VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BẾ THỊ THU HUYỀN
TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN DÂN TỘC
THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC SAU 1986
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9. 22. 01. 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong
luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực. Những kết luận khoa học của luận án
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
BẾ THỊ THU HUYỀN
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 151
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Sau 1986, đất nước bước vào thời kì Đổi mới trên nhiều lĩnh vực trong đó có
văn học nghệ thuật. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền văn học nước nhà, văn học
các DTTS Việt Nam với tư cách là một bộ phận cấu thành và không thể thiếu của nền văn
học ấy, đã đạt được một bước tiến dài cả về số lượng và chất lượng. Trong đội ngũ nhà
văn DTTS Việt Nam hiện đại, khu vực MNPB là khu vực có sự phát triển nổi bật hơn cả,
với nhiều gương mặt các nhà văn thuộc nhiều DTTS khác nhau, có những đóng góp đáng
kể ở thể loại tiểu thuyết: Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Hoàng Luận, Hữu Tiến,
Hoàng Quảng Uyên, Cao Duy Sơn, Chu Thanh Hương (dân tộc Tày), Vương Trung, Cầm
Hùng, Thái Tâm (dân tộc Thái), Hà Trung Nghĩa (dân tộc Mường), Địch Ngọc Lân (dân
tộc Nùng), Lù Dín Siềng (dân tộc Giáy), Mã Anh Lâm (dân tộc Mông)…
1.2. Khu vực MNPB là khu vực đặc sắc trong bản đồ các vùng văn hóa Việt
Nam, ở đây có những đặc trưng của một vùng văn hóa hội tụ đầy đủ những tinh hoa
văn hóa độc đáo, dễ khu biệt với các vùng miền khác trên cả nước. Đó là khu vực sinh
sống của đồng bào các DTTS: Tày, Thái, Mông, Nùng, Dao, Mường, Giáy…. với bản
sắc văn hóa riêng biệt, độc đáo mang dấu ấn đặc trưng của mỗi tộc người. Mỗi nhà văn
là con đẻ của một nền văn hóa, vừa tiếp nhận, hấp thụ vừa bồi đắp, tô điểm thêm cho
nền văn hóa mà họ thuộc về. Bởi vậy, một cách tự nhiên, đời sống văn hóa của đồng
bào đã in dấu vào sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB đậm nét và vô
cùng độc đáo. Đây là vùng văn hóa có sự giao thoa, tiếp biến và tích hợp khá rõ giữa
văn hóa của các tộc người cùng sinh sống, giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện
đại. Đây cũng là nơi đánh dấu sự ra đời của tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại tiểu
thuyết của đồng bào các DTTS (tiểu thuyết Muối lên rừng của nhà văn dân tộc Tày
Nông Minh Châu) – có ý nghĩa đánh một dấu mốc hoàn thiện trong hành trình phát
triển về mặt thể loại của văn học DTTS; là khu vực tập trung đông nhất những người
cầm bút là đồng bào dân tộc, cũng là khu vực có nhiều kết tinh nghệ thuật nhất cả
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa” làm đề tài nghiên
cứu trong luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ góc
nhìn văn hóa nhằm chỉ ra cái nhìn độc đáo và dấu ấn văn hóa tộc người trong tư duy
nghệ thuật của họ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, phác thảo tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn DTTS
MNPB sau 1986, phác thảo lịch sử nghiên cứu văn học từ GNVH, từ đó đưa ra những
đánh giá khách quan cũng như hướng tiếp cận của đề tài.
2
Thứ hai, phân tích những tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội cùng những
tác động, những ảnh hưởng của chúng vào đời sống văn hóa, bản sắc văn hóa của đồng
bào các DTTS MNPB; nghiên cứu chủ thể văn hóa (cộng đồng các DTTS MNPB) trên
các phương diện vũ trụ quan, nhân sinh quan và căn tính văn hóa nổi bật của các tộc
người thiểu số MNPB từ góc nhìn nhân học văn hóa nhằm khám phá đặc trưng tư duy
sáng tạo cũng như tâm lí tiếp nhận của đồng bào; phác họa diện mạo tiểu thuyết của
các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 từ đó đánh giá sự nỗ lực và trưởng thành của đội
ngũ nhà văn.
Thứ ba, phác họa, mô tả và lí giải hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của
các nhà văn DTTS MNPB sau 1986; phân tích ý nghĩa văn hóa của các biểu tượng gắn
với truyền thống và đặc trưng văn hóa các tộc người.
