Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân - Pdf 52

Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam _từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,nhiều nơi còn đói kém
nhưng nhờ áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ, lần đầu tiên nền
kinh tế vượt "cửa ải" lương thực và bắt đầu "cất cánh" _ sản lượng lương thực
liên tục tăng, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới_ Tuy
nhiên, sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh do ảnh hưởng của nhiều nhân tố
như điều kiện tự nhiên, giống cây trồng, vật nuôi, việc ứng dụng những thành
tựu khoa học vào sản xuất của các hộ gia đình nông dân còn nhiều khoảng
cách... Do vậy, cần phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản
xuất để khoa học thực sự là động lực thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông
nghiệp nông thôn. Việc ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học công
nghệ vào nông nghiệp có ý nghĩa trực tiếp và to lớn trong việc nâng cao năng
suất cây trồng, năng suất vật nuôi và tăng sức cạnh tranh hàng nông sản Việt
Nam ở thị trường trong nước và quốc tế.
Từ những nhận định trên tác giả quyết định lựa chọn đề tài: "Tăng cường
quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân nước
ta" .
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ
liên kết giữa khoa học và sản xuất ,thực chất của mối quan hệ này ,từ đó đánh
giá quá trình thực hiện và đưa ra giải pháp .
Theo mục đích trên , đề tài bao gồm những nội dung sau:
-

Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất

của hộ gia đình nông dân
-



Mục Lục

3

Chương I-Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa
khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

4

1.1.Thực chất quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ
gia đình nông dân

4

1.1.1.

Khái niệm

4

1.1.2. Thực chất của quan hệ liên kết

4

1.2. Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và
sản xuất của hộ gia đình nông dân

7


Nguyễn Minh Đức K39.11.08

2


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
Chương III - Giải pháp

27

3.1. Quan điểm về phát triển khoa học công nghệ trong nông
nghiệp và định hướng

27

3.2. Giải pháp

29

3.2.1. Giải pháp từ phía Nhà nước

29

3.2.2. Giải pháp từ phía các nhà khoa học

32

3.2.3. Về phía hộ nông dân




Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
dụng và thực hiện các cam kết trong hợp đồng kỹ thuật với các nhà khoa học.
Bên cạnh đó hộ gia đình nông dân phải thực hiện các qui định về sản xuất,
chế biến và tiêu thụ cũng như các cam kết tín dụng với ngân hàng. Hộ gia
đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường, là đơn vị
kinh tế cơ sở trong nền kinh tế hàng hoá và là đơn vị sản xuất quy mô nhỏ có
hiệu quả.
1.1.2 Thực chất của quan hệ liên kết kinh tế
Tiền đề của quá trình liên kết là sự phát triển của quá trình phân công lao
động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh. Quá trình liên kết kinh tế
xuất hiện trong nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thị trường, khởi thuỷ của
nó là quan hệ kinh tế, quan hệ trao đổi, mua - bán sản phẩm, hàng hoá trên thị
trường, vận động phát triển qua nhiều nấc thang trình độ cố kết bền vững của
các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp. Quá trình liên kết kinh tế giữa các
doanh nghiệp diễn ra trước hết trong lưu thông, trao đổi sản phẩm. Nó được
đánh dấu bởi sự hợp tác trao đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Sự mua bán trao đổi hàng hoá không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, nhất thời giữa
các doanh nghiệp mà đã trở nên thường xuyên liên tục, có hợp đồng kế hoạch
từ trước và ổn định bạn hàng trong một thời gian tương đối dài .

Như vậy ,quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đã chuyển biến về chất,
nâng quan hệ lên một trình độ cao hơn ,thường xuyên, ổn định và cố kết hơn,
có sự thoả thuận hợp tác lâu dài và bền vững hơn.

Quá trình đó được phát triển lên một giai đoạn cao hơn ,tức là sự hợp tác
diễn ra ngay trong quá trình sản xuất. Giai đoạn này cũng được phát triển qua
nhiều nấc thang của nó. Bắt đầu chỉ là thoả thuận phân công chuyên môn hoá
sản xuất sản phẩm, chi tiết, bán thành phẩm hoặc kinh doanh tiêu thụ sản

nhuận tối đa và ổn định, là nhằm tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường,
ngày càng mở rộng phạm vi. Lợi ích kinh tế là sợi dây ,là chất nhưạ làm gắn
bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại với nhau. Cạnh tranh là nhân tố
khách quan thúc đẩy các chủ thể "tự nguyện bắt buộc" liên kết lại với nhau
trên cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường .Để đạt tới lợi nhuận tối đa
và ổn định giữa các thành viên, hoạt động liên kết kinh tế là nhằm phát triển,

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

5


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
tìm kiếm khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu cho sản xuất, đa dạng
hoá mặt hàng, tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm , rút ngắn và
đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng phát triển thị
trường, tức là nâng cao năng suất lao động, tồn tại , phát triển và mang lại
hiệu quả kinh tế ngày càng cao.

