PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước phát triển nông nghiệp lâu đời. Các sản phẩm từ nông
nghiệp của nước ta rất phong phú đa dạng và có chất lượng tốt đã đươc xuất
khẩu ra nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu phải kể đến: gạo, cà phê, hồ tiêu Với
lợi thế về điều kiện tự nhiên thêm vào đó nước ta lại có nguồn phế thải nông
nghiệp khá dồi dào, dẫn đến sự hình thành gần như là tất yếu: nghành sản xuất
nấm, trong đó trồng nấm rơm là một xu hướng được rất nhều vùng nông thôn
chọn lựa để phát triển vì tinh hiệu quả kinh tế của nó
Nấm rơm hay nấm mũ rơm (danh pháp khoa học: Volvariella volvacea) là
một loài nấm trong họ nấm lớn sinh trưởng và phát triển từ các loại rơm rạ. nấm
gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng khác nhau như có loại màu
xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính “cây nấm” lớn, nhỏ tùy
thuộc từng loại. Là loại nấm giàu dinh dưỡng. Nấm rơm chứa nhiều vitamin A,
B1, B2, PP, D, E, C và chứa 7 loại a-xít amin, nấm rơm là món ăn trị nhiều bệnh
là loại quen thuộc, nhất là các làng quê vì thường được sử dụng làm thực phẩm.
Nấm rơm là một loại thực phẩm có từ lâu đời của Việt Nam. Nghề trồng nấm
không những đem lại hiệu quả kinh tế mà các món ăn chế biến từ nấm rơm còn
là một vị thuốc chữa bệnh cho con người. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới rất phù
hợp để trồng nấm rơm. Trồng nấm rơm sử dụng ít diện tích, nguồn nguyên liệu
chủ yếu được tận dụng từ rơm rạ, chi phí nuôi trồng thấp, giá bán tương đối cao,
đem lại hiệu quả cho người trồng nấm.
Huyện Tiên Lãng là một huyện trồng nấm rơm nhiều nhất của thành phố Hải
Phòng. Nhân dân trong huyện ngoài trồng lúa nhằm cung cấp lương thực còn coi
trồng nấm rơm là một nghề chính đem lại thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, do
1
ảnh hưởng của thời tiết, biến động của thị trường, ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế công tác bảo quản nấm thu hoạch còn khó khăn, công tác tiêu thụ nấm
rơm trở nên khó khăn. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu
quả kinh tế trong tiêu thụ nấm rơm ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải
Tiêu thụ, hiệu quả tiêu thụ là gì?
- Thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên địa bàn huyện
Tiên Lãng thành phố Hải Phòng như thế nào?
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tiêu thụ nấm của các hộ
nông dân trồng nấm?
- Các biện pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả trong tiêu thụ nấm rơm của
các hộ nông dân tại Tiên Lãng?
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm.
2.1.1.1 Khái niệm nấm
Theo quan niệm cũ, nấm là thực vật, nhưng là thực vật không có diệp lục
tố. Tuy nhiên, những nghiên cứu ngày càng nhiều về sinh lý và dinh dưỡng, cho
thấy nấm khác biệt với thực vật.
- Nấm không có khả năng quang hợp, nghĩa là không thể tự tổng hợp các chất
hữu cơ cho cơ thể từ nước và khí CO2.
- Vách tế bào chủ yếu là chitin và glucan.
- Nấm dự trữ đường dưới dạng glycogen, thay vì tinh bột. Có thể so sánh các túi
nấm mèo, nấm sò với các cây trồng để hiểu rõ vấn đề. Cây trồng có rễ, thân, lá,
hoa và quả (có cây có củ). Cái nấm mà ta thấy mọc ra trên túi giá thể chỉ là cơ
quan sinh sản, tương tự như quả của cây nên còn gọi là “quả thể”. Nấm rơm khi
già nở ra, phía dưới mũ nấm có những hạt bụi màu hồng, đó là các bào tử tương
tự như hạt của cây trồng.
