năm 1973. Ông đã nghiên
cứu và so sánh doanh thu chi phí của 2 đội tàu lưới vây và lưới vây có túi của
Thái Lan và Trung Quốc khai thác cá thu ở vùng biển Ấn Độ Dương. Kết quả
cho thấy lưới vây có túi là ngư cụ mang lại lợi nhuận cao hơn.
Panayotou (1980) [21] đã xem xét những điều kiện kinh tế xã hội của ngư dân
hoạt động đánh bắt nghề cá nhỏ mâu thuẫn với ngư dân hoạt động đánh bắt nghề
cá có quy mô lớn, đánh giá những ích lợi mà ngư dân được hưởng từ những
chính sách của chính phủ và viễn cảnh của các chính sách. Nghiên cứu đặc biệt
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các hoạt động ngoài khai thác nhằm tăng chi
phí cơ hội của cộng đồng ngư dân tham gia nghề cá nhỏ, tạo điều kiện cải thiện
thu nhập cho ngư dân và tái tạo lại nguồn lợi.
Kumpa (1981) [21] đã phân tích cấu trúc chi phí và khả năng sinh lợi của các
đội tàu khai thác quy mô nhỏ ở thành phố Chumphon. Tác giả nhận thấy rằng
yếu tố quyết định sản lượng đánh bắt và doanh thu là kinh nghiệm, kích thước
tàu và thời gian khai thác, và khi ngư dân sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào
thì doanh thu lại biến đổi theo loại ngư cụ và kích thước ngư cụ. Các loại ngư cụ
12
đó nghề cá toàn thời gian và bán thời gian thường tiêu tốn nhiều hơn so với hai
nhóm còn lại.
Nghiên cứu của FAO:
Báo cáo của FAO [22] về thành tựu kinh tế kỹ thuật nghề cá đã tóm tắt những
kết quả tài chính trong hoạt động khai thác hải sản của 15 nước thực hiện trong
năm 1999 và 2000. Nghiên cứu này dựa trên kết quả điều tra đã được thực hiện
từ năm 1995 đến 1997 và được xuất bản trên tạp chí FAO Fisheries Technical
Paper số 377, 421 và 482. Nghiên cứu cho thấy, trong 108 nghề được nghiên
cứu tại 15 nước ở Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và Châu Á có 105 nghề đạt
dòng tiền dương chiếm 97%. Chỉ có 03 nghề gồm: nghề đáy (Stow-netters) ở
Trung Quốc, tàu thuyền đánh cá bán công nghiệp (semi-industrial), công nghiệp
tôm (industrial shrimp) và nghề lưới kéo đáy (bottom fish trawlers) ở Trinidad
và Tobago cho thấy dòng tiền âm. Nghiên cứu cũng cho thấy khi xem xét chi phí
sử dụng vốn như: chi phí khấu hao và chi phí lãi vay thì có 92 nghề đạt lợi
nhuận khai thác dương, chiếm 85% tổng số nghề nghiên cứu.
Ở Brazil:
Almeida và cộng tác viên (2001) [4] đã phân tích kinh tế của một đội tàu đánh
bắt cá thương mại dựa trên 50 cuộc phỏng vấn các chủ phương tiện. Trong đó,
tàu thuyền có sự đồng nhất trong công nghệ về thiết bị và thiết kế thân tàu
nhưng khác nhau về kích thước tàu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tàu thuyền nhỏ
có hiệu quả kinh tế cao hơn trong thu nhập liên quan đến chi phí, nhưng lại thấp
hơn trên một đơn vị cường lực khai thác so với tàu thuyền lớn. Các tác giả giải
thích rằng, hiệu quả kinh tế lớn hơn của những tàu thuyền nhỏ là do sự kết hợp
giữa lao động và thị trường sản phẩm, trong khi đó tàu thuyền lớn phải đối mặt
với thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn và các khoản chi phí khác lớn hơn.
Chi phí nhiêu liệu là các khoản chi phí lớn nhất trong hoạt động khai thác, chiếm
30% đối với tàu thuyền nhỏ và 63% đối với tàu thuyền lớn. (Almeida et al 2001)
Ở Anh:
14
15
đội tàu và chiến lược thu mẫu chi phí cố định để bổ sung cho cơ sở dữ liệu. Tuy
nhiên, các nghiên cứu còn mang tính chất tổng quát, chưa đi sâu vào từng đội
tàu và từng địa phương cụ thể. Bên cạnh đó, số lượng lấy mẫu quá ít nên chưa
thể khái quát một cách chính xác cho nghề cá ở địa phương. Do vậy, chưa đảm
bảo được tính tập trung và chính xác cao.
