TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức yêu nước, nguồn gốc
nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên
cường chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia
đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từ thời niên thiếu.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy
nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm
đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á,
châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa
lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi
vang dội của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để
giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt
Kiều ở Pháp. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào
công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêu sách của
nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của
dân tộc Việt Nam.
Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán
thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đây
đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu
nước đến chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922
xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia
công tác của Quốc tế cộng sản. Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế
nông dân. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy
viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách
mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông - Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng.
Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Nam.
Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm
vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy
mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng
chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa
cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười
cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh
không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ
nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp
quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh
hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH
VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE)
vào năm 1990.
BÁC HỒ VÀ THẾ HỆ TRẺ - HỎI CHUYỆN ĐỒNG CHÍ VŨ KỲ
Làm thư ký cho Bác đã hai mươi bốn năm, có bao giờ anh thấy Bác tự cho mình là một
"ông già" không? Và Bác đã làm gì để chống lại tâm lý "ông già" ấy?
Như tất cả các cụ già Việt Nam, Bác cũng muốn có cái thú vui bình dị của tuổi già như
Bác đã thể hiện trong thơ: Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Nhưng ở Bác, tôi không bao
giờ thấy bộc lộ tâm lý mệt mỏi của một "ông già". Chắc đồng chí còn nhớ bài thơ của Bác:
Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
như hoa nở trong mùa xuân".
Theo anh, trong tất cả các tổ chức của tuổi trẻ, Bác chú ý đến tổ chức nào nhất?
Tất cả các hình thức tổ chức để tập hợp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng nhằm phụng sự
Tổ quốc, Bác đều chú ý, quan tâm giáo dục để tổ chức đó ngày càng vững mạnh. Trong đó tổ
chức thanh niên xung phong được Bác đặc biệt quan tâm. Bài hát truyền thống của Thanh niên
xung phong cũng là bài ca chính thức của Đoàn thanh niên bây giờ, được nhạc sĩ Hoàng Hà
phổ nhạc bốn câu thơ của Bác:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên!
Trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một lán trại thanh niên xung phong làm
đường, Bác trò chuyện thân mật rồi hỏi "Các cháu có thích nghe thơ không?". Tất cả đồng
thanh: "Chúng cháu thích nghe thơ ạ". Thế là Bác ứng khẩu đọc bốn câu thơ này. Ngay sau
đó, nhiều thanh niên xung phong và cả bộ đội Vệ quốc đoàn đều truyền cho nhau và học thuộc
trong chiến dịch Biên giới.
Về tổ chức thanh niên xung phong, Bác nói với tôi: "qúy hồ tinh, bất quý hồ đa, lựa
tuyển cẩn thận để thanh niên xung phong thật sự là một trường đào tạo thanh niên bằng những
công việc thiết thực". Bác trực tiếp xem và sửa chữa bản điều lệ về nhiệm vụ và bổn phận của
Đoàn thanh niên xung phong.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bác theo dõi rất sát các hoạt động
của thanh niên xung phong, kịp thời viết bài, nêu gương những điển hình tốt và gửi thư khen
các đơn vị thanh niên xung phong có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu.
Tháng 5 - 1968, trong phần viết thêm vào Di chúc, có đoạn: "Những chiến sĩ trẻ tuổi
trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong
chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các
cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ
thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công
cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta".
Như vậy, Bác xem tổ chức Thanh niên xung phong không chỉ để làm những việc cụ thể
trong những việc làm anh hùng. Con số này ngày một tăng, nói lên sự nỗ lực của thanh niên".
Agienđê kết luận: "Chưa bao giờ một người khi nói với chúng tôi về các em nhỏ lại giáo dục
chúng tôi nhiều như vậy".