Nấm mộc nhĩ (nấm mèo), nấm bào ngư (nấm sò) mọc ra từ túi nấm khi đã có
màu trắng. Hay khi trồng nấm rơm, ta dễ nhận thấy là ở nhữngchỗ nấm mọc
ra có mạng các sợi tơ trắng. Các mạng này có được do sự kết chặt lại của nhiều
sợi tơ nấm nhỏ li ti (đường kính khoảng 3đến 10micromet (μm), 1 μm = 1/1000
m) mà mắt thường khó nhìn thấy, phải dùng kính hiển vi mới dễ thấy được. Các
- Giai đoạn hình nút
- Giai đoạn hình trứng
- Giai đoạn hình chuông
5
- Giai đoạn trưởng thành
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm rơm
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ tối thích cho sợi nấm phát triển là 30-320C và cho sự hình thành
của quả thể là 300C.
Từ 100-200C: sợi sinh trưởng yếu; ở 200C: quả thể hình đinh ghim sẽ bị
chết sau 12 giờ và sự sinh trưởng của quả thể hình cầu bị đình chỉ.
Dưới 15
0
C và trên 45
0
C: Không bao giờ xuất hiện quả thể.
- Độ ẩm:
+ Độ ẩm của giá thể: Sợi nấm rơm có thể sinh trưởng trong điều kiện nguyên
liệu có độ ẩm từ 40-90%, nhưng tốt nhất là từ 70-75 %.
+ Độ ẩm tương đối của không khí: Độ ẩm tương đối của không khí có tác dụng
điều hòa sự bốc hơi nước từ giá thể và quả thể nấm ra không khí. Độ ẩm từ 60-
70 % trở xuống: gây chết toàn bộ giai đoạn đầu đinh ghim, đình chỉ sự sinh
trưởng của nấm ở giai đoạn hình cầu, nếu tiếp tục kéo dài thì gây ra hiện tượng
teo đầu của quả thể. Độ ẩm từ 80-85 %: gây chết một phần giai đoạn đầu đinh
ghim, khôngảnh hưởng đến các giai đoạn khác. Độ ẩm từ 90-100 %: rất tốt đối
với giai đoạn đầu đinh ghim, nhưng sẽ làm giảm sự sinh trưởng ở một số giai
đoạn khác. Nếu kèm theo nhiệt độ cao thì nấm sinh trưởng rất nhanh, nở nhanh
và dễ bị nứt trong khi vận chuyển, nấm ở giai đoạn hình nón (dù) dễ bị thối rữa.
- pH: Sợi nấm rơm sinh trưởng ở pH từ 4-11, nhưng pH thích hợp nhất đối với
nấm rơm là 7,0 - 7,5. Trong khoảng pH từ 6-11: sợi sinh trưởng mạnh.Khi pH
hệ thống các yếu tố sản xuất và các mối quan hệ vật chất hình thành giữa con
người với con người trong quá trình sản xuất. Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm
trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã
7
hội. Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu
cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định
của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi chất, năng
lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường.
Ba là, HQKT là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục
tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Trong kế hoạch, hiệu quả là
quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với
một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất. Trong
phân tích kinh tế, HQKT được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế
kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống sản
xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt
được mục tiêu kinh tế - xã hội.
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là
một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của HQKT và quản lý. Hơn nữa việc
xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lí luận và thực
tiễn. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển
kinh tế xã hội, là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh
thần của mọi thành viên trong xã hội. Muốn vậy sản xuất không ngừng phát
triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện
hiện nay là phải thỏa mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản
xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường. Chính vì vậy mà hiệu quả
của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường (Nguyễn Tiến Mạnh,
1995).
* Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang
các yếu tố tham gia sản xuất. Xác định các yếu tố đầu ra: Các mục tiêu đạt được
9
phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hoá sản xuất ra
phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản
phẩm, lợi nhuận… Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là những yếu tố chi phí về
vật chất, cung lao động, vốn…
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị
trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân bổ
chi phí, hạch toán chi phí… yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các kết quả
về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất… không thể lượng hoá được.
