Biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay ở huyện An Dương thành phố Hải Phòng - Pdf 26



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HÀ NỘI - 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ XUYẾN
BIỆN PHÁP QUẢN LÍ CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG
TIỂU HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở HUYỆN
AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .


XHCN: Xã hội chủ nghĩa.
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ vai trò của đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong
việc giáo dục thế hệ trẻ trong trường hoc
Cả nhân loại đang đứng ở thế kỉ 21, một kỷ nguyên mới với bao điều trăn
trở vui mừng phấn khởi nhưng cũng đầy lo toan, một thế kỷ của nền kinh tế tri
thức, của sự bùng nổ thông tin về khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, đặc biệt
là sự cạnh tranh về kinh tế. Mối quan hệ giữa người với người trong từng quốc
gia và toàn cầu ngày càng sống động, đa dạng.
“Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực,
vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước. Con người và sự
phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội,
mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển” [3, tr.27].
Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII
đã khẳng định: Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và
thanh thiếu nhi là nhân vật trung tâm của chiến lược bồi dưỡng, phát triển con
người. Xã hội hóa công tác chăm sóc giáo dục trẻ em nói chung, vấn đề tập
hợp giáo dục trẻ em thông qua hoạt động của tổ chức Đội nói riêng càng trở
nên quan trọng nhằm góp phần tạo ra một lớp người phát triển toàn diện, xứng
đáng là chủ nhân thế kỷ 21. Đây chính là một nhân tố quan trọng quyết định sự
thành bại của sự nghiệp cách mạng [25].
Từ khi thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự dìu dắt của
Đoàn với sự thăng trầm của lịch sử, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã
có những bước trưởng thành vượt bậc, có đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp

dựng tổ chức Đội vững mạnh, làm tốt công tác Đội và phong trào thiếu nhi
trong trường học và trên địa bàn dân cư, không ngừng củng cố và mở rộng tình
đoàn kết hữu nghị với thiếu nhi quốc tế. 3
tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi và đấu tranh cho quyền lợi chính đáng
của thiếu nhi theo luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, luật phổ cập giáo
dục tiểu học.
Đội TNTP Hồ Chí Minh có vai trò rất lớn trong công tác rèn luyện bồi dưỡng
đội viên, tạo nguồn nhân lực cho đoàn TNTP Hồ Chí Minh. [18, tr. 21- 27]
1.2. Xuất phát từ trách nhiệm của hiệu trưởng trong việc tạo điều kiện và
phối hợp với đội Thiếu niên Tiền phong thực hiện mục tiêu giáo dục trong
giai đoạn mới
Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai, trẻ em hôm nay là chủ nhân của đất
nước, dân tộc Việt Nam ngày mai. Không có việc gì quan trọng hơn là xã hội
phải lo cho tương lai của mình bằng việc chăm lo cho thế hệ trẻ. Khẩu hiệu:
“Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em” [5, tr.2] đã có 197 quốc gia phê
chuẩn, thể hiện rõ tầm quan trọng của công tác chiến lược này.
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, chăm sóc giáo dục thiếu
niên nhi đồng nói riêng là công tác quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước. Đảng và
Nhà nước ta luôn xem đây là một chiến lược phát triển lâu dài và toàn diện,
nhằm đào tạo cho được các thế hệ thanh thiếu niên kế cận, có đức, có tài, giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chủ Tịch đã dạy: “Giáo dục không thể tách rời mà phải liên hệ chặt
chẽ với những cuộc đấu tranh xã hội” [24, tr.103]. Những vấn đề mới nảy sinh
như nhu cầu xây dựng mẫu hình con người mới, mặt trái cơ chế thị trường đòi
hỏi phải mở rộng những nội dung, hình thức sinh hoạt mới, xây dựng tổ chức
Đội vững mạnh trong trường học.