Sự quan tâm và niềm tin của Bác Hồ đối với các thế hệ trẻ, người chủ của tương lai, một
phần quan trọng đã được thể nghiệm trong chính thời thanh niên của Bác. Với hai bàn tay
trắng, chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Tất Thành 21 tuổi đã quyết tâm đi khắp năm châu bốn biển,
tự kiếm sống, tự học tập để tìm đường cứu nước. Quyết tâm ấy, niềm tin ấy, Bác dồn tất cả
cho các thế hệ trẻ, mùa xuân của xã hội.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC PHẢI TRỞ THÀNH NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ
Nhiều nơi có phong trào hưởng ứng đợt vận động Học tập và làm
theo tâm gương đạo đức Hồ Chi Minh sớm và sôi nổi như Hà Nội,
TPHCM, Hà Tây, Hải Dương, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Lạng Sơn,
Thái Bình, Bắc Giang...
Việc triển khai cuộc vận động vào đúng dịp chuẩn bị tiến hành cuộc
bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII càng có ý nghĩa và tác dụng thiết thực
đối với việc nâng cao tinh thần trách nhiệm công dân trong lựa chọn
những người thực sự có đức, có tài để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Trưởng Ban chỉ đạo T.Ư, đã truyền
đạt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị đối với cuộc vận động này.
Theo đó, các cấp, ngành, địa phương trước hết cần thống nhất nhận thức về ý nghĩa, tầm
quan trọng và nội dung của cuộc vận động, xác định đây là chủ trương lớn của Đảng nhằm tạo
ra một sự chuyển biến cơ bản về tư tưởng, ý thức của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân;
ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng và phẩm chất đạo đức của một bộ
phận trong xã hội.
Tổng Bí thư nhấn mạnh phải đưa cuộc vận động này vào chiều sâu, huy động sức mạnh
của toàn bộ hệ thống chính trị và hết sức tránh sự phô trương hình thức và kém hiệu quả. Cần
gắn liền cuộc vận động này với việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về nâng cao
năng lực và sức chiến đấu của Đảng, về đấu tranh chống lãng phí và tham nhũng...
Tổng Bí thư khẳng định đây phải là một đợt sinh hoạt chính trị lâu dài, thường xuyên và
liên tục để cuối cùng trở thành một nếp nghĩ, nếp sống của mỗi con người, mỗi tập thể.
“ Tự nhìn lại mình” để làm gì? Đối với mỗi cá nhân là cơ hội để tự vấn chính mình, gột
bỏ những những nhỏ nhen xây dựng một tâm hồn trong sáng nhằm có một thái độ và hành
động đúng trong công việc, học tập. Nhưng “ Tự nhìn lại mình” còn có một ý nghĩa sâu rộng
hơn nữa đó là thể hiện sức mạnh của một dân tộc, mỗi cá nhân trong một dân tộc đều biết đặt
lý tưởng của dân tộc mình trong từng suy nghĩ và hành động cụ thể thì chắn chắn dân tộc đó
sẽ là một dân tộc mạnh. Ông bà ta có câu nói “Thắng một vạn quân binh không bằng chiến
thắng chính mình”, người biết “ Tự nhìn lại mình” mới thực sự là người có dũng cảm, thanh
niên biết nhìn lại mình là thanh niên có chí khí tiến thủ, mà thanh niên là tương lai và mùa
xuân của dân tộc vì vậy mỗi thanh niên phải luôn tự nhìn lại mình, soi mình vào tấm gương
đạo đức của Bác Hồ và của các thế hệ đàn anh đi trước để học tập và rèn luyện. Mặt khác có
dũng cảm tự nhìn lại mình thanh niên mới có cơ hội để đứng dậy và tiến bộ sau khi vấp ngã.
Vậy lúc nào “ Tự nhìn lại mình”? Phải nói rằng nhìn lại mình là một công việc hàng
ngày của mỗi thanh niên ( Sáng rửa mặt – Tối rửa lòng). Luôn nhìn lại mình trong mỗi công
việc, hành động, thái độ để kịp thời điều chỉnh chính mình. Ở đây “ Tự nhìn lại mình” còn
mang tính nhân văn cao cả nó giúp cho mỗi người tự xây dựng cho mình một nền tảng trí tuệ
và thành trì đạo đức vững chắc để sẵn sàng đứng vững giữa những sóng gió.
Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi còn thanh niên đến khi đã làm Chủ
tịch nước, Người luôn đặt mình vào quần chúng nhân dân lao động, trăn trở cùng với nỗi khổ
cực của từng người dân, vui sướng cùng hạnh phúc của mọi người. Tấm gương đạo đức của
người luôn để cho mỗi thanh niên chúng ta phải “Tự nhìn lại mình” trong lao động, học tập và
công tác./.
THỜI GIAN QUÝ BÁU LẮM
Sinh thời Bác rất khó chịu khi thấy cán bộ làm việc không đúng giờ.
Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn
luyện cán bộ Việt Nam, Người thẳng thắn góp ý:
"Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi
mà nhiều người chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ,
vì thời gian quý báu lắm".
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một đồng chí cấp tướng đến
làm việc với Bác sai hẹn mất 15 phút, tất nhiên là có lý do: mưa to, suối lũ,
dịp Tết cổ truyền của dân tộc, hàng trăm đại biểu các tầng lớp nhân dân thủ đô tập trung tại
Ủy ban Hành chính thành phố để lên chúc Tết Bác Hồ. Sắp đến giờ lên đường, trời bỗng đổ
mưa như trút. Giữa lúc mọi người còn đang lúng túng thu xếp phương tiện cho đoàn đi để Bác
khỏi phải chờ lâu thì bỗng xịch, một chiếc xe đậu trước cửa. Bác Hồ từ trên xe bước xuống,
cầm ô đi vào, lần lượt bắt tay, chúc Tết mỗi người, trong nỗi bất ngờ rưng rưng cảm động của
các đại biểu.
Thì ra, thấy trời mưa to, thông cảm với khó khăn của ban tổ chức và không muốn các đại
biểu vì mình mà vất vả, Bác chủ động, tự thân đến tại chỗ chúc Tết các đại biểu trước. Thật
đúng là mối hằng tâm của một lãnh tụ suốt đời quên mình, chỉ nghĩ đến nhân dân, cho đến tận
phút lâm chung, vẫn không quên dặn lại: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng
linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".
Một lần, Bác đi công tác xa hơn một tháng, lúc trở về, Bác lại ngồi bên cầu ao vỗ tay
gọi cá đến để cho ăn. Hôm ấy, Bác không thấy con cá gáy vây đỏ, miệng đỏ đến ăn. Bác hỏi,
đồng chí Vũ Kỳ không biết trả lời thế nào. Khoảng 10 ngày sau, lúc ngồi bên Bác cho cá ăn,
Bác bảo: “Kìa, chú coi, con cá gáy vây đỏ, miệng đỏ đã đến rồi đấy”. Rồi Bác nói thêm: “Các
chú ở nhà chắc không cho cá ăn đều và đúng giờ cho nên nó mới phải đi kiếm ăn xa đàn
không nhớ quay trở về như thế”. Bác hạ giọng như tự nói với mình: “Đối với con người cũng
vậy, nhất là tuổi thanh niên, không quan tâm giữ nếp sống tốt thì cũng như thế”.
Đó chính là sự nhắc nhở của Bác trong việc giáo dục đối với thanh, thiếu niên. Cũng như
việc học tập tích luỹ kiến thức, tu dưỡng rèn luyện đạo đức của mỗi con người nói chung, của
thanh, thiếu niên nói riêng đều phải trải qua một quá trình lâu dài và thường xuyên. Hiện
tượng một bộ phận thanh, thiếu niên ngày nay sống buông thả, mất phương hướng và có tâm
lý hưởng thụ một phần xuất phát từ nguyên nhân không khép mình vào khuôn khổ tổ chức,
sống buông thả…
Thanh, thiếu niên là lứa tuổi “nửa người lớn, nửa trẻ con”, nếu không được quan tâm
giáo dục đến nơi đến chốn rất dễ đi vào con đường lầm lạc, sa ngã. Nhưng muốn thế, trước hết
các bậc phụ huynh, thầy cô giáo ở trường, cũng như những người đứng đầu các tổ chức trực
tiếp quản lý thanh, thiếu niên phải là tấm gương sáng, đi đầu trong việc rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức, lối sống cả trong nghiên cứu, học tập và làm việc.