Ở nước ta nghề khai thác thủy sản mới đưa ra được các chỉ tiêu nghề để đánh
giá mức độ khai thác của các địa phương trên cả nước, mục đích của các công
trình nghiên cứu này là để nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả nguồn lợi của
mỗi nghề, mỗi cỡ tàu. Từ đó xác định quy mô tàu thuyền phù hợp với từng nghề,
từng ngư trường để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, cũng chỉ dừng lại ở kết
quả tính toán, mang tính tham khảo, việc triển khai, áp dụng xuống ngư dân còn
nhiều hạn chế.
Xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì hạn chế về thời gian chi phí, đề
tài không thể đi sâu thu thập dữ liệu trong nhiều năm mà chỉ có thể nghiên cứu
trong một năm cụ thể với doanh thu và chi phí khai thác trung bình. Vì vậy, đề
tài bỏ qua sự biến động về giá, coi như giá cá trong một năm là cố định, từ đó sử
dụng các chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá.
1.3. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Thủy Nguyên –
Hải Phòng
1.3.1. Vài nét về tình hình kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một thành phố ven biển, nằm phía đông miền duyên hải Bắc Bộ.
Cách thủ đô Hà Nội 102km, có tổng diện tích kể cả biển vào khoảng 500.000 ha.
Trong đó có hai huyện đảo là Cát Hải và Bạch Long Vĩ với chiều dài trên
125km bờ biển. Vùng biển của Hải Phòng nằm ở vị trí trung tâm vịnh Bắc Bộ,
có ngư trường khai thác rất thuận lợi như ngư trường Long Châu – Cát Bà, ngư
trường Bạch Long Vĩ, có nhiều hải đảo và vùng triều ngập mặn rộng lớn, có vị
trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng – an ninh của quốc gia.
16
thác với tổng công xuất 112.678cv, bình quân công suất tàu đạt 28,26 cv/chiếc.
Bảng 1.1 : Diễn biến số lượng tàu thuyền khai thác của thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2006 – 2009
TT
Địa
phương
2006 2007 2008 2009
Số
lượng
(chiếc)
Công
suất
(cv)
Số
lượng
(chiếc)
Công
suất
(cv)
Số
lượng
Công
suất
(cv)
Số
lượng
13 125 17 160 18 220 34 603
9 Vĩnh Bảo 47 930 27 224 38 290 58 710
10
Dương
Kinh
112 1.680 130 2.743
11 Tổng 2.240 83.316
2.200 69.240
3.105 91.410
3.987 112.678
(Nguồn: Cục Thống Kê Hải Phòng, Sở NN&PTNT Hải Phòng [2],[3])
Bảng 1.2: Phân loại theo số tàu đánh bắt xa bờ của thành phố Hải Phòng năm 2009
TT ĐVT
Tổng
số
Cát
Hải
Kiến
Thụy
Thuỷ
Nguyên
Hải
An
Đồ
và cải hoán phương tiện để bám biển khai thác, góp phần bảo vệ an ninh chủ
quyền trên biển của tổ quốc.
Tuy nhiên, tại hầu hết các quận huyện số tàu tăng thêm chủ yếu là các tàu có
công suất nhỏ hơn 40cv. Nguyên nhân là do nhận thức của ngư dân và các địa
phương về chấp hành những quy định trong công tác đăng ký, đăng kiểm, xin
cấp giấy phép hoạt động nghề cá còn thấp, cũng như công tác tuyên truyền, đôn
đốc, giám sát phối hợp kiểm tra của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế
nên các tàu cá nhỏ đã đóng từ trước nhưng chưa thực hiện việc đăng ký, cấp
phép hoạt động nghề cá, khi có chính sách hỗ trợ của nhà nước mới thực hiện
việc đăng ký đăng kiểm để được hưởng trợ giá nhiên liệu.