Liên kết kinh tế là một quá trình vận động phát triển tự nhiên, tuỳ thuộc
trình độ phạm vi của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất kinh
doanh, tuỳ thuộc vào quá trình vận động phát triển của các quan hệ kinh tế
giữa các doanh nghiệp, vào lợi ích của các bên tham gia liên kết, vào môi
trường cạnh tranh. Liên kết kinh tế còn phụ thuộc vào mối quan hệ nội tại
giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các bộ phận,các khâu của quá trình tái
sản xuất xã hội, phụ thuộc vào sự "thử thách" của quá trình quan hệ, vào trình
độ công nghệ quản lý, cũng như năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ quản
lý. Không thể áp dụng về phương diện tổ chức từ bên ngoài, hoặc từ bên trên
bất kỳ một hình thức tổ chức liên kết kinh tế theo ý muốn chủ quan .

Liên kết kinh tế trong các ngành sản xuất kinh doanh là một tất yếu khách
quan :
-

Do yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của quá trình sản xuất xã hội .
Tái sản xuất xã hội mở rộng là một quá trình thống nhất, nhưng do tác

động của sự phát triển phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất làm
cho quá trình đó bị phân chia làm nhiều khâu độc lập tách rời nhau. Để đảm
bảo tính thống nhất của quá trình tái sản xuất xã hội đòi hỏi phải kết hợp các
khâu. Có nhiều cách để thực hiện sự kết hợp trên, nhưng sự kết hợp thông qua
quan hệ liên kết kinh tế thường mang tính chặt chẽ và đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao hơn .
- Do tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật tối đa hoá lợi nhuận.
Cạnh tranh để dành ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là qui luật vốn
có của các doanh nghiệp trong nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường.
Liên kết kinh tế là hoạt động có quan hệ mật thiết, gắn bó với cạnh tranh .Các
doanh nghiệp phát triển quan hệ liên kết kinh tế để tăng cường sức mạnh
trong cạnh tranh với các đối thủ. Cạnh tranh thúc đẩy liên kết kinh tế. Trong

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

7


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều mong đạt được tối đa lợi nhuận
trong khả năng vốn có của mình. Hoạt động liên kết kinh tế có thể cho phép
doanh nghiệp bù đắp chỗ yếu. Khai thác điểm mạnh lẫn nhau để thực hiện

Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
dung khoa học công nghệ cũng rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, nhiệm
vụ chủ yếu phát triển khoa học công nghệ là nhằm thực hiện công nghiệp hoá
và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và ngày
càng tiến bộ không ngừng, thì sự liên kết giữa khoa học và sản xuất là một
trong những điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế. Cuộc cạnh tranh trên
thương trường hiện nay đặc biệt ở thị trường quốc tế đòi hỏi chỉ có những sản
phẩm có hàm lượng khoa học cao mới tiêu thụ được và mới thu được hiệu
quả. Trong nông nghiệp, muốn sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của quá trình liên kết giữa khoa học và sản
xuất nhằm nâng cao chất lượng, chủng loại, năng suất cây trồng, mỗi sản
phẩm làm ra đều chứa đựng hàm lượng khoa học ngày càng cao trong đó. Ở
tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất và tiêu thụ đều có sự liên kết giữa
cơ quan khoa học với người sản xuất kinh doanh. Bắt đầu từ khâu tuyển trọn
lai tạo, nhân giống, đến quy trình kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch,
chế biến, vận chuyển, bảo quản, tiêu thụ,... tất cả đều có sự liên kết chặt chẽ
với cơ quan khoa học, các nhà khoa học. Nếu không sẽ không có bất kỳ một
kg sản phẩm nào tiêu thụ được trên thị trường thế giới.
Mặt khác, do năng suất lao động trong nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
việc áp dụng những kỹ thuật mới, tiên tiến nhưng vì nhiều lý do như thiếu
vốn, thiếu tri thức ... Mà kinh tế hộ rất hạn chế trong việc tiếp nhận kỹ thuật
mới. Điều này có nghĩa là , sự phát triển của kinh tế hộ đến một chừng mực
nào đó thì tự nó sẽ có nhu cầu hợp tác, xuất phát từ đòi hỏi tất yếu của việc
phát triển lực lượng sản xuất. Với vai trò là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận
khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao sản xuất và hiệu quả kinh tế,
điều đó buộc các hộ gia đình tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động và
cạnh tranh thắng lợi. Để đạt được điều này, một mặt các chủ hộ phải sử dụng
hiệu quả những kinh nghiệm sản xuất lâu đời, cha truyền con nối, mặt khác