Trong điều kiện hiện nay, khi nhiều gia đình kinh tế khấm khá lên, các bậc phụ huynh vì
tĩnh. Kìa, Bác đã đến. Chúng tôi chạy ùa ra đón Bác. Bác khỏe mạnh, vẻ mặt hồng hào, quắc
thước trong bộ kaki quen thuộc. Chân Bác bước thoǎn thoắt từ thềm đi lên, với đôi dép lốp
giản dị. Tôi đang vội vã sửa lại nếp áp và bó hoa để dâng lên chúc Bác nǎm mới thì Bác đã
đến gần chúng tôi.
Tôi chưa kịp nói: "Thưa Bác" thì Bác đã đưa tay lên rồi:
- Nǎm mới Bác mừng các cháu khỏe!
Tôi sững sờ líu cả giọng:
Thưa Bác nhân dịp nǎm mới, chúng cháu ở Đài Tiếng nói Việt Nam lên mừng Bác mạnh
khỏe, sống lâu muôn tuổi.
Bác nhìn những bông hoa mà tôi dâng lên Bác. Bác lại hỏi: Lại tặng hoa à? Bác nhận lấy
hoa, và ngay lúc đó Bác trao lại cho tôi, Bác nói: Bác gởi tặng lại cô chú ở Đài về cắm lọ cho
vui mấy ngày Tết.Trước đó tôi cũng đã nghe được nhiều chuyện về Bác, biết Bác không ưa
nghi thức. Nhưng tôi thật không ngờ Bác thật giản dị đến như thế.
Tôi đã trấn tĩnh lại và bạo dạn hơn. Bác như một người cha hiền từ và đôn hậu quá?
Sau đó Bác vào phòng. Bác bảo chúng tôi ngồi, chúng tôi còn chần chừ chưa biết ngồi
đâu. Bác chỉ ghế cho từng người ngồi xuống quanh Bác không phân biệt ngôi thứ giám đốc,
nhân viên gì cả. Bác hỏi chúng tôi về công việc làm ǎn, học tập, những tiến bộ, khó khǎn trong
công tác. Đồng chí cán bộ phụ trách báo cáo với Bác từng việc và không dám kéo dài thì giờ
của Bác, đồng chí xin phép Bác cho được thu lời chúc mừng nǎm mới của Bác để phát lên đài
trong đêm giao thừa cho đồng bào miền Nam, đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài
nghe. Bác gật đầu:
- Các chú đã chuẩn bị xong chưa?
- Thưa Bác xong rồi ạ!
Thế là đồng chí thư ký của Bác trình Bác tấm thiếp màu hồng có in hình quốc huy hai
bông lúa trên bánh xe và ngôi sao vàng rất đẹp, dưới là lời chúc Tết của Bác. Bác mở túi áo
lấy đôi kính lão.
Chúng tôi nín thở nghe tiếng Bác chậm rãi, dõng dạc trước máy ghi âm.
"Đồng bào thân mến!
Nhân dịp nǎm mới, tôi gởi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc
và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi
Nghe xong, Bác vỗ tay và nói:
-Cháu ngâm được đấy, nhưng cháu phải khiêm tốn và cố gắng rèn luyện thêm, để khi
ngâm cho nhân dân nghe hay hơn nữa.
Nói rồi Bác đứng lên cầm những bông hồng bạch để ở đĩa trang trí trên bàn, tặng chúng
tôi mỗi người một bông. Chúng tôi sung sướng quá? Đồng chí thư ký của Bác Hồ còn cho
chúng tôi biết đấy là hoa trong vườn Bác, do tay Bác trồng và ngày ngày Bác tưới.
Bác lại gọi các đồng chí phục vụ mang kẹo ra và cho chúng tôi chụp ảnh chung với Bác.
Những nǎm gần đây, tôi cũng có dịp được ngâm thơ Bác.
Tôi thường thích ngâm những bài thơ trong "Nhật ký trong tù" Tôi ngâm say sưa những
bài thơ của Bác. Những bài thơ đầy tinh thần lạc quan ấy, mỗi lần ngâm là mỗi lần giúp tôi có
thêm nghị lực. Đấy là những bản anh hùng ca của một chiến sĩ đấu tranh cho tự do:
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trǎng soi ngoài cửa sổ,
Trǎng dòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp,
Mây, gió, trǎng, hoa, tuyết núi, sông.