những năm sắp tới.
“ Quyền tự chủ và gắn liền vào đó là sự chịu trách nhiệm trước xã hội của
nhà trường phổ thổng rất hạn chế. Hầu như hiệu trưởng các trường phổ thông
rất ít có quyền tự chủ với thực hiện quá trình đào tạo”[2].
Không ít cán bộ quản lý nhà trường chỉ quan tâm và thực hiện các biện
pháp quản lí hành chính hoạt động dạy học và giáo dục với tư cách quản lý 5
Nhà nước. Chưa có những biện pháp quản lý, phối hợp với các tổ chức trong
và ngoài nhà trường trong có Đội TNTP.
Xuất phát từ những lý do trên, vận dụng “Phương pháp luận nghiên cứu
khoa học” [13] , tôi chọn vấn đề “ Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng
trường tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay ở Huyện An DươngThành phố
Hải Phòng ” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn đề xuất một số biện pháp quản lí
của hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Đội
thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 . Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh ở các
trường tiểu học
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí của hiệu trưởng nhằm phát huy vai
trò của Đội TNTP Hồ Chí Minh ở các trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về quản lí của hiệu trưởng với hoạt động của Đội
TNTP Hồ Chí Minh trong trường tiểu học
- Đánh giá thực trạng những biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm phát
huy hiệu quả hoạt động của Đội ở các trường tiểu học huyện An Dương - Hải

- Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh để xử lí số liệu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn gồm 3 chương chính:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về công tác quản lí của hiệu trưởng trường tiểu học
với hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Chƣơng 2: Thực trạng quản lí của hiệu trưởng nhằm phát huy vai trò của Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở các trường tiểu học huyện An Dương -
thành phố Hải Phòng
Chƣơng 3: Biện pháp quản lí của hiệu trưởng nhằm phát huy hiệu quả hoạt
động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở trường tiểu học trong giai
đoạn hiện nay
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG 7
TIỂU HỌC VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN
PHONG HỒ CHÍ MINH
1.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu đề tài
1.1.1. Sơ lược luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giáo dục thế hệ trẻ
Trẻ em là bộ phận quan trọng của mỗi quốc gia và cộng đồng nhân loại,
quan trọng không phải chỉ vì trẻ em chiếm phần đông dân cư (khoảng 1/3 dân
số thế giới nhiều nước trẻ em chiếm một nửa), mà cũng bởi trẻ em sẽ là người
quyết định vận mệnh cuả mỗi quốc gia và cả thế giới trong tương lai. Do đó
tương lai nhân loại phụ thuộc rất nhiều vào cách thức chúng ta chăm sóc giáo
dục và bảo vệ trẻ em như thế nào. Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội phải
đặt các vấn đề trẻ em lên hàng đầu của các chương trình nghị sự chính trị - xã
hội, và xây dựng các chính sách, chương trình về đầu tư nguồn nhân lực, tài
chính dành cho các em. Việc thiết lập một màng lưới, hệ thống giáo dục hoàn

động mới có hiệu quả hơn. Hoạt động thiếu nhi nói riêng, giáo dục nói chung
sẽ là khô khan giáo điều nếu nó chỉ bó khuôn ở các bài giảng của giáo viên
trong bốn bức tường lớp học xa rời cuộc sống thực tế. Hoạt động của thiếu nhi
chỉ thật sự trở nên có ý nghĩa khi nó theo kịp nhu cầu tâm lý của trẻ em để đưa
ra những định hướng đúng, giúp các em bước đầu hội nhập làm chủ cuộc sống.
Hoạt động của thiếu nhi chỉ thật sự trở nên có ý nghĩa khi nó theo kịp nhu cầu
tâm sinh lý của trẻ em để đưa ra những định hướng đúng, giúp các em bước
đầu hội nhập làm chủ cuộc sống. Lênin viết: “Chúng ta không tin vào việc
huấn luyện giáo dục và học tập nếu những việc đó chỉ đóng khung trong nhà
trường và tách rời cuộc sống” [22, tr.7]. Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh là cầu nối giữa nhà trường - gia đình - xã hội.
1.1.2. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thiếu niên nhi đồng
Chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Đảng và nhà nước Việt Nam đã thực sự coi trọng công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em đối với sự phát triển bền vững của đất nước nên đã có nhiều
chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em. Việt Nam là 9
nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước
quốc tế về quyền trẻ em (năm 1990). Các nội dung cơ bản của công ước liên
hợp quốc về quyền trẻ em đã được chính phủ đưa vào chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế xã hội. Các quyền trẻ em được ghi nhận trong hiến pháp
1992 và các đạo luật khác; luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (1991),
luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989)…
Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện đầy đủ và có hiệu quả
công tác chăm sóc giáo dục trẻ em, chương trình hành dộng quốc gia vì trẻ em
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng phấn khởi.
Đảng, Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc quan điểm bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục thiếu niên nhi đồng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ

không tốt. Cho nên muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, đoàn
thể, gia đình và xã hội phải kết hợp chặt chẽ với nhau” [23]
Bác chỉ ra quan điểm giáo dục rất khoa học là học tập gắn liền với vui
chơi, học tập, vui chơi gắn liền với lao động giúp đỡ cha mẹ, gia đình và cộng
đồng “Học gắn liền với vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt
của thiếu nhi… trong vui chơi cũng có giáo dục”, trong lúc học cũng cần làm
cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở nhà, trong
trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học. Vì vậy bên cạnh việc dạy chữ cần
tổ chức cho các em vui chơi, vui chơi cũng là một hình thức giáo dục. Giáo
dục thiếu nhi cần phải kết hợp cả ba yếu tố: đức dục, giáo dục, thể dục mà
mục tiêu cao nhất là: cách dạy trẻ cần làm cho chúng biết yêu tổ quốc, thương
đồng bào, yêu lao động, biết giữ vệ sinh , giữ kỷ luật, học văn hoá”[23] .
Bác cũng đặc biệt chú trọng đến vấn đề xây dựng nhân cách cho thiếu nhi,
giúp các em có cả đức, cả tài:“ Đức là đạo đức cách mạng, đức là cái gốc
quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì cũng vô dụng”. [24,tr.9]
Có nhiều hướng tiếp cận xây dựng nhân cách và tâm hồn cho trẻ thơ. Tư
tưởng của Hồ Chủ Tịch đã chỉ cho chúng ta bài học toàn diện và khoa học về
công tác giáo dục học sinh tiểu học. Triển khai các hoạt động giáo dục học
sinh ở tiểu học thực chất là một bước đưa những tư tưởng của người vào thực 11
hiện nhiệm vụ đẩy mạnh công tác xây dựng Đội TNTP trong thời kỳ mới.
Thực chất đây là bước thực hiện nguyên tắc giáo dục theo tư tưởng của bác là
học kết hợp với hành, học chữ kết hợp với học làm người, học tập thông qua
vui chơi, tập lao động, tập cho các em bước đầu tham gia vào các hoạt động
chính trị xã hội. Theo chỉ bảo của bác, hoạt động thiếu nhi phải hướng các em
đến tự chủ, xây dựng cho các em những phẩm chất để có thể làm chủ xã hội
trong tương lai. Việc học tập văn hoá tạo cho các em tập lao động, tham gia
vào các hoạt động xã hội không gì hiệu quả bằng gắn các hoạt động này vào

giáo dục, là tổ chức nòng cốt của thiếu nhi Việt Nam. Quá trình thực hiện
Công ước quốc tế về quyền trẻ em, luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em đã
được lồng ghép trong nội dung các môn học, học sinh được học như chương
trình chính khoá ở tiểu học nhưng chỉ là lý thuyết khô khan.
Chúng ta đều thừa nhận rằng: “ Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức
cuộc sống , hoạt động và giao lưu ch học sinh, nhằm giúp họ nhận thức đúng,
tạo lập tình cảm và thói quen đúng, hình thành những thói quen hành vi văn
minh trong cuộc sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức.” [37, tr.123-151]
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm chung về quản lí
Quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí
(người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.[20]
1.2.2. Quản lí giáo dục, các quan điểm về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
1.2.2.1. Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục là quá trình tác động có chủ đích, hợp quy luật của
chủ thể quản lí giáo dục/nhà trường lên khách thể/đối tượng (giáo dục nhà
trường) nhằm đạt được mục tiêu dự kiến. [8,tr.7]
1.2.2.2. Các quan điểm về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
Quản lí giáo dục với tư cách là một chuyên ngành khoa học đang phát
triển đã trải qua nhiều biến đổi, bổ sung và ngày một phong phú . 13
- Quan điểm hiệu quả: là quan điểm quản lí giáo dục ra đời vào thập niên
đầu tiên của thế kỉ, khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởng kinh tế vào quản lý
giáo dục. Theo quan niệm hiệu quả, quản lý giáo dục phải được thực hiện sao
cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải đạt cực đại.
- Quan điểm kết quả: ra đời vào đầu những năm 20. Cơ sở tư tưởng của
quan điểm này là khoa học tâm lý sư phạm. Quan điểm kết quả chú ý đến việc

trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành một hệ thống mở nhằm công
khai hóa các hoạt động của nhà trường. Hình thành thiết chế đánh giá kết quả
hoạt động sư phạm của nhà trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia
quá trình sư phạm và quá trình quản lý nhà trường .
- Quản lí giáo dục trong những điều kiện biến đổi: Biến đổi là một quy
luật của muôn đời. Một tổ chức hay một con người có thể tự thích nghi và
thường là như thế - dựa vào cơ chế nội cân bằng trước những biến đổi của môi
cảnh. Nhưng khả năng nội cân bằng là có giới hạn. Vượt quá một ngưỡng biến
thiên nhất định, tổ chức hoặc cơ thể con người sẽ mất khả năng thích ứng, mất
khả năng tự biến đổi mình. Nội cân bằng không phải là cơ chế duy nhất điều
khiển sự thích nghi. Hơn thế sự biến đổi diễn ra ít nhất theo ba phương diện: sự
biến đổi của môi cảnh; sự biến đổi của tổ chức (hay con người) theo nghĩa
thích nghi và đáp ứng với môi cảnh; sự biến đổi có tính tự giác của tổ chức
(hoặc con người) hoặc là tự giác tự thân hay tự giác có điều khiển. Trong giáo
dục, lấy nhà trường làm thí dụ (có tính điển hình) chịu nhiều sự tác động của
ngoại cảnh, khiến hoạt động vốn rất đúng giờ đúng giấc của nó nhiều khi chao
đảo. Hơn thế, nhà trường luôn phải đương đầu với biết bao nhiêu cải cách, cải
tổ thay đổi, hoặc dội từ trên xuống, hoặc từ trong lòng nó ra.[7]
Để quản lý giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng, trong điều kiện những
biến đổi, cần nhận rõ các thành tố có quan hệ và tác động qua lại với nhau của
sự biến đổi cả bên trong và bên ngoài hệ thống giáo dục, bên ngoài và bên
trong nhà trường. Thứ nhất các cá thể: thầy, trò, phụ huynh, các thành viên
khác trong xã hội… là thành tố đầu tiên của sự biến đổi. Bởi con người xét như 15
một cá nhân là một thực thể không bao giờ bất biến, chí ít về phương diện học
sinh của sự phát triển. Hơn nữa con người luôn có khả năng thích ứng trước
những biến đổi ngoại cảnh, cả tự nhiên và xã hội, thậm chí con người, do sự
phát triển có tính xã hội và loài giống của mình, còn luôn tạo ra những biến

- Kế hoạch hóa: là một chức năng quản lý. Kế hoạch hóa có nghĩa là xác
định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con
đường, biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ
yếu của chức năng kế hoạch hóa:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
+ Xác định và đảm bảo có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn
lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này;
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục
tiêu đó.
- Tổ chức: khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa
những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý
nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ
chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa
các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế
hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả,
người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử
dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các
phòng ban cùng các công việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ
sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức.
- Lãnh đạo (chỉ đạo): sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã
hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn 17
dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Lãnh đạo
bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành
những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc
lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã

1.2.5. Người quản lý, Hiệu trưởng trường tiểu học
1.2.5.1. Người quản lý
- Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các
nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để
tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Người quản lý là nhân vật
có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành
của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt
đến mục đích.
- Người quản lý được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Trước hết
là sự phân loại theo cấp quản lý
+ Người quản lý cấp thấp nhất hay còn gọi là người quản lý tuyến đầu, là
người chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả sản xuất hay dịch vụ do những
thành viên của bộ phận mà người đó phụ trách thực hiện. Người quản lý cấp
thấp nhất có nhiệm vụ giám sát và uốn nắn tại chỗ hoạt động cũng như kết quả
của hoạt động đó của những người lao động - thành viên của tổ chức khi họ
tiến hành các hoạt động sản xuất hay thực hiện dịch vụ. Người quản lý cấp
thấp nhất có vai trò như một mối dây liên hệ giữa kết quả hoạt động của bộ
phận do anh (chị) ta phụ trách với các bộ phận khác trong tổ chức. Người quản
lý cấp thấp nhất không dành nhiều thời gian để làm việc với cấp quản lý cao
hơn hay các thành viên thuộc bộ phận khác. Phần lớn thời gian của người quản
lý cấp này là để sát cánh với những người mà họ trực tiếp phải theo dõi, giám
sát và đôn đốc. Họ phải vật lộn với bộn bề công việc sự vụ và phải thông tin
liên lạc, phải giải quyết vấn đề ngay tại chỗ và tức thì. Nói cách khác họ là
người chỉ huy nơi “đầu sóng ngọn gió”, trên “tuyến lửa”, nơi các hoạt động sản
xuất và dịch vụ diễn ra . 19
+ Người quản lý cấp trung gian: hiển nhiên một tổ chức có quy mô nhỏ có
thể chỉ cần đến một cấp quản lý. Nhưng khi tổ chức phát triển lên, mở rộng