làm ra sản phẩm, song để nâng cao chất lượng, số lượng, chủng loại các sản
phẩm phải dựa vào các nhà khoa học .

Nhà khoa học cung cấp giống, kỹ thuật, quy trình sản xuất, bảo quản, chế
biến đảm bảo cho nhà nông sản xuất ra được nông sản có chất lượng các nhà
khoa học có vai trò rất lớn trong việc giúp nông dân kỹ thuật tiên tiến để nâng

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

10


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
cao năng suất chất lượng nông sản, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của
nông sản hàng hoá, giảm chi phí sản xuất. Mặt khác do xuất phát từ thực tiễn
ở nước ta hiện nay, quá trình nghiên cứu và ứng dụng không gắn kết với nhau,
có khi còn có khoảng cách rất lớn, nhiều kết quả nghiên cứu đã không ứng
dụng được trong thực tiễn hoặc được ứng dụng nhưng không mang lại kết quả
cao. Do đó đòi hỏi phải tăng cường quan hệ liên kết.

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

11


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
CHƯƠNG II
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LIÊN KẾT GIỮA KHOA HỌC VÀ SẢN

doanh
Bên cạnh đó cần xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa các nhà doanh
nghiệp, nông dân, khoa học, nhà nước. Đây là mối quan hệ tạo nên sức mạnh
của sản xuất nông nghiệp hàng hoá: có đủ vốn để sản xuất, có công nghệ cao,
có chất lượng sản phẩm tốt giá thành hạ và có cơ chế pháp lý bảo đảm. Mối
quan hệ này phải nâng lên bằng các hợp đồng kinh tế và mọi hành vi vi phạm
phải được sử lý bằng pháp luật .
Để thực hiện tốt hơn nữa và phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của khoa học
công nghệ thì cần phải chú ý tập trung vào các vấn đề sau:
Khai thác triệt để các nguồn của đổi mới công nghệ nông nghiệp có liên
quan, tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đến mọi
loại cây trồng vật nuôi, mọi ngành nghề ở nông thôn. Viện nghiên cứu ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật phải đặc biệt chú trọng đến sản phẩm nhiệt đới ngoài
lúa gạo như là chè, cà phê, cao su... Đặc biệt là khâu chế biến, bảo quản sau
thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên
thị trường quốc tế.
Đồng thời, cần tập trung phát triển công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông
nghiệp như chọn tạo giống và công nghệ sản xuất giống cây trồng vật nuôi.
Giống là tư liệu sản xuất có hàm lượng chất xám cao nhất trong nông nghiệp,
do vậy quan tâm tuyển chọn giống từ nguồn gốc bản địa, tiếp tục nghiên cứu
chọn tạo ra các giống cây trồng có nhiều đặc tính di truyền tốt cũng như nhập
nội giống cây trồng vật nuôi quý của thế giới. Việc lai tạo, chọn lọc giống cây
trồng theo ba hướng: giống năng suất cao chất lượng tốt, giống chống chịu
sâu bệnh, giống cho các vùng khó khăn. Nghiên cứu kỹ thuật chăn nuôi tiên
tiến nhất là kỹ thuật về sinh sản, các công nghệ chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế
cao. Để hạn chế tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị nông sản, tăng khả
năng cạnh tranh cần phải có công nghệ bảo quản rau quả tươi, tăng tỉ lệ nông
sản được chế biến...