Thứ tư, nghiên cứu một số phương thức nghệ thuật nhằm biểu đạt văn hóa
trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB: nghệ thuật sử dụng huyền thoại, nghệ
thuật sử dụng các motif và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng của các nhà
văn DTTS MNPB – tạo nên dấu ấn độc đáo về văn hóa vùng miền, văn hóa tộc người
Đây là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình triển khai luận
án. Phương pháp này vận dụng một số tri thức liên ngành: nhân loại học, triết học,
phân tâm học, ngôn ngữ học, lịch sử, tôn giáo… để giải thích văn học bằng những
truyền thống văn hóa, mã văn hóa, hoạt động văn hóa… Phương pháp này tạo nên cái
nhìn bao quát, toàn diện về vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp này trở thành công cụ
đắc lực khi giải mã văn học, giúp người đọc thấy được mối quan hệ giữa văn học với
các ngành khoa học khác. Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng cách đọc liên văn bản,
cách phân tích diễn ngôn nhằm chỉ ra những biểu hiện chiều sâu của văn hóa trong tác
phẩm văn học, cắt nghĩa những biểu hiện văn hóa từ tâm thức của cộng đồng dân tộc.
4.4. Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát các tác phẩm tiểu
thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 nhằm có những cứ liệu xác đáng cho
các luận điểm.
4.5. Tiếp cận thi pháp học
Đây là phương pháp được sử dụng để khám phá những phương thức nghệ
thuật chủ yếu nhằm biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB
sau 1986.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đề tài Tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986
từ góc nhìn văn hóa lần đầu tiên khảo sát hệ thống tiểu thuyết của các nhà văn DTTS
MNPB sau 1986 từ góc độ văn hóa một cách hệ thống, chuyên sâu qua các bình diện:
những tiền đề tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội; những đặc trưng của chủ thể văn hóa
như những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên cội nguồn văn hóa cho tiểu thuyết của
các nhà văn DTTS MNPB.
4
Khảo sát, hệ thống hóa và giải mã hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của các
nhà văn DTTS MNPB sau 1986 dựa trên những đặc trưng văn hóa của khu vực
MNPB, từng vùng văn hóa nói chung và bản sắc văn hóa của từng cộng đồng dân tộc
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết của các tác giả dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc sau 1986
1.1.1. Những nghiên cứu có tính chất tổng quát
So với việc nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại nói chung thì những nghiên
cứu dành cho mảng văn học DTTS trong đó có mảng tiểu thuyết của các nhà văn
DTTS còn tương đối khiêm tốn. Thực tế, chưa có những công trình chuyên biệt nghiên
cứu về tiểu thuyết của các nhà văn dân DTTS MNPB mà mới chỉ xuất hiện những
công trình nghiên cứu có nhận xét, đánh giá chung về văn học, văn xuôi miền núi mà
tiểu thuyết là một phần trong đó.
Có thể kể đến công trình Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (NXB
Văn hóa dân tộc, 1988) với các bài viết về 16 nhà văn, nhà thơ DTTS, trong đó có một
số tác giả tiểu thuyết: Triều Ân, Nông Minh Châu, Vi Hồng. Các bài viết đã chỉ ra
những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của mỗi nhà văn, với
những thành công và hạn chế. Với 4 cuốn sách nghiên cứu, lí luận phê bình: Văn học
các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995), Về một mảng văn học dân tộc (1999),
Văn học và miền núi (2002), Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số (2011), Lâm Tiến là
nhà nghiên cứu dành nhiều tâm sức cho văn học các DTTS. Trong các công trình của
mình, Lâm Tiến đã khảo sát và phân tích kĩ lưỡng đối tượng mà ông đặc biệt quan
tâm: nền văn học của các DTTS, từ đó phác thảo khái quát diện mạo nền văn học hiện
đại của họ; phân tích những ảnh hưởng theo chiều hướng tiếp thu văn học dân gian của
các tác giả DTTS hiện đại; chỉ ra những biểu hiện khác nhau của các nhà văn DTTS
khi sử dụng chất liệu truyền thống là văn học dân gian để thấy được những nét riêng
biệt, đặc sắc của từng người. Đồng thời, ông cũng đưa ra lý do giải thích vì sao, văn
xuôi các DTTS chưa thực sự phát triển trong giai đoạn đầu, do rất ít các nhà văn DTTS
phát biểu về quan điểm sáng tác của mình, cũng như chưa có được những bài phê bình
và tiểu luận về văn học. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định văn xuôi các DTTS đã tạo
cho mình những sắc thái riêng khá đặc sắc. Bên cạnh đó, Lâm Tiến cũng chỉ ra một số
hạn chế về nghệ thuật: đơn giản trong cốt truyện, kết cấu, nhân vật thiếu cá tính, tác
phẩm thiếu khả năng hư cấu nên ranh giới giữa truyện và kí không rõ rệt... “Tầm tư
thời?... Ngày 12/4/2014, Hội thảo khoa học quốc gia Ngôn ngữ và văn học vùng Tây
Bắc diễn ra tại Trường Đại học Tây Bắc, thành phố Sơn La. Nhiều báo cáo tại hội thảo
đã trực tiếp bàn về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong nghiên cứu và giảng dạy văn
học DTTS: Ảnh hưởng của văn học dân gian trong loại hình tự sự dân tộc Thái thời kì
hiện đại (Nguyễn Thị Hải Anh), Tăng cường nghiên cứu và giảng dạy văn học địa
phương – Một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa vùng Tây Bắc (Nguyễn Thị Thu Hoài)… Ngày 15/5/2014, Viện Văn học tổ
chức Hội thảo khoa học toàn quốc Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập quốc tế, nhiều vấn đề về vẻ đẹp, thành tựu, sự đóng góp, đội ngũ,
những hạn chế, khúc mắc… của văn học các DTTS trong sự phát triển đời sống văn học
nước nhà đã được trình bày. Đặc biệt, vấn đề truyền thống và hiện đại trong văn học
DTTS lại một lần nữa được đặt ra với những trăn trở của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu
trong cả nước.