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Gần đây những bài thơ của các nhà thơ viết về Bác, tôi ngâm có phần tiến bộ hơn trước.
Chính niềm nhớ thương Bác đã giúp cho tôi thêm nghị lực để có đóng góp mới. Tôi nguyện
luôn vâng lời Bác dạy. Do đó tôi phải cố gắng dìu dắt thêm nhiều giọng ngâm trẻ có trình độ
nghệ thuật cao hơn tôi để đời đời chúng tôi được ngâm thơ ca ngợi công đức Bác, ca ngợi
Đảng thân yêu của chúng ta, ca ngợi nhân dân ta anh hùng.
ĐƯỜNG VỀ PẮC BÓ
Hãy về thǎm quê ta Pắc Bó
Nơi Bác về nguồn nước mới sinh
(Tố Hữu)
Vượt cầu sông Bằng, đi khỏi thị xã khá xa, ô tô đưa chúng
tôi rẽ về cánh đồng Cao Bình mênh mông phủ một màu xanh,
thǎm Pắc Bó, có đến chào mẹ và tặng mẹ chiếc quạt bàn, vì lúc đó Pắc Bó đã có thủy điện
nhỏ. Cả nhà, cả bản gọi chiếc quạt ấy là quạt của Đảng cho.
Ngoài trời mưa, trận mưa núi không to nhưng nghe chừng dữ dội. Nước chảy ào ào dưới suối.
Dòng suối quay nhanh những guồng nước đạp chày giã gạo liên hồi phía đầu bản. Bất giác
chúng tôi nhớ đến câu thơ của Ngô Thì Sĩ thời Lê Cảnh Hưng đã ghi về vùng này:
Cư dân Thái bản Thổ tham Nùng
Mộc lư gái sạn dông tây hướng
Thủy cửu tùy cơ nhật dạ thung...
(Nhân dân quá nửa là người Thái người Tày, người Nùng. Nhà ở dùng tre, gỗ làm sàn xoay
theo hướng đông tây Tùy nước chảy, đặt cối giã gạo, giã suốt đêm ngày).
Ngày nay, vùng châu Hồng Phong (Hà Quảng) không những chỉ có guồng lấy nước và cối giã
gạo bằng nước suối mà nước đã quay các tuốc-bin trên nhà máy thủy điện bên đồi. Điện đã
đưa về tận Pắc Bó thắp sáng cả vùng đồi núi bao la.
Nhà lưu niệm Pắc Bó trên triền đồi đất đỏ. Ngày 8-2-1970 Văn hóa Cao Bằng làm lễ khánh
thành rất trọng thể, từ mùa xuân 1941 Bác về Pắc Bó theo bút tích Bác ghi trong hang đá "8-2-
1941" thì tới nay vậy là vừa đúng 44 năm. Trong cuộc tấn công hèn hạ vừa qua, giặc đã cho
nổ mìn phá hoại cửa hang và phá sạch Nhà lưu niệm Bác, đã gây một sự phẫn nộ cho đồng
bào cả nước và lương tri của nhân dân thế giới.
Bây giờ, từ thị xã Cao Bằng về thăm Pắc Bó, ô tô đi thẳng đến cột kilômét 52. Năm 1961, tức
là "20 năm trước ở hang này" từ Đôn Chương vào, chỉ có đường đi bộ. Ngày ấy, Bác trở về
Pắc Bó, Bác cũng còn đi một đoạn đường ngựa. Dân bản hôm ấy đổ ra đón Bác, đón đồng chí
Tố Hữu, đồng chí Nguyễn Khai và các đồng chí cùng đi. Những màu áo chàm còn thơm mới,
những chiếc áo hoa, nhiều màu đỏ và những giọt nước mắt đầy xúc động:
- Sin hổ lai lố Bác á! (Bác ơi, Bác vất vả quá!)
- Tôi về thăm nhà, sao bà con lại ra đón?