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

Để sử dụng có hiệu quả giống cây, con và các vật tư kỹ thuật nông nghiệp,
khoa học có ý nghĩa hết sức quan trọng. Liên kết giữa khoa học và sản xuất

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

14


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
không chỉ có tác dụng giúp nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
mà còn biết sử dụng các yếu tố kỹ thuật có hiệu quả, làm giảm giá thành sản
xuất, tạo ra nông phẩm an toàn cung cấp cho xã hội.Thật là khiếm khuyết và
kém hiệu quả nếu doanh nghiệp chỉ bán giống tốt, vật tư kỹ thuật cho nông
dân theo kiểu "mua đứt, bán đoạn". Các tổ chức khuyến nông phi lợi nhuận
của nhà nước, của các viện, trường và các tổ chức đoàn thể ( hội nghề nghiệp,
hội nông dân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh ) cần tạo niềm
tin ở nông dân bằng hiệu quả của khuyến nông đem lại. Nói cách khác phải
gắn lợi ích kinh tế đối với các cán bộ khoa học cơ sở, những người hàng ngày
tiếp cận với nông dân. Để tiêu thụ được giống,vật tư nông nghiệp, thu hồi
được công nợ và nhất là để tạo nguồn hàng ổn định cung cấp nông sản nguyên
liệu cho chế, biến - tiêu thụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngòai
nước, đỏi hòi các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ giữa khoa học và sản
xuất, bằng cách như thực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp và nhà khoa học,
hợp đồng chuyển giao công nghệ đến từng hộ gia đình nông dân ... Thông qua
các tổ chức khuyến nông, hội phụ nữ, các tổ chức quốc tế...
Ví dụ : Năm 2002, công ty Viễn Phát ở thành phố Hồ Chí Minh đã ký hợp
đồng sản xuất gạo an toàn với hợp tác xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang đã đầu tư cho nông dân phân bón hữu cơ sinh học và thuốc trừ sâu
bệnh sinh học, cán bộ khuyến nông của công ty đã mua của nông dân với giá

"trăm nghe không bằng một thấy"; tổ chức các câu lạc bộ nghề nghiệp và câu
lạc bộ nông dân sản xuất giỏi ...
Như vậy, liên kết giữa khoa học và sản xuất là cầu nối hai chiều giữa thực
tế sản xuất của hộ gia đình nông dân với nghiên cứu khoa học, tạo ra tiến bộ
kỹ thuật của các nhà khoa học, của các viện, các trường .

2.2.2. Thành tựu
Trong hàng chục năm qua nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng trong việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ
khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất và đời sống. Các viện nghiên cứu
khoa học - kỹ thuật nông nghiệp đã nghiên cứu lai tạo, thuần chủng nhiều
giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và thích
nghi với điều kiện sinh thái của từng vùng, từng địa phương. Công nghệ sinh

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

16


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
học đã góp phần quan trọng trong việc sản xuất các loại phân bón, thuốc trừ
sâu không gây ô nhiễm môi trường, trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm
chế biến, trong việc bảo quản sản phẩm. Nhiều loại máy móc thiết bị hiện đại
được nghiên cứu và sản xuất phục vụ nhu cầu của nông dân phù hợp với điều
kiện từng vùng ,từng loại cây trồng, vật nuôi. Việc nhập khẩu công nghệ đã có
sự quan tâm đúng mức tới thị trường trong nước .
Hoạt động khoa học công nghệ đã gắn bó hơn với sản xuất và đời sống của
nông dân. Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ đã đưa vào ứng dụng góp phần
quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả trong nông

mùa hạn cũng như tránh được tình trạng ngập úng khi đến mùa mưa. Nhiều
giống mới (giống vật nuôi,cây trồng), thuốc trừ sâu, phân bón... được sử dụng
phục vụ cho sản xuất. Do vậy nền nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu,
góp phần phát triển kinh tế đất nước .
Biểu hiện: tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm đạt 4,5%. Trên giác
độ sản xuất lương thực, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,2%/năm. Việt
Nam coi trọng việc phát triển nghiên cứu và sản xuất lúa lai cho năng suất cao
hơn lúa thuần từ 1,0-1,5 tấn/ha. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã
chủ trương phát triển việc nghiên cứu và áp dụng trồng lúa lai của Việt Nam.
Đến nay diện tích trồng lúa lai đã lên tới 340000 ha so với 100 ha năm 1991.
Nhờ mở rộng lúa lai ở miền núi, diện tích lúa nương ngày càng giảm. Trung
bình cứ trồng một ha lúa lai thì giảm một ha rừng đốt phá để làm nương rẫy.
Trong những năm qua, hộ nông dân sử dụng các chất bảo vệ thực vật, phân
hoá học, thức ăn gia súc và các máy móc trong sản xuất ngày một tăng. Việc
sử dụng phân bón cùng với các tiến bộ về kỹ thuật, giống, kỹ thuật canh tác...
đã làm tăng sản lượng nông nghiệp một cách đáng kể so với trước đây, đảm
bảo cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Theo kết quả nghiên cứu của viện
nghiên cứu thổ nhưỡng nông hoá(1998): ở Việt Nam trung bình bón 1 kg
N+P O +K O làm tăng 7,5-8,5 kg lương thực quy thóc. Mức này thấp hơn so
2