1.1.2. Nghiên cứu về một số hiện tượng tiêu biểu
Những năm gần đây, một số bài nghiên cứu và các luận văn, luận án bước đầu
tìm hiểu về tác giả, hoặc một tác phẩm cụ thể trong mảng tiểu thuyết của các nhà văn
7
DTTS MNPB, nhưng mới chỉ tập trung vào một vài giả quen thuộc như Vi Hồng, Ma
Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Triều Ân.
Vi Hồng là tác giả được các nhà nghiên cứu, học viên và sinh viên của Đại học
Thái Nguyên quan tâm hơn cả. Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, luận
văn Thạc sĩ… lựa chọn Vi Hồng và tiểu thuyết của ông làm đề tài nghiên cứu: Tìm
hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng (Phạm Mạnh Hùng – Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ)… Ngoài ra, có khá nhiều bài viết về tác giả này được in rải rác trên
các báo: “Nhà văn Vi Hồng như tôi đã biết” (Dương Thuấn, Tạp chí Văn nghệ dân tộc
và miền núi, 2002), “Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng” (Lâm Tiến, Tạp chí
Non nước Cao Bằng, số 3 năm 2006), “Bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ tác phẩm Vi
Hồng” (Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 4 năm 2006), “Thế giới
Mường, Thái, Giáy, Mông…) ít được các nhà nghiên cứu quan tâm.
1.1.3. Nghiên cứu từ góc độ văn hóa
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về tiểu thuyết của các
nhà văn DTTS MNPB sau 1986 trên phương diện văn hóa mà chỉ có những công trình
nghiên cứu về văn xuôi miền núi trên phương diện văn hóa trong đó tiểu thuyết là một
thể loại được đề cập tới ở mức độ khiêm tốn. Công trình Bản sắc văn hóa dân tộc
trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam (Đào Thủy Nguyên (chủ
biên) – Dương Thu Hằng) – NXB Đại học Thái Nguyên, 2014, có thể coi là công trình
dày dặn đầu tiên nghiên cứu phương diện văn hóa trong văn xuôi DTTS. Các tác giả
đã tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn xuôi DTTS Việt Nam trên hai phương diện
chính là nội dung và nghệ thuật, được thể hiện ở chương 2: Những mạch nguồn cảm
hứng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại và chương 3: Một số phương diện nghệ thuật đặc sắc thể hiện bản sắc văn
hóa dân tộc trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Nhìn chung, công trình Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà
văn dân tộc thiểu số Việt Nam của nhóm tác giả Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng
đã có sự nghiên cứu công phu về sự thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi
DTTS (trong đó có thể loại tiểu thuyết) trên hai phương diện cơ bản là nội dung và
nghệ thuật. Bên cạnh việc nghiên cứu tìm hiểu bản sắc văn hóa trong văn xuôi DTTS
thời kì hiện đại trên diện rộng (chương II, III), các tác giả cũng đã chú trọng nghiên
cứu bản sắc dân tộc qua một số cây bút văn xuôi tiêu biểu, trong đó có Vi Hồng và
Cao Duy Sơn là hai cây bút tiểu thuyết nổi bật của khu vực MNPB, nằm trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận án mà chúng tôi đang triển khai.