2.1.1.4 Khái niệm về tiêu thụ hàng hóa và hiệu quả tiêu thụ.
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất phải tự mình quyết định ba
vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: Sản xuất cho
ai? Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng
hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
* Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao
gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu người
sản xuất cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh và tổ chức sản xuất hoặc
tổ chức cung ứng hàng hóa và cuối cùng là việc thực hiện bán hàng nhằm đạt
mục đích cao nhất.
Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau
nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu
thụ hàng hóa người sản xuất không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà
còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia
trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của người sản
xuất. Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá
trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách
tuần tự nhau theo chu trình của nó. Người sản xuất không thể tổ chức sản xuất
vào những yếu tố chi phí trong tiêu thụ. Theo công thức (2) thì nhược điểm trên
được khắc phục, vì chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tiêu thụ càng cao và ngược
lại.
2.1.2 Đặc điểm tổ chức tiêu thụ nấm rơm.
- Cung về sản phẩm nấm rơm được hiểu là khả năng ngành sản xuất nấm
rơm có thể cung cấp cho thị trường một khối lượng sản phẩm nấm trong điều
kiện các yếu tố khác không đổi.
Cung về sản phẩm nấm rơm do những nguồn sau: sản xuất trong nước và
nhập khẩu từ nước ngoài.
Tùy theo điều kiện từng nước mà tỷ trọng của những sản phẩm nấm sản
nấm rơm hàng hóa lưu thông trên thị trường là không giống nhau. Việc xác định
số lượng cung căn cứ vào diễn biến của tình hình thực tế sản xuất, việc xác định
khả năng cung cho thị trường thì căn cứ vào khối lượng sản phẩm nấm rơm.
Khối lượng sản phẩm nấm được cung cho thị trường phụ thuộc vào các
yếu tố:
+ Khối lượng tổng sản phẩm nấm và tốc độ tăng lên của nó.
+ Trình độ chuyên môn hóa của sản xuất nấm.
+ Những giải pháp về thị trường vốn và công nghệ sản xuất.
+ Các nhân tố về cơ chế chính sách sản xuất và lưu thông sản phẩm nấm
của Chính phủ trong từng thời kỳ và hiệu lực của nó.
- Cầu về sản phẩm nấm được hiểu là nhu cầu của các loại sản phẩm nấm
ăn của xã hội. Nhu cầu này có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như cầu về sản
phẩm nấm rơm làm thực phẩm ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng
và chủng loại không chỉ dừng ở dạng tươi sống mà còn cả những sản phẩm nấm
đã qua chế biến, nhu cầu cho tiêu dùng trong nước, nhu cầu sản xuất nấm rơm
cho xuất khẩu.
12
- Nhân tố giá cả: Giá cả các loại nấm khác nhau có tác động đến người
sản xuất và người tiêu dùng, người sản xuất muốn cũng ra thị trường những lại
sản phẩm nấm có giá trị, có giá bán cao, lợi nhuận lớn.
với việc khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên, khí hậu và
thời tiết.
2.1.3 Vai trò ý nghĩa của ngành sản xuất nấm.
Nấm là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein chỉ
sau thịt, cá, nấm rất giàu khoáng và các axit amin không thay thế, các loại
vitamin A, B, C E, Có thể xem nấm ăn như một loại rau sach. Ngoài giá trị
dinh dưỡng, nấm còn có nhiều đặc tính biệt dược, có khả năng phòng và chữa
bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột,
Hàm lượng protein trong 1 kg nấm mỡ tương đương với 2 kg thịt lợn nạc,
cao hơn 1 kg thịt bò. Trong nấm ăn tươi, protein có khoảng 4%, so với rau và
hoa quả tươi thì cao gấp 12 lần. Nâm ăn thơm ngon là do trong protein gồm
nhiều axit amin tự do và chất tạo hương vị đặc biệt, trong đó có tới 9 loại axit
amin cần thiết cho cơ thể con người. Tuy nhiên, nấm lại nghèo về năng lượng
Do có giá trị về mặt dinh dưỡng nên thị trường nấm trên thế giới có nhu
cầu rất lớn về nấm ăn, sản phẩm nấm được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng tươi, nấm
đóng hộp và làm thuốc bổ.