5

2

với trung bình Châu Á (10 kg). Nhưng cao hơn Châu phi và Châu mỹ La-tinh
(5-7 kg). Theo tỷ lệ này sử dụng phân bón làm tăng 9,3 triệu tấn lương thực
chiếm 27-30,4% tổng sản lượng quy thóc của cả nước(1997). Hàng năm, Việt
Nam xuất khẩu lượng rau quả cho thị trường Trung Quốc là chủ yếu chiếm
60% sản lượng của cả nước.

trong lai tạo, chọn lọc và nhân giống một số loại cây trồng, vật nuôi. Đến năm
2000, đã xây dựng được quy trình sản xuất lúa lai F hệ bắc ưu và tổ chức sản
1

xuất được 1350 tấn giống, đáp ứng được khoảng 20%nhu cầu giống trong
tổng diện tích 330 nghìn ha lúa lai. Vụ đông xuân 2001-2002 duy trì và nhân
được dòng bố mẹ đủ cho gieo cấy 15 nghìn ha để sản xuất khoảng 3000-4000
tấn F . Chính nhờ áp dụng có hiệu quả những thành tựu mới về công nghệ
1

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

19


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
sinh học, kết hợp hài hoà với phương pháp chọn tạo giống truyền thống mà
trong năm 2002 đã chọn, tạo được 37 giống lúa mới, 12 giống ngô, 9 giống
lạc, 6 giống rau, 2 giống hoa, 9 giống khoai tây, 8 giống cây công nghiệp dài
ngày và 22 giống cây ăn quả, 12 giống gia súc, 3 giống dâu tằm công nhận
được 51 dòng và xuất sứ là giống cây lâm nghiệp .
Cùng với giống, nhiều quy trình kỹ thuật đã hoàn thiện góp phần phát huy
tiềm năng của giống: xác định bộ giống lúa xuất khẩu cho đồng bằng sông
Cửu Long (IR64, VND 95, IR2031, OM1490 và MTL250); tiếp tục nghiên cứu và
đúc kết mở rộng kết quả về nghiên cứu cơ cấu cây trồng để bố trí mùa vụ hợp
lý, tăng vụ, hạn chế ảnh hưởng bất thuận của thời tiết, ứng dụng kỹ thuật IPM,
quản lý dinh dưỡng tổng hợp, bón phân cân đối, bón phân theo bảng so sánh
phân mầu của lúa.
Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế

nông nghiệp Việt Nam bước đầu nghiên cứu thành công nhân vô tính bằng
phương pháp cắt phôi để tạo ra cặp bê song sinh hoàn toàn giống nhau về đặc
tính di truyền. Kết quả nhân vô tính phôi đã mở ra triển vọng mới không
những phát triển nhanh các giống quý và đàn bò sữa ở Việt Nam. Cùng với
việc nhân tạo giống đàn bò sữa các nhà khoa học nông nghiệp cũng có nhiều
thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu đàn lợn hạt nhân dòng mẹ để tạo nên đàn
lợn lai hướng nạc và đàn gà ri thuần , gà thả vườn .
Trong mấy năm gần đây, kinh tế hộ nông dân được phục hồi và phát triển
là phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Có thể nói
kinh tế hộ nông dân đã góp phần quyết định vào những thành tựu rất ngoạn
mục của sản xuất nông nghiệp. Thực tiễn đã chỉ rõ khi nào kinh tế hộ nông
dân đặt đúng vị trí vốn có của nó thì khi đó sản xuất nông nghiệp mới có điều
kiện phát triển .