Trong số các quận huyện có nghề khai thác thủy sản thì huyện Thủy Nguyên
có số lượng tàu khai thác hải sản xa bờ chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm tới 79,68%
tổng số tàu khai thác xa bờ của thành phố và đây được coi là địa phương trọng
điểm, đi đầu trong phát triển khai thác thủy sản của thành phố.
1.3.1.2. Cơ cấu nghề nghiệp khai thác thuỷ sản
Do tính chất đa loài và phân tán của nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh Bắc
Bộ nên phần lớn các tàu thuyền đánh cá của Hải Phòng thường kiêm nghề, chỉ
có các nghề như nghề lưới rê thu, nghề lưới rê 3 lớp khai thác mực, lưới chụp
mực, là những nghề khai thác xa bờ nên ít kiêm nghề hơn.
Các loại nghề như nghề lưới kéo cá, lưới kéo tôm, lưới rê thường, lồng bẫy,…
thường hoạt động kiêm nghề, trên tàu đôi khi có tới 2-3 loại nghề, hết thời vụ
nghề này sẽ chuyển sang nghề khác để đảm bảo khai thác quanh năm và tiết
kiệm chi phí sản xuất.
19
Tỷ lệ các họ nghề trong tổng số tàu khai thác thủy sản của thành phố Hải
Phòng năm 2009 được thống kê như bảng sau:
Bảng 1.3: Cơ cấu nghề nghiệp khai thác của Hải Phòng năm 2009
TT
Nhóm công suất
Tổng công suất (cv) 34.344 12.980
27.104 38.250 112.678 Tổng số tàu (chiếc) 2730 452 484 321 3.987
(Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng [2])
Trong cơ cấu nghề nghiệp khai thác của thành phố Hải Phòng số lượng tàu có
công suất trên 90cv không nhiều chỉ có 321 tàu, chiếm 8,05%. Các tàu có công
suất nhỏ hơn 20cv có 2.730 tàu, chiếm 68,47% tổng số tàu thuyền của thành phố,
các tàu này hoạt động chủ yếu tuyến ven bờ. Điều này đã làm cho hiệu quả khai
thác thủy sản của thành phố đạt hiệu xuất chưa cao, chưa đưa được công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vào trong khai thác thủy sản. Tuy nhiên, trong thực tế số tàu
khai thác xa bờ không chỉ có các tàu có công suất trên 90cv mà còn rất nhiều tàu
20
có công suất nhỏ hơn. Khai thác xa bờ chủ yếu là nghề lưới chụp mực, đây là
nghề phát triển mạnh và ngày càng được nhân rộng trên địa bàn thành phố.
Bảng 1.4: Năng suất bình quân trong khai thác thuỷ sản của thành phố (2006-2009)
Năm
Tổng số
tàu
(chiếc)
Tổng công
suất (cv)
Tổng sản
lượng
(Tấn)
Tổng
lao động
Bắc, Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây Nam giáp huyện An Dương và
nội thành Hải Phòng; phía Đông Nam là cửa biển Nam Triệu. Địa hình Thuỷ
Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa có núi đất, núi
đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc. Đây chính là những điều
kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thuỷ Nguyên phát triển một nền kinh tế đa
21
dạng về ngành nghề bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thuỷ sản và du lịch.
Là một huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc thành phố Hải Phòng với diện tích tự
nhiên: 242 km
2
, dân số là 29 vạn người. Thuỷ Nguyên giữ vai trò quan trọng trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự đối với vùng duyên hải xưa
và đối với 2 trung tâm công nghiệp: cảng biển Hải Phòng và Quảng Ninh ngày nay.
Năm 2009 tổng giá trị sản xuất các ngành của huyện đạt 2.443,8 tỷ đồng, tăng
15,9% so với năm 2008. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 185 tỷ đồng, tăng 44%.
Các dự án trên trên địa bàn tiếp tục được triển khai, một số công trình dự án trọng
điểm của thành phố đã và đang hoàn thành đưa vào sử dụng. Hoàn thành giải
phóng mặt bằng phục vụ các dự án quan trọng: Nhiệt điện Hải Phòng, Khu công
nghiệp đô thị Bắc Sông Cấm, Khu nghỉ dưỡng Resort Sông Giá.