Sản xuất nấm ăn góp phần tận dụng nguồn phế phụ phẩm của ngành nông
nghiệp và thu hút lao động dồi dào trong nông thôn.
Nguồn nguyên liệu chính để trồng nấm ăn là rơm rạ, thân cây ngô, bã mía,
mùn cưa, những nguyên liệu này lại rất sẵn có trong các vùng quê. Nếu tính
trung bình 1 tấn thóc cho ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sản lượng rơm rạ trong
cả nước đạt khoảng vài chục triệu tấn/năm. Chỉ cần sử dụng 10% số nguyên liệu
trên để trồng nấm thì sản lượng nấm đã có thể đạt vài trăm ngàn tấn/năm. Đó là
14
chưa kể sử dụng bã mía thải ra từ các nhà máy đường cùng hàng nghìn tấn mùn
cưa, cây thân gỗ, thân cây ngô, đều có thể sử dụng để trồng nấm
Sản xuất nấm ăn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Một trong những ngành nghề được nhắc đến nhiều nhất trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay là nghề
trồng nấm - một ngành có vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa xuất
Để cho quá trình tiêu thụ nấm rơm thuận lợi thì chất lượng sản phẩm phải
đặt lên hàng đầu. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào giống nấm, quá trình sản
xuất, chế biến và bảo quản nấm rơm. Quá trình sản xuất phải đảm bảo quy trình
cũng như vệ sinh sản phẩm và môi trường. Quy trình chế biến cần đúng trình tự,
đúng khoa học kỹ thuật. Quá trình bảo quản cần giữ được hàm lượng dinh
dưỡng của sản phẩm, mẫu mã sản phẩm.
- Sự phát triển của công nghiệp chế biến nấm:
Việc phát triển công nghiệp chế biến nấm giúp cho sản lượng tiêu thụ
nấm rơm của người sản xuất tăng đáng kể, quy mô tiêu thụ công nghiệp. Các
công ty chế biến sẽ tiến hành ký hợp đồng với người sản xuất bao tiêu sản phẩm,
đầu ra sản phẩm được giải quyết.
- Giá cả sản phẩm:
Để quá trình tiêu thụ nấm rơm được thuận lợi thì ngoài việc đòi hỏi chất
lượng sản phẩm ngày càng cao thì giá cả đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó là
thước đo cho sự lựa chọn hàng hóa thay thế. Do đó người sản xuất phải nghiên
cứu để tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành sản phẩm.
- Thu nhập bình quân đầu người (GNP):
Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng, GNP càng tăng cao sẽ kéo theo sự
tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng
loại, chất lượng, thị hiếu.v.v Làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa của người sản
16
xuất tăng lên. Đối với nấm rơm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Do đó
khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, người tiêu dùng có cơ hội sử dụng
các sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao và là 1 vị thuốc chữa bệnh như nấm
rơm sử dụng làm thực phẩm.
- Hành vi của người tiêu dùng:
Khi thu nhập của người tiêu dùng cao, họ có nhu cầu tiêu dùng những sản
phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe con người. Tuy nhiên không phải
điều đó lúc nào cũng đúng vì nó bị chi phối bởi thói quen tiêu dùng nấm của
từng người. Khi người tiêu dùng có thói quen sử dụng nấm rơm thì họ ít khi thay
trường. Tuy nhiên kênh tiêu thụ này thường hạn chế về mặt địa lý vì chỉ có thể
bán đối với những khách hàng xung quanh vùng sản xuất nấm.
- Kênh tiêu thụ gián tiếp:
+ Kênh tiêu thụ 1 cấp: Người trồng nấm bán cho người bán lẻ, người bán lẻ lại
bán nấm cho người tiêu dùng.