Bác rưng rưng nước mắt. Các cụ, các mẹ cảm động cũng khóc òa. Thanh niên trai gái cả
mấy bản gần xa hôm ấy đều về để biểu diễn Pile, múa khèn chào Bác. Bác hỏi thăm từng
người, từng gia đình và công việc làm ăn trong hợp tác xã, Bác nói:
Cao Bằng, ít nhất phải cao, bằng nơi cao nhất. Hay Cao Bằng lại cao không nơi nào
bằng. Theo phong tục địa phương, đồng bào mời Bác trồng ba bụi trúc để làm kỷ niệm. Ba bụi
Chao ôi! Bác của chúng ta sao có tấm lòng thương yêu trẻ sâu xa đến vậy!
Từ giã nhà họ Dương, xuống cầu thang gác nhà sàn chị Vương Kim Liên - mẹ của Chí Thâm -
người con gái mang tên làng Sen ở thôn Pắc Bó. Chị trước tên là Hú, Bác đổi lại tên Kim Liên
- tên quê Bác cho chị. Những ngày Bác mới về Pắc Bó, chị theo chồng là anh Đại Lâm lên
thăm Bác. Thấy "ông Ké" ở hang lạnh, chị về bàn với bà con may cho "ông Ké" hai bộ áo
chàm. Chị nghĩ thương "ông Ké" như cha, "ông Ké" gầy làm việc suốt đêm ngày mà ăn mặc
không có gì.
Hôm chúng tôi đến, các em trong bản lại sà vào lòng nghe kể chuyện về Bác, mặc dầu
những chuyện ấy có chuyện các em đã nghe đến lần thứ mấy mươi. Em nào nghe cũng say sưa
như nghe chuyện cổ tích của dân tộc Nùng vậy. Chuyện kể về Bác Hồ ở bản Pắc Bó, có thể
ghi lại thành một pho sách. Nhiều giai thoại đẹp lắm, thần kỳ lắm! Cuộc đời sôi nổi và phong
phú của Bác là những sự thật đẹp hơn những truyền thuyết.
Chuyện về Bác ở thôn Nậm Quang - một bản bên kia mốc l08 - chuyện khi Bác về
nước, cho đến những ngày Bác xuống làng hoạt động. Bác dạy học, Bác tăng gia, Bác giác
ngộ quần chúng, những ngày "cháo bẹ rau măng" sinh hoạt kham khổ của Bác...
Đến Pắc Bó mà chưa đi Khuổi Nậm là điều đáng tiếc. Khuổi Nậm là nơi họp Trung ương
Đảng lần thứ 8. Lần họp ở Khuổi Nậm nằm trong khu rừng vắng phía bên phải dòng suối
LêNin, hai bên là núi cao, dòng suối cạn ở chính giữa. Lán cỏ đơn sơ, tương phản với những
quyết định thật cực kỳ quan trọng: Thành lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ
trang, Bác chủ tọa buổi họp lịch sử này?
Mùa xuân năm 1961, Bác về thăm lại Pắc Bó , tức cảnh, Bác ngâm bốn câu thơ:
Hai mươi năm trước ở hang này,
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây.
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu,
Non sông gấm vóc có ngày nay.
Bốn câu thơ này giờ đây đã được kẻ to bằng sơn đỏ ở lối vào Khuổi Nậm. ở Khuổi Nậm
có hang Xi Điếng, cao trên mười lăm sải tay, leo lên bằng dây rừng. Hang này không bằng
hang Đầu Gỗ và Hoành Bỗ. Không phải hang giấu cọc gỗ Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo để
đánh đắm thuyền quân giặc. Mà nơi đây, Bác giấu truyền đơn, những lời hịch chính tay Bác
thảo. Những lời kêu gọi cứu nước, đánh Tây đuổi Nhật sắc nhọn như cọc Bạch Đằng và lan
chúng ta về Pắc Bó, đường đã mở rộng thênh thang. Đồng chí Lê Duẩn ngày đến Pắc Bó có
căn dặn cán bộ Cao Bằng: "Đường về Pắc Bó phải là con đường Đỏ". Và kể tử ấy đến nay,
trên con đường từ thị xã Cao Bằng về Hà Quảng, nhân dân dã xây dựng bao nhiêu hợp tác xã
cao cấp. Hợp tác xã Bản Ngần đã hơn 7 tấn, hợp tác xã Tiên Hoàng dẫn đầu về trồng cây.