Ngoài ra, nhiều công trình, bài viết khác cũng có ít nhiều đề cập tới phương
diện văn hóa trong văn xuôi của các nhà văn DTTS khu vực MNPB. Theo sự thống kê
ban đầu, chúng tôi thấy các công trình, bài viết đó tập trung chủ yếu vào các vấn đề
sau: (1) Ý nghĩa, tầm quan trọng của bản sắc văn hóa trong văn học DTTS; (2) Vai trò
của nhà văn DTTS với việc thể hiện, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; (3)
Sự thể hiện của bản sắc văn hóa dân tộc trên phương diện nội dung văn xuôi nói
chung, tiểu thuyết nói riêng của các nhà văn DTTS MNPB; (4) Sự thể hiện của bản sắc
văn DTTS, bởi chính họ là lực lượng trực tiếp sáng tác những tác phẩm văn học – kết
tinh văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc mà họ là thành viên. Theo nhà nghiên
cứu Phong Lê, “Không ai là người nói lên được tốt nhất thế giới tâm hồn và khát vọng
của mỗi dân tộc bằng chính người viết của dân tộc mình”. Do đó, ông nhấn mạnh yêu
cầu về bản sắc đối với các nhà văn DTTS “đó là điều bắt buộc, bởi lẽ, thiếu cái đó –
bản sắc dân tộc – tức là chưa có gì đáng nói cả - tức là chưa có cái để phân biệt họ với
các nhà văn dân tộc khác” [83; tr.220]. Quan điểm này gần với quan điểm của nhà văn
DTTS nước Nga – Raxun Gamzatov: “Khi văn học không còn được nuôi dưỡng bằng
những gì cha ông để lại, mà chuyển sang xơi những thứ cao lương mĩ vị đem từ nước
ngoài đến, khi văn học trút bỏ những phong tục, tập quán, ngôn ngữ và tính cách của
dân tộc mình, khi văn học thay lòng đổi dạ với dân tộc mình, thì nó sẽ trở nên ốm o,
quặt quẹo, chết dần chết mòn mà không một thứ thuốc nào có thể chứa được”
(Đaghetxtan của tôi). Điều này, chính nhà văn Tô Hoài cũng đã khiêm tốn thừa nhận,
dù ông có cố gắng đến đâu, những tác phẩm về miền núi của ông “cũng chỉ đạt tới đôi
nét chấm phá của một bức tranh kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình” do
“không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như các cây bút dân tộc
10
thiểu số” [41]. Theo lí giải của Vi Hồng, “Một dân tộc dù nhỏ bé đến đâu, họ vẫn có
một tâm hồn rất riêng mà chỉ có những con đẻ thông minh và nhạy cảm của dân tộc
mình mới có cơ may khám phá và phát hiện được. Cái thế giới tâm hồn rất riêng, rất
đặc trưng của mỗi dân tộc có thể coi như vùng phát sáng của dân tộc họ”. “Nhà văn,
nhà nghệ sĩ…phải bằng mọi cách phát hiện được con đường bí ẩn để đột nhập vào
“vùng phát sáng”, vào “mắt”, vào “tâm” tâm hồn…Cái chỗ ấy bao giờ cũng yên tĩnh
và nó phát khởi mọi động lực làm nên đời sống tâm hồn của một dân tộc… Điều này
vô cùng quan trọng đối với thành công của một nghệ sĩ” [41]. Bởi bản sắc văn hóa dân
tộc làm nên sức sống và vẻ đẹp riêng cho văn học DTTS nên các nhà văn phải ý thức
sâu sắc điều này, theo Lâm Tiến (nhà nghiên cứu văn học dân tộc Nùng): “khi nhà văn
không được tắm mình trong dòng chảy của truyền thống văn hóa dân tộc, không có
tộc. Phạm Duy Nghĩa với chuyên luận Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền
núi (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) đã có những phần trực tiếp bàn về phương diện văn
hóa trong văn xuôi DTTS: Con người trong đời sống văn hóa (trong chương II: Văn
xuôi miền núi nhìn từ các bình diện về con người) và Vấn đề truyền thống – hiện đại và
vấn đề bản sắc dân tộc (trong chương III: Nghệ thuật văn xuôi miền núi và vấn đề
truyền thống, hiện đại). Theo Phạm Duy Nghĩa, văn học về đề tài miền núi luôn là nơi
tái hiện và bảo lưu những giá trị văn hóa trong đời sống các dân tộc bằng con đường
riêng theo đặc trưng của văn học. Yếu tố văn hóa trong văn học có mặt ở hầu khắp các
sáng tác về đề tài này. Nó tồn tại trong tính đa dạng, cả hữu thể và vô thể, vật chất và
tinh thần, bề nổi và bề chìm: phong tục tập quán và lễ hội, kiến trúc, trang phục, hình
thái sản xuất của các tộc người… Tác giả đã tập trung nghiên cứu những nét đặc sắc của
văn hóa Tây Nguyên thể hiện trong văn xuôi trong sự so sánh tương quan với văn hóa
Hmông (Mèo) – một dân tộc tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc MNPB. Phạm Duy
Nghĩa cũng khẳng định, bản sắc dân tộc trong văn học là tổng hòa mọi đặc điểm độc đáo
chung cho sáng tác văn học của một dân tộc, phân biệt nó với dân tộc khác. Bản sắc dân
tộc thể hiện không chỉ ở các yếu tố ngoại hiện thuộc về khách thể: nhà cửa, trang phục,
thiên nhiên, tập quán sinh hoạt… mà còn được thể hiện ở tinh thần dân tộc, tính cách và
tâm hồn dân tộc, nằm ở bề sâu.