cũng như nhân viên của họ không cần biết những thông tin nào khác, ngoài
việc tính đúng tiền lương và trả đúng kì hạn cho những thành viên ăn lương
trong tổ chức.
+ Người quản lý là người chịu trách nhiệm về toàn bộ tổ chức hay những
bộ phận quan yếu nhất của tổ chức đó, những bộ phận bao trùm hay có ảnh
hưởng đến hầu hết các lĩnh vực hoạt động có tính sống còn đối với tổ chức.
Nói cách khác, người quản lý tổng hợp phải chủ trì hay chịu trách nhiệm về
một loạt các lĩnh vực chức năng. Người quản lý tổng hợp thường có những
chức vụ như “chủ tịch”, “vụ trưởng”
1.2.5.2. Hiệu trưởng trường tiểu học
- Hiệu trưởng trường tiểu học là người đứng đầu các trường tiểu học, chịu
trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã (dưới đây gọi chung là
của huyện) và cơ quan cấp trên về tổ chức, quản lý về hoạt động giáo dục của
các trường tiểu học đối với địa phương (phường, xã…) và cộng đồng.
- Hiệu trưởng trường tiểu học là người đại diện cho trường về mặt pháp
lý, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính, chuyên môn trong
trường, là người trực tiếp tổ chức, quản lý, chỉ đạo các công tác của trường
theo đường lối, quan diểm giáo dục của Đảng, pháp luật, thể lệ quy định của
nhà nước và mục tiêu, chương trình, nội dung kế hoạch giáo dục của Bộ giáo
dục và đào tạo.
- Hiệu trưởng trường tiểu học là người tham mưu cho cấp ủy, chính quyền
địa phương (xã, phường) các vấn đề thuộc lĩnh vực giáo dục, là người tuyên
truyền vận động các đoàn thể, tổ chức xã hội và cha mẹ học sinh tham gia vào
việc xây dựng và phát triển nhà trường.
- Hiệu trưởng trường tiểu học là nhà giáo dục có tâm hồn, phẩm chất cao
đẹp; trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ vững, đồng thời là người hướng dẫn
chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, cán bộ, trong trường.[21] 21

tinh thần cho giáo viên, cán bộ, nhân viên.
- Thường xuyên cải tiến công tác quản lý trường học, đảm bảo các hoạt
động giáo dục của trường đồng bộ, có hiệu quả.
- Tổ chức việc phối hợp giữa nhà trường với các cấp ủy, chính quyền,
đoàn thể ở địa phương và cộng đồng trong việc xã hội hóa giáo dục nhằm thực
hiện chất lượng giáo dục tiểu học và luật phổ cập giáo dục tiểu học.[ 21]
1.2.6.2. Tiêu chuẩn người hiệu trưởng trường tiểu học
Về hiểu biết: nắm được chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về
công tác giáo dục - Đào tạo. Nắm được các luật lệ, chính sách, quy định nhà
nước đối với giáo dục - Đào tạo và các vấn đề liên quan. Nắm được nội dung
cơ bản của công tác quản lý nhà nước về giáo dục - Đào tạo và mục tiêu kế
hoạch đào tạo của trường tiểu học để vận dụng vào thực tế của trường. Am
hiểu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Có năng lực tổ chức,
quản lý trường học; nắm chắc chương trình, nội dung, yêu cầu của môn học ở
tiểu học; biết vận dụng sáng tạo các công tác chuyên môn nghiệp vụ của các
ngành ở địa phương và trường học.
Về trình độ: có trình độ chuyên môn - Nghiệp vụ trung học sư phạm trở
lên .[21]
1.2.6.3. Biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường tiểu học
Biện pháp quản lí của hiệu trưởng trường tiểu học là cách thức tiến hành, là
những việc cụ thể cần làm mà người hiệu trưởng chỉ đạo đơn vị thực hiện
nhằm đạt chỉ tiêu cao nhất đã đề ra.

Trích đoạn Về sự phát triển số lượng giáo dục Quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học Thực trạng những biện pháp quản lý của hiệu trưởng đã thực hiện nhằm phát huy vai trò của Đội trong giáo dục ở trường tiểu học Những nguyên nhân làm cho Đội chưa phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục nhà trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status