+ Kênh tiêu thụ 2 cấp: Người trồng nấm bán nấm cho người bán buôn, người
bán buôn bán lại cho người bán lẻ, cuối cùng người bán lẻ bán lại cho người tiêu
dùng cuối cùng. Trong kênh tiêu thụ này, người sản xuất có thể cung cấp nguyên
liệu cho các nhà máy sản xuất. Các công ty đó chế biến sau đó cung cấp trực tiếp
cho người tiêu dùng
+ Kênh tiêu thụ 3 cấp trở lên: Người trồng nấm bán cho đại lý, đại lý bán cho
người bán buôn, người bán buôn bán lại cho người bán lẻ, cuối cùng người bán
lẻ bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Ở kênh này, người sản xuất có thể cung
cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nấm. Nhà máy chế biến nấm thành
Người sản xuất
Người tiêu dùng
18
các sản phẩm sau đó chuyển tới các đại lý cấp I, cấp II, sau đó mới đến người
tiêu dùng.
Đây là loại kênh mà giữa người sản xuất và người tiêu dùng xuất hiện
nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hoá từ người sản xuất đến
tay người tiêu dùng. Trong loại kênh này hàng hoá của người sản xuất nấm có
thể được tiêu thụ với tốc độ nhanh hơn, khối lượng lớn hơn, và sản phẩm được
tiêu thụ trên một địa bàn rộng lớn hơn. Việc sử dụng loại kênh này có thể làm
giảm một phần lợi nhuận của người sản xuất nấm do phải chia sẻ với các trung
gian khác. Đối với các trung gian người sản xuất nấm có thể gặp khó khăn trong
việc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổ
chức độc lập với người sản xuất nấm. Các thông tin về thị trường và thông tin
phản hồi của khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến người
sản xuất nấm do phải qua nhiều cấp trung gian. Hoạt động của người sản xuất
hương. Mỗi năm gần 1 triệu tấn nguyên liệu. Hàn quốc nổi tiếng với nấm Linh
chi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD. Ở Trung Quốc từ những
năm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên
năng suất gấp 4-5 lần và sản lượng tăng vài chục lần. Tổng sản lượng nấm ăn
của Trung Quốc chiếm 60% sản lượng nấm ăn của thế giới gồm nhiều loại nấm
như: nấm mỡ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm sò, nấm kim châm và một số loại nấm
khác chỉ có ở Trung Quốc như Đông Trùng Hạ Thảo. trào sản xuất nấm
Theo số liệu thống kê của Chang (1993, 2005) sản lượng nấm rơm đứng thứ
hai sau nấm mỡ (Agaricus bisporus):
20
Sản lượng của một số nấm ăn trên thế giới (Chang, 1993)
Tên nấm Tên khoa học
Năm 1986
(tấn)
Năm 1991
(tấn)
Tỉ lệ tăng
(%)
Nấm mỡ Agaricus bisporus 1.215.000 1.590.000 30,9
Nấm rơm Lentinula edodes 320.000 526.000 64,4
Nấm bào ngư Pleurotus spp. 169.000 917.000 442,6
Nấm mèo Auricularia spp. 119.000 465.000 290,8
Gần đây sản xuất nấm trên thế giới tăng nhanh chóng, với vai trò chủ đạo
của Trung quốc. Chính ST Chang đã tổng kết và nêu bật tiến trình phát triển này
(Chang, 2005). Hiện nay trên thế giới ba nước nuôi trồng nấm chủ yếu là Nhật
Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Sản lượng nấm của ba nước này chiếm trên 90%
tổng sản lượng toàn thế giới. Ngoài ra một số nước khác nuôi trồng với sản
lượng đáng kể như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, Singapore, Thái Lan.
Giá nấm trên thị trường thế giới biến thiên từ 15 – 30 USD/1kg nấm khô.
diện tích đất để làm lán
trại.
Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng được mở
rộng, giá bán nấm tươi ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn
khá cao (nấm mỡ 20.000đ-25.000đ, nấm sò 10.000đ -15.000đ/kg). Nhu cầu ăn
nấm của nhân dân trong nước ngày càng tăng, thị trường xuất khẩu nấm mỡ,
nấm rơm muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam cũng chưa đáp ứng đủ.