Thứ tư, một số công trình nghiên cứu, chuyên luận và bài viết đã đề cập đến sự
thể hiện của bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi DTTS trên phương diện nghệ
thuật. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, phương diện nghệ thuật vừa có những ưu
thế vừa có những hạn chế nhất định trong việc thể hiện bản sắc dân tộc trong văn xuôi
của các nhà văn DTTS MNPB. Trước hết, về mặt ưu điểm, các nhà nghiên cứu đều
thống nhất rằng, việc tiếp thu những yếu tố dân gian (lối nói giàu hình ảnh, sử dụng
các thành ngữ, tục ngữ…), những cách ví von, so sánh, ẩn dụ, việc đưa ngôn ngữ dân
tộc… vào văn xuôi đã tạo ra những hiệu ứng nhất định, góp phần làm nổi bật bản sắc
văn hóa dân tộc trong tác phẩm. Theo Văn Giá, “trong bối cảnh suy tưởng sống động,
những ví von, so sánh, ẩn dụ… của đồng bào các DTTS đã thực sự trở thành kho báu
tuyệt diệu. Chúng vô cùng lợi hại, chúng là trợ thủ đắc lực số một của văn chương, bởi
vì tự bản thân chúng đã bao hàm tính văn chương, tính nghệ thuật, dồi dào năng lượng
câu đúng ngữ pháp nhưng thiếu đa dạng, linh hoạt”, tiểu thuyết Triều Ân lại “để lộ
những chỗ hành văn vụng về, lặp từ và thừa từ, thừa chi tiết khiến văn loãng, chậm và
nhàm” [79; tr.201]. Theo Phạm Duy Nghĩa, chính “vốn ngôn ngữ tiếng Việt eo hẹp,
nghèo nàn đã cản trở các nhà văn rất nhiều khi viết tiểu thuyết, đó cũng là nguyên
nhân tiểu thuyết ít xuất hiện” [79; tr.201].
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu gần đây của các nhà nghiên cứu ở Thái
Nguyên lại cho rằng, vẫn cần nhận ra chỗ yếu song phải đánh giá thỏa đáng hơn, bởi
“nếu nhìn từ góc độ tiếp nhận với tầm tiếp nhận của độc giả, sự tiếp thu kế thừa các
yếu tố văn hóa dân gian là một trong những con đường để tác phẩm của các nhà văn
DTTS đi vào công chúng miền núi một cách hiệu quả. Nên chăng, vẫn có thể coi đây
là một thế mạnh của các nhà văn miền núi?” [133; tr.157]. Theo Đào Thủy Nguyên –
Cao Thị Hảo, gần đây, văn xuôi của các nhà văn DTTS đã có những biến chuyển đáng
mừng “Từ những tác phẩm ban đầu đơn giản trong cách cảm nhận hiện thực, thô mộc
trong ngôn ngữ thể hiện đến những tác phẩm sau này chau chuốt, chọn lọc trong lời
văn nghệ thuật; mới mẻ trong cách nhìn con người và cuộc sống, trong quan niệm
nghệ thuật về hiện thực và con người với ý thức tăng cường tư duy tiểu thuyết, nêu cao
13
tinh thần nhân văn, nhân bản… là cả một quá trình gắng gỏi tích lũy tri thức, tìm tòi
cách thể hiện và vượt lên chính mình của các cây bút văn xuôi DTTS” [72; tr.75].
Bên cạnh đó, đã có một vài bài viết trực tiếp tìm hiểu phương diện văn hóa
trong văn xuôi về MNPB khi nghiên cứu một tác giả, tác phẩm cụ thể: Đào Thủy
Nguyên (2010): Cội nguồn văn hóa dân tộc trong truyện ngắn Cao Duy Sơn, Tạp chí
Nghiên cứu Văn học số 6 tháng 6 năm 2010; Hỏa Diệu Thúy (2012): Truyện ngắn Cao
Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 340 tháng 10 năm 2012.