2.2.2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được quá trình thực hiện liên kết giữa
khoa học và sản xuất còn gặp một số khó khăn như khó khăn của nông dân
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm , khả năng cạnh tranh hàng nông sản Việt

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

21


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
Nam chưa mạnh, nghiên cứu và ứng dụng chưa gắn kết với nhau có khi còn
khoảng cách lớn .
Phần lớn các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp được triển khai với chi phí
cao, có khi vượt quá năng lực đầu tư của nông dân, trong khi đó lại không

doanh
Thực tế giữa khoa học và sản xuất nhiều khi còn quay lưng với nhau, do
vậy sản phẩm sản xuất ra nhiều khi không bán được do chất lượng sản phẩm
kém, sản xuất sản phẩm chưa sạch, chưa đảm bảo an toàn thực phẩm, vì thế
mà giá rẻ gây nhiều thiệt hại cho nông dân, nông sản làm ra không cạnh tranh
được với hàng nhập ngoại cả về giá cả và chất lượng, tỉ lệ nông sản hư hỏng
cao...
Bên cạnh những khó khăn của nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, về phía các nhà khoa học cũng gặp một số hạn chế như :
Trình độ khoa học và công nghệ thấp. Các viện nghiên cứu và trường đại
học được đầu tư thấp, phối hợp hoạt động kém. Theo đánh giá của ngân hàng
thế giới, tổng chi phí cho một cán bộ nghiên cứu của Việt Nam 1 năm chỉ
bằng 9% suất đầu tư của Indonesia và Thái Lan ; 2,5 % suất đầu tư của
Malaysia .
Với mức đầu tư qúa ít cho khoa học hiện nay ,thì phần chi lương, hoạt bộ
máy đã chiếm gần 60%tổng chi phí , thực chi cho đề tài chỉ còn 37%.
Thiết bị máy móc, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, cũ kỹ, thông tin khoa
học ít ỏi, trình độ cán bộ thấp dần và mất dần nhân tài. Nguồn tiến bộ kỹ thuật
và công nghệ mới chưa được thu thập, phân tích và chuyển giao đầy đủ, kịp
thời cho người sản xuất. Trình độ áp dụng thành tựu cách mạng sinh học thấp
trừ một vài loại sản phẩm như cà phê, lúa, ngô; còn phần lớn các cây trồng,
vật nuôi năng suất thấp, chất lượng sản phẩm kém. Nhiều loại sản phẩm dù
Việt Nam có tiềm năng, nhưng sự thua kém về khoa học kỹ thuật làm cho
hàng hoá kém cạnh tranh .
Nghiên cứu khoa học yếu, đầu tư áp dụng công nghệ mới cũng rất kém.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở và hộ ngành, nghề ở nông thôn rất thấp,
chỉ có 18,6% có nhà xưởng kiên cố, 35%có sử dụng điện, 37%công việc được
cơ giới hoá, còn 63% làm bằng tay.

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

phát triển. Mạng lưới khuyến nông cồng kềnh, các cơ quan làm nhiệm vụ tiếp
nhận và chuyển giao công nghệ ở cơ sở rất thiếu và yếu. Nội dung chuyển
giao dàn trải không đồng bộ, chích sách đãi ngộ đối với cán bộ chuyển giao

Nguyễn Minh Đức K39.11.08

24


Tiểu luận Kinh tế các ngành sản xuất kinh
doanh
còn thấp,đặc biệt là đối với các chuyên gia nông nghiệp phải làm việc xa
thành phố,xa các trung tâm văn hoá - khoa học kỹ thuật và với một môi
trường hết sức khó khăn song đãi ngộ không hơn gì người thành phố nên họ
chưa an tâm và nhiệt tình công tác. Nhiều chương trình chuyển giao bị chồng
chéo mà thiếu sự lồng ghép và phối hợp. Việc chuyển giao vẫn còn mang tính
áp đặt ,xin cho, thiếu sự quy hoạch và lập kế hoạch, đôi khi chưa phù hợp với
nhu cầu của dân. Nhiều mô hình đòi hỏi đầu tư lớn ,nên những hộ nghèo rất
khó tham gia .Một số dự án, nhất là của các tổ chức phi chính phủ được triển
khai theo nguyên tắc cứng nhắc, do vậy tính nhân rộng và hiệu quả không
cao. Các mô hình tư nhân chuyển giao thì người làm công tác chuyển giao
thường là người làm kinh doanh tư nhân, do đó họ thường đặt yếu tố lợi
nhuận lên hàng đầu mà quên đi yếu tố gìn giữ môi trường...
Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
chậm vẫn chưa được đổi mới một cách căn bản, mặc dù tư tưởng đổi mới cơ
chế quản lý khoa học và công nghệ đã xuất hiện từ rất sớm.
2.2.4.Nguyên nhân
Nguyên nhân từ phía nhà nước
Nguyên nhân của sự yếu kém về khoa học công nghệ trong nông nghiệp
nông thôn là do các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền chưa thực sự coi phát


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status