Tại Hải Phòng, nghề trồng nấm đã phát triển mạnh từ năm 2007, tập trung tại
một số huyện như: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên, An Lão, Kiến Thụy. Toàn
thành phố đã sản xuất được 2663,8 tấn nguyên liệu, các loại nấm phổ biến là: nấm
mỡ, nấm sò. Năm 2008 Hải Phòng đã xây dựng được 439 lán trại trồng nấm trong
đó Tiên Lãng và Vĩnh Bảo là hai huyện đi đầu trong phong trào trồng nấm.
22
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Tiên Lãng là một huyện đồng bằng ven biển của thành phố Hải Phòng có diện
tích tự nhiên là 18.904 km
2
, bao gồm 23 xã và thị trấn. Phía Bắc giáp huyện An
Lão và Kiến Thụy; phía Nam giáp huyện Vĩnh Bảo; phía tây giáp huyện Thanh
Hà (Hải Dương); phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
Tiên Lãng được bao bọc bởi sông và biển: sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông
Mía và phần còn lại tiếp giáp với biển. Vì vậy Tiên Lãng có ưu thế về phát triển
sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, Tiên Lãng có tuyến đường quốc lộ
10 chạy qua, đây là tuyến quốc lộ nối liền các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Hải
Phòng, Quảng Ninh tạo thành cánh cung miền duyên hải Bắc Bộ, có ý nghĩa
quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh. Đặc biệt trong thời kì
3.1.1.4 Tình hình sử dụng đất đai.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Tiên Lãng là 18.904ha với nhiều loại đất khác
nhau: đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ
vàng, đất xám, Đất đai của Tiên Lãng có bề mặt lồi lõm gò bãi đan xen với
đầm lạch và được chia thành 3 vùng rõ rệt
- Vùng từ xã Đại Thắng - Tiên Cường đến Tiên Tiến được hình thành sớm, khá
bằng phẳng và màu mỡ, chiếm 12% diện tích đất tự nhiên trong huyện.
- Vùng từ xã Quyết Tiến, Khởi Nghĩa, Tiến Thắng đến Tiên Minh là vùng phù
sa bồi đắp không đều, có nhiều đầm, ao, hồ chiếm hơn 52% diện tích đất tự
nhiên.
24
- Vùng từ Bắc Hưng, Nam Hưng đến Vinh Quang địa hình bằng phẳng, nhiều
chua mặn chiếm 35% diện tích đất tự nhiên.
* Tình hình sử dụng đất.
Phần lớn diện tích đất tự nhiên của Tiên Lãng là đất nông nghiệp, chiếm hơn
62,73% (11.859,02ha), đất lâm nghiệp chiếm 3,7% (701,58ha trong đó toàn bộ
là đất rừng trồng), đất nuôi trồng thủy sản chiếm 1,14% (215,2ha). Diện tích đất
chưa sử dụng còn khá nhiều chiếm 14,3% tổng diện tích đất tự nhiên (trên
2.697ha), trong đó chủ yếu là đất bằng và đất của mặt nước. Diện tích đất
chuyên dùng và đất ở chiếm 18,1% (3430,5ha).
Hiện nay diện tích đất gieo trồng 3 vụ của huyện còn thấp, do đó cần cải tạo,
thau chua, rửa mặn làm giàu bằng các biện pháp thủy lợi, san ghềnh, lấp trũng,
thâm canh cây trồng, nhằm tăng diện tích, sản lượng cây trồng.
Tiên Lãng là huyện thuần nông, do đó việc phát triển kinh tế còn phụ thuộc chủ
yếu vào sản xuất nông nghiệp. Trong những năm tới, Tiên Lãng cần tăng nhanh
diện tích trồng cây vụ đông, các cây trông hàng hóa có giá trị nhằm tăng nhanh
giá trị ngành nông nghiệp.
25