Các bài viết trên đã đề cập đến phương diện văn hóa như “cội nguồn văn hóa”, “bản
sắc văn hóa” trong văn xuôi về MNPB nói chung, trong tiểu thuyết về MNPB nói
riêng, có bài viết khai thác từ “góc nhìn văn hóa” nhưng chỉ tập trung vào truyện ngắn
của một tác giả và trong khuôn khổ của một bài viết ngắn.
phức tạp ba chiều của đời sống văn hóa con người. Tuy vậy, ông mới chú ý đến sự
tác động của hoàn cảnh môi trường chủ yếu về mặt tinh thần (hoàn cảnh chính trị,
các điều kiện xã hội, tôn giáo và hoàn cảnh địa lí), chưa đề cập tới mặt cơ bản nhất
có ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ tới đời sống con người đó là cơ sở kinh tế xã hội”
[113; tr.71]. Tuy nhiên theo đánh giá của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, “trường phái
văn hóa – lịch sử vẫn tìm giá trị của văn chương không phải ở bản thân văn chương,
mà ở đối tượng đã in dấu vào văn chương, tức là văn hóa, lịch sử. Như vậy nó đã có
phần đồng nhất văn chương với thực tại xã hội mà văn chương phản ánh. Bởi vậy,
lịch sử văn chương mà Taine muốn tạo dựng thực chất là lịch sử văn minh, lịch sử tư
tưởng xã hội. Mối quan hệ biện chứng, chân thực giữa các quá trình xã hội và văn
học chưa được giải thích rõ”. [114; tr.107 – 108]. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, đóng
góp đáng ghi nhận của trường phái này đó là đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn học và
văn hóa qua chủ thể sáng tạo văn học (tác giả). Một tác giả văn học luôn thuộc về
một dân tộc nào đó, chịu ảnh hưởng của văn hóa lịch sử của dân tộc mình để rồi
những ảnh hưởng đó ít nhiều được phản chiếu vào tác phẩm của họ bằng con đường
kế thừa, kết tinh và sáng tạo.
Sang thế kỉ XX, nhà triết học người Đức E. Casirer nghiên cứu văn học từ góc độ
huyền thoại học như một kiểu tư duy cổ xưa nhất của con người. Ông phát triển quan
niệm coi hoạt động tinh thần của con người (trong đó tiêu biểu nhất là sự sáng tạo huyền
thoại với tư cách là dạng cổ xưa nhất của hoạt động ấy) như là một hoạt động mang tính
cách biểu trưng. Trong cuốn “Tư duy huyền thoại” (tập thứ hai trong một công trình
nghiên cứu ba tập nhan đề “Triết học về các hình thức biểu trưng”) ông đã miêu tả một số
đặc điểm cơ bản về dạng thức cũng như về cấu trúc của tư duy huyền thoại, và về tính ẩn
dụ biểu trưng của huyền thoại. Ông cho rằng văn hóa là một hệ thống kí hiệu và nghiên
cứu văn học là nghiên cứu biểu tượng của nó.
Từ góc độ kí hiệu học, Iu.M.Lotman – người sáng lập trường phái nghiên cứu
Tartu – Moskva (trường phái nghiên cứu bao trùm nhiều lĩnh vực như văn học, kí hiệu
học, văn hóa học, ngôn ngữ học) đã nhận ra sự tương tác của các kênh thông tin như
một phạm trù xã hội. Iu.M.Lotman là người có công lớn trong việc đề xướng giải mã
văn bản văn học bằng kí hiệu. Tất cả những công trình về ký hiệu học của ông đều
được thể hiện bằng những hình ảnh tượng trưng tập thể. Sự xuất hiện trở đi trở lại của
chúng khiến cho văn hóa được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Văn học, theo sự
phân loại của Jung gồm 2 loại: Loại hình tâm lí và loại hình ảo giác. Nếu loại hình tâm
lí thường viết về những bài học cuộc đời, số phận con người với những niềm vui, nỗi
buồn… con người ý thức được và giải thích được thì loại hình ảo giác được khơi
nguồn từ vô thức tập thể có nguồn gốc sâu xa từ thời tiền sử. Ông đánh giá cao loại thứ
hai vì cho rằng tác phẩm sáng tác từ ý thức hay vô thức cá nhân vẫn là vấn đề trong
phạm vi hẹp của cá nhân chứ chưa vươn ra tầm nhân loại. Jung cho rằng, muốn nhận
biết hình tượng văn học phải hiểu được con đường hình thành biểu tượng. Trong mỗi
con người đều tồn tại vô thức tập thể được kế thừa từ thời xa xưa dưới một dạng thức
nhất định của những hình ảnh được ghi nhớ. Siêu mẫu (cổ mẫu, mẫu gốc) được sử
dụng lặp lại trong suốt chiều dài lịch sử ở bất kì nơi đâu có trí tưởng tượng sáng tạo tự
do hoạt động. Vì vậy, theo ông, quá trình sáng tạo nghệ thuật là phải “hà hơi sống cho
siêu mẫu từ trong vô thức, là trải nó ra và tạo hình nó cho đến khi thành một tác phẩm
nghệ thuật hoàn chỉnh” [116; tr.72]. Bên cạnh vai trò của vô thức cá nhân, Jung đặc
biệt nhấn mạnh đến ý nghĩa to lớn của vô thức tập thể trong quá trình sáng tạo nghệ
16
thuật “một cá nhân riêng rẽ không thể phát huy được hết sức mạnh tập thể, nếu một
trong các biểu tượng tập thể, những cái được gọi là lí tưởng, không hiện ra giúp nó và
không tháo cởi những sức mạnh bản năng của nó” [116; tr.72]. Như vậy, có thể nhận
thấy, Jung là người có công lớn trong việc khẳng định vai trò của cổ mẫu trong sáng
tạo nghệ thuật.