Phát huy thế mạnh của 1 huyện nằm ven hải cảng, Thuỷ Nguyên đã có những
bước phát triển mạnh trên lĩnh vực khai thác thuỷ sản, và là một trong những địa
phương có đội tàu làm nghề khai thác thủy sản lớn nhất thành phố Hải Phòng. Theo
thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng thì toàn huyện
hiện có 1.470 tàu thuyền khai thác hải sản chiếm tới 36,87% số tàu thuyền của toàn
thành phố. Phát triển mạnh ở các nghề lưới rê, lưới kéo, chụp mực. Trong đó nghề
lưới chụp mực có 354 tàu chiếm 24,1% tổng số tàu thuyền của toàn huyện và tập
trung chủ yếu trên địa bàn xã Lập Lễ và Phả Lễ. Số lượng tàu ở đây hoạt động
tương đối hiệu quả và là nghề khai thác chính của địa phương. Đem lại hiệu quả
1.4.1.2. Địa hình chất đáy
Do ảnh hưởng của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nên chất đáy ở đây
chủ yếu là bùn cát. Vùng biển có độ sâu và độ dốc nhỏ, nền đáy tương đối bằng
phẳng. Vịnh là 1 khu biển kín, che chắn gió tốt nên rất thuận lợi cho nghề cá nổi
phát triển.
1.4.1.3. Khí tượng hải dương
a. Chế độ gió
Vùng biển vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của hai mùa rõ rệt, mùa Đông (gió
mùa Đông Bắc), mùa hè (gió mùa Tây Nam).
23
Gió mùa Đông Bắc có thể chia thành hai thời kỳ:
- Từ cuối tháng 9 đến tháng 12, gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc. Tốc độ
gió trung bình 3 – 5 m/s, tốc độ gió mạnh có thể đạt từ 22 – 24 m/s.
- Từ tháng 1 – 3 gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc, cuối tháng 3 gió
chuyển sang hướng Đông Nam. Tốc độ gió trung bình 2,5 – 3m/s.
Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 – 9, nhưng do đặc điểm của địa hình
nên gió chuyển sang hướng Nam hoặc Đông Nam. Tốc độ gió trung bình từ 3 –
4 m/s, khi mạnh nhất là 20 – 25 m/s.
b. Nhiệt độ không khí.
Khí hậu thành phố Hải Phòng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa
gió Đông Bắc lạnh và khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa gió
Tây Nam mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 – 10. Nhiệt độ trung bình hàng
tháng từ 20
0
– 30
0
C, cao nhất có khi tới 40
0
C thấp nhất ít khi dưới 5
tập trung ở vùng nước sâu giữa Vịnh. Thời kỳ gió mùa Tây Nam cá di cư vào
vùng nước nông ven bờ để đẻ trứng. Thời kỳ này các loài cá nổi tập trung nhiều
nhất ở vùng gần bờ, sau đó giảm đi. Sản lượng cá đáy ở vùng gần bờ cao nhất từ
tháng 9 đến tháng 11 [13].
Bảng 1.5: Trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi, cá đáy Vịnh Bắc Bộ
Vùng biển
Nhóm sinh
thái
Độ sâu (m)
Trữ
lượng
(tấn)
Khả năng
khai thác
(tấn)
Vịnh Bắc Bộ
Cá nổi nhỏ
< 30 119.800 59.900
> 30 270.200 135.100
Cá đáy
< 30 54.601 21.840
> 30 98.129 39.252
Tổng cộng
542.730 256.092
(Nguồn: Viện nghiên cứu hải sản [17])
Các ngư trường khai thác chính của Vịnh Bắc Bộ:
- Khu biển Vi Châu: Gồm các vùng biển quanh đảo Vi Châu (Trung Quốc),
Với diện tích khai thác khoảng 2.200 hải lý vuông. Phía Tây Nam khu vực này
cá tương đối tập trung, sản lượng khai thác bình quân là 102kg/h. Mùa vụ khai
thác chủ yếu từ tháng 3 đến tháng 5.
Đặc điểm sinh học: Mực ống sống ở tầng đáy và ở gần đáy, phân bố rộng và
rải rác. Mực ống phản ứng nhạy với ánh sáng và nhiệt độ, khi có ánh sáng chúng
thường bơi xung quanh thành từng đàn để kiếm mồi. Có hiện tượng di cư thẳng