Đường về có hoa đỏ, và với tinh thần Bác luôn luôn bênh cạnh, những chi bộ, Đảng bộ 4 tất
cũng sẽ nảy hở trên khắp dịa phương này. Trong câu cuối bài thơ ghi ở sổ lưu niệm nhà bảo
tàng Pắc Bó, đồng chí Đại Long có viết:
Bác còn sống, sống mãi
Sống trong lòng mọi người
Bảo tàng nay mở cửa
Đón khách bốn phương trời
Đoàn người về Pắc Bó mỗi ngày một đông. Riêng chỉ lấy một ngày chúng tôi có mặt ở
đất lịch sử này: 300 thầy cô giáo và học trò các trường cấp III vừa đến. Sau chúng tôi nữa là
đoàn cán bộ huyện Trùng Khánh. Trước ngày chúng tôi đến: ngày 18-2, đã có trên 600 đồng
bào các dân tộc tấp nập đi về . Các đồng chí phụ trách nhà lưu niệm Pắc Bó không đủ người
thuyết minh, phải điện về tỉnh xin chi viện. Khách từ các tỉnh, thành đến. Khách các nước xã
hội chủ nghĩa các nước tư bản đến. Bạn từ các nước còn đang hoạt động bí mật, nhiều đại biểu
các Đảng anh em đang trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc đến thǎm Pắc Bó để tìm
hiểu thêm cuộc đời của Bác, tìm hiểu thêm những bước đường cách mạng của nhân dân ta
theo ngọn cờ của Bác. Các đồng chí miền Nam cũng lần lượt về quê hương của cách mạng
Việt Nam. Những người "hành hương" về Pắc Bó tất cả đều một lòng kính yêu Bác là con
người Việt Nam đẹp đẽ nhất, anh hùng nhất.
Về Pắc Bó để học tập cuộc sống, tinh thần tự do của một chiến sĩ vĩ đại suốt đời đấu
tranh không mệt mỏi.
Đường về Pắc Bó tuy xa tít tận biên giới phía bắc, nhưng lòng ta vẫn luôn luôn hướng
về đó. Vì đó là con đường Bác về Tổ quốc. Đối với chúng ta, đó là con đường Bác vạch ra cho
ta đi đến tương lai.
Tự hào thay chúng ta có Pắc Bó, quê hương của cách mạng Việt Nam, nơi chôn nhau
của những người bị áp bức đứng lên làm cách mạng. Nơi đó, Bác đã gieo mầm sống và thắp
lên ngọn lửa soi sáng hang tối rộng thênh thang, soi sáng xã hội Việt Nam nô lệ và tối tăm để
khỏe và ngoan. Mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khỏe. Về việc này
chúng ta có những gương mẫu như cụ Lê Thị Hoan (Bác nhắc đến tên tôi). Cụ Hoan đã có
công giáo dục mấy chục cháu xấu trở thành những cháu tốt. Nếu tất cả chị em phụ nữ ta đều
cố gắng làm được như cụ Hoan thì chắc rằng con cháu của chúng ta đều sẽ ngoan và tốt.
Hội trường hướng về phía tôi vỗ tay ầm vang. Lúc này tôi lúng túng quá, chẳng biết làm
gì. Tôi cúi mặt xuống, không dám ngẩng lên. Bác lại căn dặn các cấp Đảng bộ, chính quyền
cần thiết thực giúp đỡ phong trào 5 tốt không ngừng tiến lên, để phụ nữ được đóng góp nhièu
cho cuộc chống Mỹ cứu nước.
Sau cùng với giọng nói đầm ấm, Bác vui vẻ hỏi:
Già như cụ Hoan, sao cụ Hoan làm được? Tại sao các cô chưa làm được? Thế các cô có
làm không?
Mọi người đều đáp:
- Có ạ? Bác lại hỏi:
- Bao giờ làm?