Xu hướng vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lí giải văn học ở
Nga xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XX mà người khởi xướng là M. Bakhtin, giáo sư
văn học người Nga thuộc Đại học Saransk. Bakhtin quan niệm “Trước hết, khoa
nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn học. Văn học là một bộ
phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn
của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại”. Công trình nghiên cứu quan
văn hóa nảy sinh từ những năm 50 với trường phái Birmingham (R. Williams,
R.Hoggart), ở Đức với trường phái Frankfurt (D. Kellner), những năm 70 ở Pháp với
R.Barthes…. Họ chủ trương nghiên cứu các hiện tượng đời sống văn hoá như đấu vật,
quảng cáo, thoát y vũ, kiểu dáng ôtô, minh tinh màn bạc…, phát hiện ý nghĩa văn hoá
và ý thức hệ của chúng, vừa có thái độ phê phán vừa coi đó là đời sống bình thường
của đô thị. Hướng nghiên cứu này đến những năm 80 lan sang Úc, Canada, Mĩ, chuyển
thành một hướng nghiên cứu có tính chất xã hội, chính trị như nghiên cứu nữ quyền,
hậu thực dân và trở thành một trào lưu có tính thế giới.
Năm 1985, cùng với chuyến thăm Trung Quốc của F. Jameson hướng nghiên
cứu văn học từ văn hóa học được giới thiệu, nhưng chưa được chú ý. Năm 1992, với
sự chuyển hướng kinh tế thị trường, các vấn đề xã hội mới xuất hiện, đặc biệt là văn
hoá đại chúng, khiến người ta bắt đầu quan tâm vấn đề văn hoá. Đến cuối những năm
90 các học giả Trung Quốc mới thấy hết ý nghĩa của vấn đề, thế là Lí Âu Phạn, Uông
Huy, Chu Tiểu Nghi, Từ Huỷ, Lí Đà, Lí Tượng Ngu, Nam Phàm, Đào Đông Phong,
Trần Hiểu Minh, La Cương, Mạnh Phồn Hoa, Vương Đức Thắng, Vương Nhạc
Xuyên…đều có bài viết về nghiên cứu văn hoá. Năm 2002 Kim Nguyên Phủ mở
website culstudies.com, bắt đầu đồng loạt giới thiệu, tổ chức hội thảo, ra các tủ sách,
phiên dịch giới thiệu nghiên cứu văn hoá rầm rộ vào Trung Quốc. Năm 2003 Đào
Đông Phong, Kim Nguyên Phủ, Vương Đức Thắng công bố một chùm bài về nghiên
cứu văn hoá trên Văn nghệ tranh minh số 6, gây thảo luận, đến năm 2004 thì tạo được
một phong trào rộng lớn, được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm.
1.2.2. Trong nước
Theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy thì phê bình văn học từ văn hóa đã có từ lâu,
từ thời kì trung đại khi Phạm Quý Thích bình luận Kiều là “Nhất phiếu tài tình thiên cổ
lụy/ Tân thanh đáo để vị thùy dương”, khi Trần Trọng Kim nghiên cứu Truyện Kiều từ
quan điểm Phật giáo, khi Hoài Thanh viết “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt
Nam) khảo sát từ luồng gió mới của văn hóa phương Tây. Và đến gần đây, khi Unesco
phát động những thập kỉ phát triển văn hóa, với nhận thức văn hóa là động lực của sự
phát triển thì phê bình văn học từ văn hóa càng được chú y nhiều hơn, đặc biệt khi bộ
môn Văn hóa học và Nhân học văn hóa xuất hiện ở Việt Nam thì văn hóa bắt đầu được
cụ thể là cho nền văn học trung đại Việt Nam, dẫn đến chỗ suy diễn chủ quan, xa rời thực
tế. Từ đó ông chủ động chọn “cách tiếp cận văn hóa như một hướng đi chủ yếu để nghiên
cứu văn học Việt Nam”. Theo ông, “nếu chúng ta tìm kiếm và tích lũy được nhiều sự kiện
văn hóa trong quá khứ để giải thích văn học, thì khả năng suy diễn, khả năng hiện đại hóa
có thể được giảm thiểu và chúng ta càng có nhiều cơ may đến gần sự thật lịch sử văn học”
(Lời nói đầu).
Nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn cũng là một người dành nhiều tâm huyết cho
hướng nghiên cứu này. Năm 2011, công trình Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn
hóa của ông đã góp phần khẳng định, tính chất phi thường của tác phẩm không chỉ thể
hiện qua quan niệm độc đáo, qua nghệ thuật tài hoa mà còn ở chỗ nó mang tầm vóc
văn hóa, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, mang tính lịch sử và truyền thống văn
hóa thời đại. Đến năm 2014, tác giả lại cho ra đời công trình dày dặn mang tên Tiếp
cận văn học từ góc nhìn văn hóa. Công trình này có những gợi ý quan trọng về mặt lí
thuyết về phương pháp tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa: Lí giải tính văn hóa của tác
phẩm văn học, các phương diện biểu hiện của văn hóa trong tác phẩm văn học (huyền
thoại, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, khoa học, triết học), tìm hiểu mã văn hóa trong
19
các mối quan hệ của tác phẩm văn học (mã trong các quan hệ nội tại và quan hệ ngoại
tại của tác phẩm) và đi sâu nghiên cứu các dạng thức tồn tại của mã văn hóa (mã văn
hóa qua những kí hiệu đặc biệt, mã văn hóa trong các mô típ truyền thống, mã văn
hóa trong các biểu tượng, mã văn hóa huyền thoại, mẫu gốc).
Bên cạnh những công trình nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng
văn học cụ thể bằng phương pháp nghiên cứu ít nhiều liên quan đến văn hóa như đã kể
trên; ở Việt Nam cũng đã xuất hiện những công trình của các nhà nghiên cứu, chủ
động nghiên cứu văn học từ văn hóa, chủ động xác lập quan niệm nghiên cứu văn học
từ văn hóa hoặc giới thiệu lí thuyết nghiên cứu văn học từ văn hóa của các học giả
phương Tây. Trong đó, không thể không kể đến các công trình Quan hệ giữa văn
chương và văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc; Giá trị văn hóa của văn học Việt Nam, Ý
Văn học - Học viện Khoa học Xã hội), Nguyễn Thị Mai Hương (2014), Tiểu thuyết về
nông thôn sau đổi mới từ góc nhìn văn hóa (Luận án Tiến sĩ Văn học – Học viện Khoa
học Xã hội), Nguyễn Thị Thu Thủy (2017), Thơ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
sau 1986 từ góc nhìn văn hóa (Luận án Tiến sĩ Văn học – Học viện Khoa học Xã hội),
Phùng Phương Nga (2018) Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa qua trường hợp
tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh (Luận án Tiến sĩ Văn học – Học viện Khoa học Xã
hội)… cho thấy, hướng nghiên cứu này đã và đang được giới nghiên cứu, học thuật
trong nước quan tâm và đạt được những thành tựu đáng kể trong nghiên cứu văn học
hiện nay.
Nhiều bài viết khoa học đăng rải rác trên các báo đã lựa chọn hướng nghiên cứu
này, dù là nghiên cứu văn học nước ngoài hay văn học Việt Nam, hướng nghiên cứu
văn học từ văn hóa cũng tỏ ra có nhiều ưu thế. Bên cạnh những bài viết mang tính chất
khái quát: “Mấy suy nghĩ về hướng nghiên cứu văn học nghệ thuật trong mối quan hệ
với văn hóa” (Nguyễn Duy Bắc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1999), “Tiếp cận văn
học bằng văn hóa học” (Nguyễn Văn Dân, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 11 năm
2004), “Văn hóa như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương” (Nguyễn Văn
Hạnh, Tạp chí Văn học số 1, 2007), “Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học” (Trần
Lê Bảo, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, 2009), “Văn học và văn hóa truyền thống”
(Huỳnh Như Phương, Tạp chí Nhà văn số 10, 2009), “Chuyển hướng văn hóa trong
nghiên cứu văn học Trung Quốc” (Trần Đình Sử, vanhoanghean.com.vn, 2011)… đã
có nhiều bài viết tiếp cận và khám phá văn học từ góc nhìn này với những kiến giải
mới mẻ và thú vị: “Thử giải mã văn học Việt Nam theo tinh thần văn hóa Việt Nam và
văn hóa phương Đông” (Đoàn Thị Đặng Hương, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3,
1996), “Tiếp cận tác phẩm thơ từ góc độ văn hóa nghệ thuật” (Lã Nguyên, Tạp chí
Nghiên cứu Văn học số 3, 1998), “Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận
văn hóa học” (Phạm Đức Dương, Tạp chí Văn học số 1, 1998), “Thế giới kì ảo trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ điểm nhìn văn hóa” (Lê
Nguyên Cẩn, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 8, 2006)… Đây thực sự là những tham
khảo hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng tiếp cận của đề tài